
Đây là một tác phẩm quan trọng của Du Tử Lê trên chặng cuối
hành trình nhân thế, biểu hiện sự việc chịu ảnh hưởng của ba dòng tư tưởng truyền
thống văn hóa Việt: Khổng-lão-Phật, thêm quan niệm tự do nhân bản du nhập từ
Tây Phương. Tâm trạng này bàng bạc trong trong sáng tác của Du Tử Lê từ đầu tới
nay, như: “…Xa người như xa một quê
hương.” (“Đời mãi ở phương đông,” 1974). “…Trong đời sống ẩn tàng muôn kiếp khác / đôi khi ta quên gọi chính ta về.”
(“Ở chỗ nhân gian không thể hiểu,” 1988). Hay “..Ngày bôi xóa cũng không là đứt đoạn / biệt ly kia, em ạ: để quay về.”
(“Tùy bút Du Tử Lê 2011). (1).
Bây giờ trong hoàng hôn của đời người, Du Tử Lê không thể
không thực hiện một trong những bổn phận chót của kẻ sĩ: Ơn trả và nghĩa đền.
Nhưng đi xa hơn định nghĩa cổ điển của Khổng giáo, thi sĩ đã áp dụng rộng rãi
cho bằng hữu và cho tình yêu! (Phát kiến “Ơn
em” từ quan niệm “ái ân” ngàn xưa tự hạn chế sử dụng vì tính cách riêng tư,
được Du Tử Lê khai triển trong thơ và phổ biến qua ca nhạc đã ảnh hưởng sâu rộng
trong giới trẻ).
Ngoài ra Du Tử Lê thường băn khoăn về những điều không thể
hiểu như lẽ sống chết, những thống khổ, những tai ách của nhân sinh…Rồi gần
đây, ông cảm nghiệm mạnh mẽ phương thức “tương
thông” giữa người sống và người chết, thường với dẫn dụ khuyến khích của
các hiện tượng thiên nhiên, mưa gió, bão tuyết, cây cỏ, rừng rú, chim muông,
côn trùng…mà tôi gọi là suy nghiệm siêu hình, nhái theo đề mục “Băn khoăn siêu hình” của giáo sư Hữu Ngọc,
một thẩm quyền đương thời về sưu khảo văn hóa Việt Nam.
Trước khi đi vào nội dung Tùy Bút Du Tử Lê 2011 (TB/DTL/2011),
tôi xin giới thiệu cuốn sách này với trình bày trang nhã, đặc biệt, bìa trước
in một họa phẩm của chính Du Tử Lê. (Độc giả muốn có một ý niệm về Du Tử Lê – họa
sĩ xin tìm đọc bài Đặng Phú Phong: “Du Tử
Lê, màu xanh vàng phai” có in kèm một số tranh mầu tiêu biểu. Hoặc thưởng
lãm bức tranh “Chẳng gió nào thổi nữa” in
nơi bìa trước tạp chí Hợp Lưu, số 115).
Với hành văn của tác giả mỗi ngày càng nhuần nhuyễn hơn,
truyền cảm càng sâu đậm hơn do ở nghệ thuật tạo chữ, tạo hình và nhất là truyền
đạt tâm tư trong lãnh vực siêu hình, giữa người sống và bằng hữu đã ra đi, hoặc
chỉ mới xa cách nhưng thuộc loại “Chúng
ta cùng một thuyền / trôi lần vào bóng tối.”
Tập tùy bút “Trên
ngọn tình sầu” gồm 8 bài. Tùy bút đầu tiên viết về thảm kịch xẩy tới ba gia
đình còn sót lại sau biến cố 30 tháng 4-1975. Tùy bút 2 đề cập tới ơn nghĩa với
người phối ngẫu. Từ tùy bút 3 tới 7, hầu hết nói về tình bằng hữu, những hồi ức
vô cùng cảm động, đặc biệt suy nghiệm siêu hình ở tùy bút 3 “Thả nốt vầng trăng xuống đáy vườn” và 5 “Biệt ly kia, em ạ: để quay về.” Riêng
bài chót “Trên ngọn tình sầu,” là một
thứ tiếng kêu (không thành tiếng) đứt ruột, triền miên suốt đời, của một “vũ trụ tuyệt cùng một xót xa!” (Thơ
LVN). Vì hạn định của số trang, tôi sẽ chỉ nói tới các bài 1 2, 3, 5 và 8.
Với tôi, tùy bút đầu tiên là một tiếng chuông cảnh tỉnh
và nhắc nhở chúng ta đừng quên tang thương đổi đời của đất nước với thảm kịch xẩy
đến 3 gia đình còn kẹt lại sau 1975 (tượng trưng cho hàng ngàn vạn thảm kịch
tương tự khác).
Thảm kịch 1 : Hình ảnh một thiếu nữ vừa chớm thanh xuân
xõa tóc, thùng thình trong bộ đại lễ trắng của cha, như khởi đầu một lễ tấn
phong, hay lễ tế sống cha trong trại tù cải tạo. Thảm kịch 2: Một chủ gia đình
có nuôi thêm 2 em trai vừa đến tuổi trưởng thành, một hôm buồn chán với cuộc đời
ăn nhờ sống bám, uống rượu say đập phá lung tung. Khi bị anh rầy la, hai em như
mất trí nổi điên dùng gậy, ghế đánh những đòn quyết liệt cho tới khi người anh
tắt thở! Thảm kịch 3, liên quan tới một cựu tù cải tạo sau hơn 10 năm tù trở về,
đạp xích lô sống qua ngày. Nhưng rồi vì sức yếu, nghĩ tới đổi nghề, viết thư
cho vợ vượt biên thành công cùng với mấy con, xin giúp đỡ ít tiền để làm lại cuộc
đời. Khi không được vợ đáp ứng, anh đành phải cộng tác với đương quyền dưới sự
ghẻ lạnh và khinh khi của bạn bè thân sơ trước đây.
Qua 3 hình ảnh buồn thương trên, tôi ngao ngán nhớ tới mấy
vần thơ trong “Lưu vong khúc” (1990),
Du Tử Lê “thầm ganh tỵ’ với “kẻ chết rồi”: “…Đi giữa đường tên về mũi đạn / sống tới bây giờ cũng tốt thôi / Chiều
hôm nhớ bạn thầm ganh tỵ / May mắn làm sao kẻ chết rồi!...”
Tùy bút kế tiếp “Thư
viết từ Garden Grove City.” Nội dung cho ta đoán được người viết tỏ lòng
thâm tạ ơn nghĩa người vợ đã dành cho ông nhất là “…Không biết có phải bắt nguồn từ ấu thơ anh đã xa (quá xa) và, cảm nhận
‘tử quy / chết về’ vốn thường trực trong anh hay không mà, gần đây, anh rất
thích, được ôm H. (…) Hôm nay, nhìn lại, anh thấy những năm, tháng đó, thương
yêu chỉ chiếm một thị phần quá nhỏ. Thậm chí, vắng mặt!” (TB/DTL/2011, tr.
31, 32).
Không thể có một tự thú nào chân phương hơn và cũng không
có lời thơ văn nào có tác dụng mỹ mãn hơn hai tiếng “Thương lắm!” ông hằng thốt lên với vợ, kể cả khi người thương này
đang ngủ!
Tùy bút thứ ba “Thả
nốt vầng trăng xuống đáy vườn,” ngay nơi mấy dòng đầu khi kể việc trở lại
thăm viếng nhà một bạn thiết tại Faifax, Du Tử Lê đã đề cập tới lẽ sống chết và
những ảnh hưởng của vĩnh viễn chia ly này, mà tôi mệnh danh là những suy nghiệm
siêu hình. Hãy đọc: “…Dù tôi tin lịch sử
đã bắt đầu từ mối tương thông giữa kẻ sống và, người chết.( Mà), cây cỏ là nhân
chứng thứ nhất. Nhưng chẳng vì thế, tôi lạc quan cho rằng, bầy dơi đêm đêm chao
chát, hư huyễn, lênh đênh nỗi buồn trên đỉnh ngọn maples nơi vườn sau ngôi nhà
bạn tôi là tác nhân chính. Vẫy gọi tôi về.” (TB/2011?DTL, tr. 41, 42).
Qua toàn bài, ta thấy Du Tử Lê tin suy nghiệm này vì “lịch sử đã bắt đầu.” Lịch sử nào? Đó
chính là lịch trình tiến hóa của sự sống, bắt đầu từ cây, cỏ muông chim, côn
trùng, động vật, loài người. Tiến trình sinh hóa này đã được khoa học chứng
minh và Du Tử Lê ung dung đi vào lãnh vực siêu hình với ngòi bút đầy sáng tạo
nên thơ.
Mặc dù, tác giả đã khép lại hiện tượng tương thông trong
một câu hỏi, theo tôi, đã vượt qua ý niệm ngậm ngùi để trở nên ai oán:
“Trước và sau chúng tôi, ai đã / sẽ là
người đến ở với cánh rừng nọ?”
Tùy bút 5, “Biệt,
ly kia, em ạ: để quay về” - Để được đoàn tụ với nhau như một an ủi sau cả một
kiếp người chờ đợi! Vì sự đoàn tụ hiện thời, vì người yêu thánh thiện đầu đời
Du Tử Lê mới mất, phải nhờ tới suy nghiệm “hiệp thông” giữa bên này và bên kia
thế giới. Hoặc giả Du Tử Lê có thể đi xa hơn trong suy nghiệm siêu hình như ông
từng viết: “…Họ đã đi quá xa. Họ cũng đã
tới những chân trời định mệnh dành riêng. (Những chân trời đôi khi tôi cũng mơ
ước tạt ngang, dừng chân, thăm hỏi)…” (2)
Trong phần đầu của tùy bút 5 vừa kể, băn khoăn siêu hình
của Du Tử Lê rõ rệt với những bài học của mưa. Những cặp nhị nguyên còn / mất,
thành / bại, niết bàn / địa ngục… Cuối bài, Du Tử Lê dành cho hồi ức chờ được
thấy mặt Huyền Châu mỗi đêm từ Quán Biên Thùy, chợ Cầu Ông Lãnh, nhìn chếch
sang nhà người yêu bên kia đường, một chờ đợi kéo dài hão huyền trong nhiều
đêm. Kế đó là bài thơ “Thương mẹ đã lưng
đồi” được Du Tử Lê nhắc lại: “Tôi đi
trên đường gai / dù Chúa không hề trải / thương mẹ đã lưng đồi / còn nghe rừng
hú mãi!” Và cho biết trong bài có linh hồn người thứ hai của người yêu Bến
Chương Dương! Như một sắp xếp do linh cảm, sự nhắc nhở linh hồn thứ hai trong
bài thơ đã vô hình chung làm một chuyển tiếp tới tùy bút chót: “Trên ngọn tình sầu.”
Sau khi đọc lần thứ ba tùy bút này, một thiên tình sử gần
như “không tiền khoáng hậu,” tôi có một đề nghị với các bạn yêu thơ văn Du Tử
Lê hãy chịu khó đọc kỹ bài này để thấy phản ứng đau thương tột độ của tác gỉa
khi hay tin Huyền Châu, người tình đầu thánh thiện đã ra đi vĩnh viễn. Thoạt
tiên là trạng thái nửa mê nửa tỉnh. Rồi bật khóc tức tưởi. Tác giả ghi nhận, không
gian, thời gian, vũ trụ, nhân quần, khổ đau, xa cách, tội lỗi, ân hận, luôn cả
Huyền Châu và Du Tử Lê đều tan loãng trong mầu trắng vô nghĩa của hư không! Rồi
từ bất cứ một cọng cỏ, cành xanh nào, Du Tử Lê cũng cảm thấy thấp thoáng hình ảnh,
linh hồn Huyền Châu. Cũng như lẫn ẩn trong tiếng chim hót, có cả tiếng thở dài
của Huyền Châu nữa.
Đã từ lâu tôi thắc mắc về 4
câu thơ “…tìm tôi đèn thắp hai hàng / lạc
nhau cuối phố sương quàng cổ cây / ngỡ hồn tu xứ mưa bay / tôi chiêng trống gọi
mỗi ngày mỗi xa…” trong bài “Đêm, nhớ trăng Saigon” Du Tử Lê sáng tác năm 1978, khi mới định cư
tại Mỹ. Bài thơ rõ ràng không có câu nào liên hệ tới Huyền Châu. Một vài thức
giả cho 4 câu thơ ở ngay phần đầu bài thơ là tối nghĩa, khó hiểu. Tôi được biết
Du Tử Lê có một ân hận lỗi hẹn gặp Huyền Châu vào một ngày gần chót của mất
Saigon. Cũng tác giả cho tôi biết, Huyền Châu sau cuộc tình bị gia đình phản
đối đã quyết định ở vậy không lập gia đình.
Từ đó tìm hiểu 4 câu thơ trên theo phân tâm học của C.
Jung, tôi thấy tác giả đã dồn nén lòng ân hận và tội nghiệp của mình cùng người
thương từ sau 1963 tới 1978. Cuối cùng ý thức nóng bỏng đã thắng vô thức và
chúng ta có hình ảnh của đôi tình nhân “lạc nhau cuối phố…” Với một người đau
buồn chọn con đường tu hành…Nhưng vẫn có những giây phút muốn mượn chiêng, trống
để tìm gọi nhau… Tuy nhiên, cả hai đều chỉ còn có thể gặp nhau trong mộng. (3)
Giải thích về 4 câu thơ kể trên của tôi, có thể đúng hay
sai, nhưng tôi vẫn coi như một chia buồn với tác giả và như một vòng hoa viếng
muộn cho linh hồn bất tử của Huyền Châu trong thơ văn Du Tử Lê suốt nửa thế kỷ.
Lê Vương Ngọc.
-------------------------------------------------------------------------------------
(1) Tập tùy bút nhan đề “Trên Ngọn Tình Sầu” của Du Tử Lê, do HT Productions, California, xuất
bản tháng 10 năm 2011. Ấn phí 15 Mỹ kim. Tự Lực tổng phát hành: buybooks@tuluc.com. Bạn đọc cũng có thể
liên lạc qua địa chỉ hanhtuyen@hotmail.com,
nếu muốn có chữ ký tác giả.
(2): Trích Du Tử Lê, tùy bút “Giữ đời cho nhau,” trang 12. H.T. Productions, California, xuất bản,
2010. Tự Lực tổng phát hành, 2010.
(3): Về những hình ảnh “đốt nến,” “chiêng trống gọi…” xin
tìm đọc hệ phái Phú Lục, một biến thiên của đạo Lão.