Thơ Du Tử Lê là một sợi giây nối dài từ Việt Nam, quê hương yêu mến
qua nước Mỹ, mảnh đất tạm dung. Nói đến thơ Du Tử Lê là nói đến khám
phá, trong mỗi từ, mỗi ý.
Khen hay chê đã vượt khỏi mức của một tài hoa phong phú, trong một con người đa dạng.
Những vần Lục bát hoặc những câu thơ Tự do từ năm 1960, nó không còn ở
ngoài chúng ta nữa. Đích thực nó đã thẩm thấu vào tâm hồn chúng ta rồi
vượt thoát, nó lang thang bay bổng như mây trời trên cao, theo gió phiêu
du về những chân trời mới trong lòng vũ trụ.
Tôi đã đọc thơ của Lê nhiều, thật nhiều,nhưng thơ của Lê đã bỏ xa thơ
Lê những năm về trước, để khoan thai bước vào một tòa lâu dài uy nghi
và tráng lệ, ở đấy đã có những khát vọng và ngưỡng mộ chào đón. Không
một ai có thể đoán trước được những dài rộng của những kẻ có thực tài
và có một tâm hồn hiến dâng cho cuộc đời những giá trị hằng cửu của từng
dòng thơ rớt xuống tự trời cao.
Thơ của Du Tử Lê hôm nay như con chim đại bàng đang soải cánh đo
không gian và đo cả chiều dài của thơ mình trong lòng những người mến mộ
Du Tử Lê.
Nhưng muốn được như vậy không phải dễ, một sớm, một chiều ta có thể
tóm bắt được những gì ta hằng mơ ước. Nó phải phấn đấu, phải tự vượt,
phải tự tra khảo mình để tìm kiếm chất liệu của thơ đang bay lượn, ẩn ấp
đâu đó, để hiến dâng cuộc đời, chẳng mong được sự trả ơn, mà chỉ mong
người đời hiểu được những ý nghĩ thầm kín ấp ủ sau hàng chữ làm nên vần
điệu siêu thoát. Hai chữ thi nhân nó là cái nghiệp, chẳng phải ai muốn
cũng được. Chỉ có những người mà định mệnh bắt phải kết duyên với nàng
Thơ, mới có được cái ân sủng đó thôi!
Làm thơ không khó, nhưng làm thơ hay quá khó. Nó không phải là sự lựa
lời chọn chữ để ghép câu, hoặc tự do phóng túng bày tỏ những gì mình
muốn nói, muốn bày tỏ cùng kẻ khác cái tâm sự đa đoan phơi bày trên lòng
giấy trắng. Không, thơ không như vậy. Mallarmé, nhà thơ Pháp ở cuối thế
kỷ 18, thuộc phái Tượng Trưng nói: Làm thơ là sự kết hợp giữa trí tuệ
và ngôn ngữ. Chữ nào được tôi dùng trong thơ, trước hết, chữ đó phải có
tính chất Thơ. Ai đọc thơ của Mallarmé cũng kêu khó hiểu, nhà thơ cho
rằng thơ của mình không khó hiểu, chỉ tại quý vị yêu thơ, đọc thơ ít
chịu suy nghĩ để tìm hiểu đấy thôi! Cũng như Appollinaire đã chuyển
hướng thơ của mình từ phái Tượng Trưng qua trường Siêu Thực
(Surréalisme) do tiến bộ đòi hỏi. Nhưng xét cho cùng, dù thơ thuộc loại
nào, trường phái nào đi nữa, trước hết thơ phải có tính truyền cảm và
gợi lên ở trong trí tưởng những hình ảnh mà cuộc đời đã in dấu vào hồn
mình, không cách gì chối bỏ! Mình phơi bày trên giấy trắng với ngòi bút
những ăn năn cùng những nỗi ám ảnh không sao xóa bỏ trong lòng!
Nói cho đúng thơ Du Tử Lê không quá khó hiểu và cũng chẳng dễ dàng
tiếp nhận. Muốn tiếp nhận những vần thơ làm theo thể tự do, người đọc
phải kiên nhẫn gỡ từng mối chỉ rối, vì cố ý, người thơ đã trộn lẫn vào
nhau để tìm sự hòa hợp cho ý nghĩ. Một khi mối chỉ đã gỡ xong, người đọc
thơ cũng đã góp phần vào công việc sáng tạo.
Từ vạn cổ, người làm thơ luôn luôn cô đơn, mình làm thơ cho người
khác đọc, tiếc thay, phần đông những người đọc thơ chỉ muốn đọc những gì
mình có thể nhận biết ngay sau khi đọc, còn chiều sâu của thi ca là vấn
đề của tác giả hoặc các nhà phê bình văn Học! Như vậy thiệt thòi qúa,
thiệt thòi cho cả người làm thơ lẫn người yêu thơ. Thi sĩ làm thơ chẳng
để ngâm nga một mình cho vui miệng. Không, không phải như vậy. Chính
thực thi nhân phải mở trái tim mình ra để cho nguồn cảm thức rung động
theo nhịp trái tim làm nên những vần điệu dù mơ hồ bóng gió, hay tỏ bày
trực tiếp những nỗi niềm dù nhẹ nhàng hay cay đắng, nó là tinh túy của
chất thơ tạo bằng sự thành thực nhất, sự dũng cảm nhất mà thi nhân có
thể có được.
Thơ
Du Tử Lê hôm nay, một mình một cõi,không chịu ảnh hưởng của ai. Nó như
ngọn núi sừng sững giữa trời cao, gió cả, mặc cho mưa gió, bão tố dập
vùi.
Thơ Du Tử Lê thật đáng yêu, nhất là ở những bài thơ tình. Cái tình
yêu ấy không đơn thuần giữa đôi nam, nữ vừa bắt gặp đã quấn quýt hay đã
đứt đoạn, chia lìa. Biệt ly nào mà chẳng buồn... Định mệnh đã bắt như
vậy, Những kẻ yêu nhau phải cúi đầu chịu tội. Du Tử Lê lại có qúa nhiều
duyên nợ với tình, mà cuộc tình nào trước sau gì cũng phải trả nợ bằng
nước mắt, nó làm cho cuộc đời của thi nhân biến thành bi kịch. Nhưng Lê
là con người gan lì, chẳng bao giờ chịu bỏ cuộc chơi. Tuy thế, Lê vẫn
yêu quê hương với lũy tre, bụi chuối, yêu tiếng khóc, câu cuời của mẹ
già, nơi chốn cũ, nơi Lê thường lui tới tìm về kỷ niệm:
lòng già sớm bạc cơn mong
sáng, vun chân mộ, chiều, trông nhang tàn
mẹ ngồi một cõi chia tan
óc moi xác những đứa con đã vùi
lưng đeo đá nặng một đời
bảy mươi năm đó còn hoài giọt, sương...
(Đêm mưa về Chí Hòa Thăm Mẹ, trích Thơ Du Tử Lê 1967-1972, tái bản tại Hoa kỳ, 1983.)
Nhưng tình mẫu tử với Du Tử Lê cũng như một thoáng qua, nó có đó rồi
tan đi như cây nhang đã cháy hết phần của nó, vì Lê còn nhiều nhớ thương
khác.
Những chuyện tình luôn luôn làm xáo trộn đời Lê. Nhưng Lê không có
can đảm từ chối..., trừ trường hợp đặc biệt đối với Donna, một cô gái Mỹ
rằng, không bao giờ Lê quên, hoặc rời bỏ Việt Nam bất cứ vì lý do nào:
không bao giờ đâu Donna
dù anh có yêu em
hơn bất cứ thứ gì có trên đất Mỹ
thì anh cũng vẫn trở về
quê hương anh với cả trăm ngàn khốn khó
nơi anh sống chui rúc như chuột
trong một căn nhà tôn vách ván
nơi người yêu anh đang từng giây mong đợi
(nàng cũng có một mái tóc dài thả xõa như em
nàng cũng có đôi mắt mở to sáng trong nhẫn nhục
tất nhiên tóc và mắt của nàng thì đen)
không bao giờ đâu Donna, Donna
dù anh có yêu em...
(Vỡ Lòng Cho Một Người Con Gái Mỹ, sđd...)
Như
vậy, Du Tử Lê đã chấp nhận tất cả mọi khổ đau, Lê từ chối mọi ân tình
ngoài ân tình với quê nghèo đói và đôi mắt với dòng tóc đen. Có lẽ nó là
ý muốn cuối của một người Việt Nam yêu quê hương, bằng lòng từ bỏ mọi ân sủng do cuộc đời ban phát!
Bài thơ "Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển", theo thiển ý, bài này có
một giá trị nghệ thuật không thua gì bài thơ "Chờ Anh Em Nhé" của Simonov,
Nhà thơ Nga, làm trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến, do Tố Hữu dịch. Đại ý
bài thơ nói với người tình (hay vợ) hãy cố khắc phục gian khổ, khó khăn,
đợi anh về, sau khi chiến thắng quân thù! Một đằng, dù thân xác lưu
vong này chẳng may có chết nơi đất lạ, quê người, thì xin hãy đưa xác
tôi ra biển, vì biết đâu nước biển chẳng đưa đẩy xác tôi trở lại quê
nhà:
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi sao trở lại quê nhà
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác tôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
những năm trước bao người ngon miệng cá
thì xá gì thêm một xác cong queo
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
cho tôi về gặp lại các con tôi
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
từ những mắt đã buồn hơn bóng tối
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
ôi lâu quá không còn ai hát nữa
(bài hát giờ cũng như một hồn ma)
khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn.
12.77
(Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển, Trích Thơ Tình / Love Poems, in lần thứ 4.)
Những câu thơ trên vừa buồn vừa đau đớn, nhưng may thay, đây chỉ là thơ, là tâm hồn bay bổng trên vùng trời sáng tạo.
Không hiểu sao tôi không chấp nhận được những bài thơ phổ nhạc, dù có
nhiều bài thơ phổ nhạc rất hay. Có lẽ, tôi thường nghĩ thơ là thơ, nhạc
là nhạc. Nếu không thế người làm thơ chỉ là kẻ viết lời cho nhạc. Thơ
và nhạc là hai ngành riêng biệt. Thơ làm ra để bày tỏ những thiết tha
chất ngất, những nỗi niềm không giải tỏa, những vết chém từ lưỡi dao
bén, ngọt như hương vị của tình yêu, những đam mê đến chết không rời...
Đó, đó là Thơ với ý nghĩa trọn vẹn nhất. Một khi thơ đã được hát lên
rồi, cái chất thơ đã mất đi phần tinh túy của nó. Nó như một người ái
nam, ái nữ, chả ra làm sao. Hỡi! ai đó hãy chứng minh dùm tôi có một bài
thơ nào được phổ nhạc, còn nguyên vẹn tính chất thơ hay không? Hay nó
biến bài thơ thành lời của bản nhạc? Bài thơ sẽ mất đi cái hay riêng của
nó, và trở thành nô lệ cho cung bậc dù qua tiếng hát của ca sĩ thượng
thặng đi nữa. Thơ có cái hay của thơ. Nhạc có cái hay của nhạc. Thơ để
đọc, để suy gẫm về lời và ý thơ, chứ không phải để nghe tiếng đàn, tiếng
sáo cùng các nhạc khí làm mất hết cái uy thế của thơ, thơ chỉ còn là
phần phụ, phần chính là nhạc. Sự thực cả hai đều là chính, nếu ta đừng
giao duyên chúng với nhau.
Ngay như bài "Khúc Thụy Du," một bài thơ rất hay của Du Tử Lê, khi nó
được phổ nhạc, thì kỹ thuật âm nhạc đã nắm giữ phần chính, thơ chỉ còn
là phần lời hát.
Cũng như hội họa, tác phẩm là tác phẩm, minh họa là minh họa, vì nó
có 2 phần kỹ thuật khác nhau. Người ta không thể xử dụng thay thế cái nọ
cho cái kia được.
Xin cám ơn Du Tử Lê đã cho tôi những rung động sâu thẳm, qua những
vần thơ, đã cho tôi được cùng sáng tạo, qua những slash!... Tuy vậy,
cũng khó lắm lắm!...
Tạ Tỵ.
(Tuần báo Đời Nay, Hoa Thịnh Đốn, ngày 1 tháng 5 – 1997)