
‘viết không khác
người ta thì đừng viết’
(Dương Tường)
Ra khỏi cổng trường
Quốc Học 1963 thì tôi biết đến Du Tử Lê. Nhà thơ đến
với tôi như một thỏa hiệp,
một chất liệu sáng tạo đã đánh động trái tim tôi.
Một cái mốc thời đại mới, một cái
gì vững tin, mạnh dạn đã tìm thấy giữa muôn ngàn lẫn
lộn vàng thau của những trào lưu,
trường phái hay hiến chương từ Tây sang Đông; có thể
đó là một sự bình tâm cho một tâm
hồn vượt thoát, có thể đó là một phản kháng nội
tại do từ những nguyên nhân khác mà
ra, đất phương Nam cho họ gieo hạt, nẩy mầm, phát tiết,
nói theo kiểu của F. Nietzsche:
’bi thảm của sinh tồn/the birth of tragedy’ giữa một xã
hội ngổn ngang, gò đống của
hai miền đất nước.
Trăm hoa đua nở vào
thời đó, họ gặp nhau như hội trùng dương ‘trên ngọn
tình sầu’. Du Tử Lê đứng giữa một khung trời khác
biệt, để đi vào một ngôn ngữ thẩm mỹ thơ, chất
chứa một cái gì sâu lắng, trầm tư (zen), đượm một
triết lý nhân sinh vốn đã nằm nôi trong tay mẹ, để
rồi ra đi như kẻ du tử giữa phong ba; du tử là một
đánh đổi và rồi chấp nhận bằng một sự bi thương
của cuộc đời... nhà thơ trở nên độc lập và tư duy
ở một cõi riêng như định vị vai trò và chức năng của
một thi nhân đối diện với thực tại. Con đường Du Tử
Lê đi không vin vào sự thế mà vin vào thơ để nói lên
sự thế.
Tôi rung động trước
một dòng thơ như thế. Cái ’hoang/wild’ của tôi trong
đó, thời của Thanh Tâm Tuyền và Du Tử Lê: -một trường
phái lãng mạn thơ mới của văn chương Việt Nam- một
cái gì mới như một cuộc cách mạng tư tưởng và có
một ít chất của, A. Robbe-Grillet đã dựng nên. Du Tử Lê
thắp lên ngọn đuốc để đi vào ’rừng đen/dark
forrest’ như soi rọi, như canh tân trường phái, một kiểu
thức của ’tân hình thức’; có lẽ Du Tử Lê là kẻ
tiên phong avant-garde của new-formalism-poetry mà chưa một
lần nói đến, đến bây giờ thì nó trở thành
hậu-tân-hình-thức (post-newformalism). Nhận định nầy có
thể làm hư hại khuôn phép thẩm mỹ của văn chương;
nhưng ở đây chỉ định lượng một giá trị của ngôn
ngữ thơ, lời thơ tức linh hồn thơ là những khoảnh
khắc thức tỉnh đời sống, cho nên chi đối với Du Tử
Lê xử dụng ngôn ngữ để làm phương tiện cho thơ chớ
thơ không phải là phương tiện của ngôn ngữ.
Đó là lý do nhà thơ
’chơi chữ’ mà một thời cho là ’mode’ hay lập dị
để tạo cái khác biệt riêng mình; nếu đứng góc cạnh
đó để nhìn thì hoàn toàn khác ý của thơ. Những
chấm(...) hoặc một chấm (.)
hoặc phẩy(,) hoặc chấm phết(;) giữa câu thơ, những
nhát chém (slash) thoạt nhìn hay
đọc đưa tri giác vào một cảm thức xa lạ, nhưng đó
là một biệt lập tự chủ giữa khách
thể và tha thể, đưa trạng thái thơ vào trạng thái bí
truyền của thể loại thơ không vần nhưng
vẫn giữ được vần điệu (rhythm và tone), không những
mang nặng tính nghệ thuật trình
diễn (performance art) mà còn trở thành nghệ thuật sắp
đặt (installation art) đó là
một thứ nghệ thuật của người làm thơ. Du Tử Lê nằm
ở vị trí ấy.
Du Tử Lê cho những
’chữ thơ’ nhảy sang hàng là dụng ý mô tả, chớ
không phải ’chơi chữ’ như một số
người trước đây đã nghĩ (trường hợp của Nguyễn Vỹ
chẳng hạn). Theo tư duy tôi: Du Tử Lê mở ra một con
đường ngược chiều với thơ tiền chiến, phá vỡ những vần điệu ’ểnh
ương’ cổ điển, một thông lệ truyền thống làm cho
thơ bị đình trệ mà không khai phá cái
mới. Thâm tâm nhà thơ Du Tử Lê mong muốn điều nầy;
tôi nghĩ vậy. Thi sĩ xuất thần
trong tiết điệu tự do để rồi trở thành ’nhạc thơ’
chớ đừng hiểu là phổ thơ thành nhạc
như nhiều bài thơ đã đi vào hoạt cảnh nầy. Thậm chí
có những nhạc sĩ cắt xén nguyên bản
những câu thơ hay của nhà thơ để làm vừa lòng ý nhạc.
Trong tâm trạng thúc đẩy
tự chính mình để tìm cho mình một sự vượt thoát sáng
tạo. Một: ’sáng tạo
trong tinh thần đừng để mất mình, cái tôi hôm nay phải
hơn cái tôi hôm qua và kém cái tôi
ngày mai’(Nietzsche) bởi trong thơ Du Tử Lê đã cho ta tìm
thấy được 2 yếu tố quan
trọng ’CHỮ’ và ’ÂM’. Chữ và âm là trọng tâm
chính cho thơ. Du Tử Lê xử dụng tài
tình chất liệu nầy. Du Tử Lê lấy thơ để nói một
cái gì trong đó – a poem should not mean but
be, nhưng là hiện hữu. có những câu thơ đưa ta về ‘vô
dư’ nhà Phật. Rốt ráo
trong chiều sâu thơ Du Tử Lê không có Thăng và Trầm, bởi
tâm thức nhà thơ, lúc ấy; là
’tâm bình đẳng’. Cho nên thơ của Du thi sĩ trở nên
thanh thoát, diệu vợi (enlightenment). Rải
rác khắp nơi từ khi khởi làm thơ cho tới những tháng
ngày cuối đời, Du Tử Lê
chủ trương thơ chỉ cần ngữ thuật (jeu du langage) hơn
là ý nghĩa, có những câu thơ đứt
ngang làm cho câu thơ trở nên ’nonsence’ nhưng cái vô
nghĩa có duyên kỳ lạ.Thơ Du
Tử Lê vững chắc, đông cứng, đậm đặc, cụ thể
(concrete poetry) là thế. Một cách riêng
của Du Tử Lê không thể ’thuộc điạ’ dễ dàng. Hay ở
chỗ đó! đến nổi sau khi thâm nhập và
ngộ được một câu thơ hay, bài thơ hay của Du Tử Lê,
tôi phải ’thốt’ bằng
lời lẽ của E. Kant: ’pourquoi vert l’éternité’ cũng
chẳng khác gì lời phẩn nộ J. Pollock khi
nhìn tranh của P. Picasso kinh hoàng mà thốt lên cái chữ
phàm tục nầy: ’fuck!’.
Một cái ’Đi-Em’ thỏa chí tang bồng hồ thỉ. Cảm
nhận được nghệ thuật là ở chỗ đó! Và đó
cũng một đòi hỏi cho người đọc thơ hay ca ngâm thơ Du
Tử Lê. Đều chung một cảm thức
siêu thoát; đừng đi xa quá mà lạc đường thơ, nhất là
thơ Du Tử Lê.
Nói đến con người
và thơ Du Tử Lê chúng ta không cần dẫn chứng hay bình
giải hoặc so sánh Du Tử Lê với
những nhà thơ lừng danh xưa nay, trong và ngoài nước, ví
Du Tử Lê nầy nọ, trích dẫn
những hoạt đầu như thế là một thẩm định không nói
lên cái siêu lý của thơ, ngược
lại làm hư hại một thiên tài chữ nghĩa thơ văn vốn
đã nảy sinh giữa kỷ nguyên nầy(epic)
và càng làm thế vô hình dung hạ thấp giá trị cho một
thi nhân. Tại sao? bởi quá nhiều lý
lẽ để bào chửa, quá nhiều cuốc xẻng để đào đục
(dù đào bới, ’bắt’ những cái hay trong
thơ) mà trong lúc khắp nơi trong và ngoài nước, trước
và sau chiến tranh đều đồng tình
và thừa nhận với Du Tử Lê. Du Tử Lê không buồn không
vui trước những lời thị phi,
ông mỉm cười không nói hay đó là bản chất tự tại
của nhà thơ (DTL). Đánh giá phải
hợp lý mới thấu suốt hồn thơ Du Tử Lê. Bởi cái chất
thơ Du Tử Lê không thể nói
suông (như mắm) không thể ngọt bùi (như vắt chanh) và
cũng không thể ngợi ca
(ẩu) như chứng nhân mà cần có con mắt thẩm mỹ quan
(aesthetics) mà thấy được ý và
hồn thơ Du Tử Lê. Theo quan điểm của tôi nó tiềm tàng
một chất triết lý trong đó ; vậy có cần dẫn chứng ở
đây? Không! bởi thơ có một cá tính siêu lý, siêu nhiên
vì thơ là cõi phi, tự tìm thấy trong thơ để rồi cảm
nhận, dẫn chứng là biện minh, buộc thơ đi vào ngả rẽ,
cái triết lý nhân sinh quan trong thơ Du Tử Lê là ý thức
(consciousness) hơn là dẫn chứng, tất cả đã dàn trải
hơn nữa thế kỷ qua, không cần một đòi hỏi nào khác,
không cần phê bình (dưới dạng phê bình văn học nghệ
thuật) khi mà mình chưa đạt tới; vậy ’criticize’ như
định mức cho một phủ nhận, điều ấy làm thương tổn
cho dòng thơ đi vào đời. Tư duy của Du Tử Lê là bản
anh hùng ca, thấm nhuần tình người và tình quê, tự nó
đã xuyên thủng những giáo điều giả tạo, cố công
tuyên truyền nhưng vẫn không hấp dẫn người nghe kể cả
giới bình dân, một thứ văn chương cho mọi giới; nếu
cảm nhận một cách sâu sắc. Du Tử Lê không cho mình đã
thành danh, dù ở tuổi thất thập, Du Tử Lê thành danh ở
quần chúng chớ không ở nơi mình; và đến nay Du Tử Lê
vẫn giữ hồn thơ cho tới khi nhịp tim không còn cảm
hóa. Khí tiết của một người làm thơ là ’thép đã
tôi thế đấy’. Du Tử Lê vẫn còn hít thở nguồn thơ
đó cho nhân gian dù hôm nay hay mai sau.
Du Tử Lê và Tôi : tôi
ở đây là một bản ngã tự tại, một cái ’self’
trong tôi, một cái ngã- mạn chưa đạt tới
để phải thốt: của Zarathustra, của Kant, của Pollock,
của Freud, của Sartre, của Warhol và
Basquiat...vì rằng ’tôi’chưa bao giờ ’tới’, chứ
’tôi’ không phải nói lên cái thân tình;
tôi là cảm phục khí phách. Cho nên chi Du Tử Lê và Tôi
gặp nhau bằng cảm thức
vô hình của người đồng cảnh, giữa hai chúng tôi có
một cái đau chung, đau thể xác và
linh hồn, một quằng quại của bi thương. Giữa chọn
lựa; chúng tôi chọn ’điều hai’.
Xin nhớ ’hai’ không phải ở cái phép nhị-nguyên(!),
trong cái chọn lựa nó đã có thuyết
nhị-nguyên mà Du Tử Lê đã trút vào dòng thơ bất tận
đó...từ bấy lâu nay.
Tôi gần gũi Du Tử Lê
từ khi đọc cái bút danh: ’Du Tử Lê’, cái danh xưng
nầy đến trước khi thơ Du Tử Lê nhập
vào hồn tôi. Từ đó tôi tìm thấy tôi một chất điên
đẹp (crazy- pretiness) như Van-Gogh
và làm cho tôi say đắm cho tới bây giờ một Du Tử Lê. Trở về hồn khí nhà
thơ sau bao nhiêu năm tầm-thơ, tri-thơ, thức-thơ. Tôi nhận
ra Du Tử Lê một kẻ ngoại
đạo có trí tuệ (wisdom) ông đã đưa vào thơ đủ màu
sắc của các tôn giáo với một cốt
tủy: NHƯ-NHIÊN; đấng tuyệt đối vô cùng, một cái gì
tinh túy của nhà thơ (poet on pith) là
nhập thể vào một khí thiên như thế mới thấy được
một Du Tử Lê. Và những lần về
quê, tôi đi vào cõi lặng để tìm lại cái hương xưa
ngày nào, tôi không tìm thấy những gì
còn lại mà chỉ nghe trong tôi: ’hạnh phúc tôi / hạnh
phúc tôi từ những ngày con nước về’
và những nhạc khúc đâu đó còn vang vọng bên tai như
lời ăn năn, an ủi tôi có một may
mắn giữa thế kỷ nầy bằng xương bằng thịt, có một
nhà thơ lớn của trước và sau chiến
tranh Việt Nam mà tôi đã chạm tới. Quê hương là người
đó!
VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.
vàothu 2012)