Từ trái qua: Tân, Du Tử Lê, Nguyễn Ngọc Bảo (Houston 10-2012)
Thưa
quý vị, có lẽ hầu hết quý vị còn nhớ, đúng 5 năm
về trước, hội Văn Hóa Khoa Học Việt Nam tổ chức một
chương trình thơ nhạc với chủ đề “Du Tử Lê, 50 Năm
Trên Ngọn Tình Sầu” để vinh danh nhà thơ đã đóng góp
một sự nghiệp thi ca đồ sộ cho văn học Việt Nam suốt
50 năm liên tục. Ngày hôm ấy, nhà thơ của chúng ta đang
vướng phải căn bệnh ung thư hiểm nghèo. Khi đứng trên
sân khấu giới thiệu anh, tôi đã nhắc đến tình trạng
sức khỏe anh và cầu chúc anh vượt qua được căn bệnh
để ở lại với chúng ta thêm hai mươi hay ba mươi năm
nữa. Và rồi, mọi chuyện đã xẩy ra như một phép lạ,
không những anh chiến thắng được căn bệnh, tiếp tục
viết lên những vần thơ trác tuyệt, mà còn, một cách
đầy dũng khí, vén tay áo lên thử sức với bộ môn nghệ
thuật mới: hội họa. Chỉ trong một năm trời, anh đã
hoàn tất cả trăm họa phẩm, đặc sắc đủ để các
họa sĩ thành danh phải tấm tắc lời khen và gật gù
thán phục. Xin một tràng vỗ tay để chúc mừng nhà thi
sĩ/họa sĩ của chúng ta.
Trong một lần
trò chuyện, nhà thơ Du Tử Lê. Xin lỗi quý vị, trong buổi
tối hôm nay chúng ta phải nói là “họa sĩ Du Tử Lê”
mới hợp cả lý lẫn tình. Vâng, trong một lần trò
chuyện, anh Du Tử Lê cho biết tranh của anh nghiêng về
trường phái Ấn tượng, tức Impressionism, và Trừu tượng,
tức Abstract. Tuy nhiên, theo tôi, những bức họa của anh
tuy có phần gần gũi với ấn tượng và trừu tượng
nhưng không hẳn thuộc những trường phái hội họa này.
Tranh của Du Tử Lê phải thuộc về trường phái Du Tử
Lê. Quý vị có đồng ý không?
Thưa quý vị, lần
đầu xem tranh Du Tử Lê dù chỉ qua hình ảnh, tôi đã
liên tưởng đến nhân vật Dương Qua trong tác phẩm Thần
Điêu Đại Hiệp của Kim Dung. Có lẽ quý vị đang tự
nhủ “Vớ vẩn, cao thủ võ lâm Dương Qua thì có liên hệ
gì đến thi sĩ kiêm họa sĩ Du Tử Lê?” Có đấy quý vị
ạ, Dương Qua là cao thủ đã sáng chế ra Ám Nhiên Tiêu
Hồn Chưởng, môn chưởng pháp thượng thặng lấy lấy
nội công làm gốc chứ không dùng cách biến hóa phức
tạp. Còn Du Tử Lê hôm nay sáng chế được trường phái
hội họa Du Tử Lê, cũng lấy nội công nghệ thuật rèn
luyện suốt 50 năm làm căn bản chứ không chú trọng vào
nét vẽ đa đoan. Đó là điểm tương đồng giữa Dương
Qua và Du Tử Lê. Ngày trước, Dương Qua thành danh vì Ám
Nhiên Tiêu Hồn Chưởng thì hôm nay, chắc chắn Du Tử Lê
sẽ thành danh vì hội họa trường phái Du Tử Lê. Quy vị
có tin lời tôi không?
Thánh Kinh bảo
“phúc cho ai chưa thấy mà tin.” Còn quý vị, quý vị đã
thưởng lãm tranh Du Tử Lê trong buổi triển lãm hôm nay
thì không tin không được.
Vâng, hãy ngắm
những bức tranh Du Tử Lê mà xem. Có lẽ quý vị cũng
đồng ý với tôi tranh Du Tử Lê là sự kết hợp của
những gam mầu tuy dịu dàng nhưng vô cùng linh động,
những đường nét tuy đơn giản nhưng đủ mạnh để
thúc đẩy trí óc ta phiêu bồng trong sự tưởng tượng
phong phú của mình. Điểm đáng nói nhất ở tranh Du Tử
Lê là chất thơ bàng bạc trong tranh. Trong lãnh vực nghệ
thuật, người ta thường phổ thơ thành nhạc, hiếm ai
phổ thơ thành họa như Du Tử Lê đã thực hiện với
thơ, với họa của anh. Cũng vì vậy, hầu như tất cả
những bức tranh của Du Tử Lê đều có nhan đề được
đặt theo các câu thơ của chính anh, như bức tranh “Ta
Gieo Gặt Chính Ta” cũng là nhan đề của bài thơ cùng
tên “hãy cảm ơn khổ, đau, như điều em giữ lại.
hãy cảm ơn đời sau, như điều ta đã nói. ta gieo, gặt
chính ta: tự cánh đồng nghiệp, ngã,” hay tranh “Chiều
Buồn Đôi Cọng Cỏ” lấy từ câu thơ “chiều buồn
đôi cọng cỏ, tôi buồn một sớm mai,” v.v. và v.v.
Từ ngàn xưa,
người ta đã quan niệm rằng hội họa và thi ca là hai
ngành nghệ thuật có tương quan mật thiết. Tuy nhiên, rất
ít họa sĩ thể hiện được mối tương quan này trong tác
phẩm mình. Chỉ những bậc tài hoa về cả thơ lẫn họa
mới đủ bản lãnh này, như Vương Duy ở thời nhà Đường,
tức khoảng thế kỷ thứ 8 sau Tây lịch. Vương Duy có
tên tự là Ma Cật, được người đời gọi là Thi
Phật, là một trong ba nhà thơ nổi tiếng cùng thời
với Lý Bạch, tức Thi Tiên, và Đỗ Phủ, tức Thi
Thánh. Ngoài tài Thơ, Vương Duy còn là một họa sĩ
nổi tiếng. Đến đời nhà Tống, một thi sĩ tài
danh khác là Tô Đông Pha nhận định về Vương Duy qua
những câu: “vị Ma Cật chi thi, thi trung hữu họa;
quan Ma Cật chi họa, họa trung hữu thi,” có nghĩa
là “thưởng thức thơ của Ma Cật, trong thơ có hoạ;
ngắm họa của Ma Cật, trong họa có thơ.” Hôm nay tôi
xin được mượn câu thơ này để tặng anh Du Tử Lê:
“vị Du Tử Lê chi thi, thi trung hữu họa; quan Du Tử
Lê chi họa, họa trung hữu thi.”
Xin cảm ơn anh đã
tặng cho đời một cõi thơ trong cõi họa thật tuyệt
vời, như Đặng Phú Phong đã nhận xét: “Bàng bạc
nhưng cuốn hút, xa xăm nhưng cận kế, gợi cảm,” và
như Đinh Cường đã bảo: “Bằng sự đắng cay hay
niềm hoan lạc của cả đời người, tranh Du Tử Lê là
một tiếng nói khác, nhưng ta vẫn dễ nhìn ra, cõi thơ và
cõi họa của ông là một. Một Đấng Tài Hoa.”
Và xin cảm tạ
sự theo dõi của quý vị.
Nguyễn
Ngọc Bảo