
Chuyện
kể, cuối thập niên (19)60, đầu thập niên (19)70, hai nhà
thơ tên tuổi từ Saigòn lên Đà Lạt công tác; nhân tiện,
tham dự một số sinh hoạt văn nghệ tại thành phố sương
mù nổi tiếng này.
Trong
những ngày sinh hoạt với giới trẻ ở Đà Lạt, tình cờ
họ được nghe và, chú ý tới dòng nhạc cũng như nghệ
thuật trình diễn nồng nàn của đôi song ca ở vùng đất
“Hoàng triều cương thổ” đó.
Điểm
đặc biệt, đôi song ca vừa kể, lại là một cặp vợ
chồng trẻ. Rất trẻ. Khi trình diễn, họ như một cặp
tình nhân đang ở đỉnh cao nhất của tình yêu đắm
đuối. Tựa không lâu, một sớm mai nào, họ sẽ mất
nhau.
Một
đặc điểm khác, cũng đáng kể không kém: Họ chỉ hát
những ca khúc do người chồng sáng tác.
Là
những những người vốn có chủ tâm phát hiện, trân quý
những tài năng mới ở lãnh vực văn học, nghệ thuật,
hai thi sĩ kia đã ngỏ lời mời cặp vợ-chồng-như-tình-nhân
về Saigòn. Đôi song ca đó, chính là cặp nghệ sĩ Lê
Uyên và Phương.
Những
người đầu tiên được hai thi sĩ giao trách nhiệm giới
thiệu họ với giới trẻ Saigon, thời điểm ấy, là một
trong những lãnh tụ sinh viên Đỗ Ngọc Yến, và nhà thơ
Đỗ Quý Toàn…
Khi
ấy, chiến tranh đã đem tai họa sắn sổ bước vào từng
thành phố, ở lại từng căn nhà. Trong bối cảnh này,
hiện tượng nhạc kêu đòi chấm dứt chiến tranh của
Trịnh Công Sơn, như một chất gây nghiện, bắt đầu lan
rộng cùng khắp miền Nam. Những người trẻ đô thị nắm
tay nhau, tràn ra đường phố. Họ cất cao tiếng hát trên
những đổ vỡ. Họ hát, như hát trên những xác người.
Hiện tượng đối kháng hay, hành vi chống xã hội một
cách vô thức của giới trẻ, là một phản ứng tự
nhiên, bình thường nơi những xã hội có tự do và dân
chủ.
Nhưng
dù vậy, cõi giới tân nhạc như một chất gây nghiện
bất ngờ của Trịnh Công Sơn, vẫn chỉ là một dòng
chảy, bên cạnh những dòng chảy tân nhạc khác, có mặt
trước đó. Nó vẫn tồn tại. Vẫn được đám đông yêu
thích từ nhiều năm, tháng trước. Nó trở thành một món
ăn tinh thần mà, người dân miền Nam không thể thiếu.
Đó là dòng chảy Tình Ca. Động mạch chủ, nhịp đập
chính của cơ thể bất cứ nền âm nhạc quốc gia, thời
đại nào.
Cách
khác, những hiện tượng, những phong trào âm nhạc, dù
đáp ứng được nhu cầu giai đoạn của thời đại,
chúng vẫn chỉ là những nhánh phụ, bên cạnh nguồn mạch
chính.
Nói
tới những nhánh phụ, chảy song song với nguồn mạch
chính thì, ngoài hiện tượng nhạc phản chiến của Trịnh
Công Sơn, chúng ta còn có dòng chảy của những ca khúc
viết về đời sống, tâm tình người lính nơi tuyến
đầu, liên hệ tới máu mủ, ruột thịt, tình yêu thương
của họ gửi nơi những người thân, ở hậu phương. Tôi
xin được dùng cụm từ “Tình khúc thời chinh chiến,”
để chỉ danh dòng chảy này.
Đó
là những tình khúc ngợi ca sự hy sinh tuyệt vời của
người lính hay, những tiếng thở dài, lời chia buồn
trước những tang chế, mất mát của mỗi gia đình hoặc,
ở đời sống chung quanh. Một phần đời thực tế, hàng
ngày hầu hết người dân miền Nam phải đối mặt.
Khi
đề cập tới hiện tượng nhạc phản chiến của Trịnh
Công Sơn như một chất gây nghiện, lây lan nhanh chóng
giới trẻ miền Nam, tôi không hề muốn nói, điều ấy
có nghĩa, lúc nào giới trẻ cũng hùng hục xông ra đường
phố, phất cao ngọn cờ chống chiến tranh, đòi hòa bình.
Khi
đề cập tới những Tình khúc thời chinh chiến, tôi cũng
không có ý nói, điều đó có nghĩa, giới trẻ miền Nam,
thường trực sống với niềm hãnh diện, hay ủ rũ đau
buồn vì cường độ và hậu quả khốc hại của cuộc
chiến.
Trong
một ngày, ít hay nhiều, cũng có giới trẻ thành phố thu
mình một góc riêng. Lắng nghe, nhìn ngắm, cảm nhận nỗi
buồn riêng của hoàn cảnh mình. Phần số mình. Đó là
những giây phút họ cô đơn. Nhưng cũng là những giây
phút họ sống thật nhất, với chính họ, theo tôi.
Đó
cũng chính là lúc tình ca, động mạch chủ của bất cứ
quốc gia, thời đại nào, về lại ngôi vị muôn đời
bất hoại của nó.
Nhưng
Tình ca là gì? Nếu không phải là tấm gương phản chiếu
mọi mẫu mã tình cảm của những người yêu, xa nhau,
hoặc mất nhau. Cốt lõi của Tình ca theo tôi là tính lãng
mạn. Thơ mộng. Tính lãng mạn, thơ mộng mà nhân loại
có được, tôi nghĩ, nó như một đặc ân Thượng đế
đã dành riêng cho con người.
Nói
tới lãng mạn hay thơ mộng, là nói tới những cảnh giới
hầu hết trừu tượng. Không cụ thể. Yếu tính này,
chúng ta thấy rất rõ trong những tác phẩm văn chương
lãng mạn và dĩ nhiên, trong ca từ của hầu hết tình ca.
Hơn thế, tính trừu tượng của tình ca, còn thể hiện
ngay từ nơi tựa đề nhiều ca khúc.
Thời
Tiền chiến, dòng tân nhạc chúng ta đã có những tình
khúc thiết tha, nhung, lụa như “Gửi gió cho mây ngàn
bay,” “Gợi giấc mơ xưa,” “Chuyển bến,” “Mầu
thời gian”…Sau đấy, chúng ta có “Nghìn trùng xa cách,”
“Nửa hồn thương đau,” “Hoài cảm,” “Chiều tím”…
Gần hơn chút nữa, chúng ta có “Ru ta ngậm ngùi,” “Một
cõi đi về,” “Niệm khúc cuối,” vân vân…
Trong
bối cảnh ấy, đầu thập niên (19)70, qua chiếc cầu nối
là những nhân vật tôi đã nhắc ở đầu bài, tình ca Lê
Uyên Phương đã đến với giới trẻ, như một cơn gió
mới.
Trên
sân cỏ, trong khuôn viên đại học Văn Khoa, Saigòn, ngày
ấy, những người trẻ tham dự buổi trình diễn đầu
tiên của Lê Uyên Phương, giống như những người tình
cờ bước ra khỏi những căn hầm thiên kiến của mình.
Họ thấy một bầu trời khác. Họ được uống một loại
nước mát khác. Từ một dòng suối khác.
Sự
kiện này khiến cho buổi trình diễn đầu tiên của cặp
song ca Lê Uyên và Phương, chỉ một sớm một chiều, trở
thành hiện tượng.
Rất
nhiều ký giả đã tìm gặp, phỏng vấn cặp vợ chồng
nghệ sĩ, như tình nhân. Rất nhiều phòng trà mời họ ký
hợp đồng trình diễn, với những khoản thù lao họ
không chờ đợi…
Nhưng
bầu trời và dòng suối làm thành hiện tượng bất ngờ
đó là gì?
Thưa,
trước nhất, tình ca của Lê Uyên Phương, là một tình
ca ra khỏi “truyền thống tình ca” của mọi thời đại.
Cũng
là tình ca, nhưng từ nhan đề mỗi ca khúc, cho tới phần
nội dung tức ca từ, nhạc sĩ Lê Uyên Phương đã xây
dựng ca khúc của ông trên căn bản dung dị, dễ hiểu
của chữ và, nghĩa.
Ngay
tự nhan đề của một số ca khúc nổi tiếng của LUP, cũng cho thấy tính tả thực! Thay vì nói “Niệm khúc
cuối” (cách nói của Ngô Thụy Miên,) Lê Uyên Phương
viết “Tình khúc cho em.” Thay vì viết “Bên đời hiu
quạnh,” hay “Vết lăn trầm”…(cách nói của Trịnh
Công Sơn,) thì LUP đặt tên cho ca khúc của mình là
“Vũng lầy của chúng ta,” hoặc “Cho lần cuối”…
Với
những tựa đề giản dị như vậy, người nghe, dù ở
trình độ nào, cũng sẽ hiểu ngay. Không cần phải động
não.
Bên
cạnh đó, Lê Uyên Phương cũng cho một số ca khúc của
ông những nhan đề tương đối bóng bẩy (trong một chừng
mực nào đó.) Thí dụ “Lời gọi chân mây” hay, “Bài
ca hạnh ngộ”…)
Trung
thành với chọn lựa của mình, rất nhiều ca từ của
nhạc sĩ Lê Uyên Phương, cũng cho thấy dường ông chủ
tâm đem vào phần ca từ của mình, một số ngôn ngữ đời
thường. Những ngôn ngữ tả thực, tả chân. Thậm chí
ta có thể gọi đó là ngôn ngữ nói, vốn ít thấy trong
ca từ của những nhạc sĩ cùng thời với ông.
Thí
dụ trong tình khúc nổi tiếng “Vũng lầy của chúng ta”
ông viết:
“Yêu
nhau giữa đám rong rêu hay dòng nước cuốn lêu
bêu
“Đi
qua những phố thênh thang, đi qua những trái
tim khan
“Đi
qua phố bước lang thang, đi qua với trái tim khan…”
“Theo
em xuống phố trưa mai đang còn nhức
mỏi
đôi vai
“Theo
em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau”
(……)
“Ta
sống
trong vũng lầy
“Một
ngày vùi dần, còn vùi sâu, còn vùi sâu
“Trong
ngao ngán không
dứt hết cơn cơn
ê chề…”(1)
Ở
bài “Tình khúc cho em,” một ca khúc nổi tiếng khác, họ
Lê viết:
“Thương
em khi yêu yêu lần đầu
“Thương
em lo âu
tình sau
“Dù
gương xưa không
được lau…”(2)
Hoặc
ca từ của một số tình khúc quen thuộc khác nữa, như ở
bài “Lời gọi chân mây,” ông viết:
“…Em
ơi! Xin em, xin em nó yêu
thương đậm đà
“Để
rồi ngày mai cách xa
“Để
rồi ngày mai…cách xa.”(3)
Hay
trong ca khúc “Hãy ngồi xuống đây”:
“…Cho
cơn buồn này rót
nóng tung hoang
“Cho
thiên đường này bốc cháy
“Trong
cơn chia phôi chia
phôi tràn trề…”(4)