
Mỗi
giai đoạn hay thời kỳ văn học của đất nước nào, cũng có một số tệ trạng
thành thuộc tính của xã hội đó. Sự kiện này đưa tới những ghi nhận
thiên lệch, mang tính địa phương, phe phái…ít nhiều đã ảnh hưởng tới đám
đông. Đồng thời, nó cũng làm nản lòng, thiu chột những tài năng không
may mắn, thiếu cơ hội.
Một thí dụ cụ thể là tập “Thi nhân Việt Nam” của Hòai Thanh –
Hòai Chân, xuất bản lần thứ nhất, năm 1942, ghi lại những khuôn mặt tiêu
biểu của phong trào thơ mới. Trong số trên 40 nhà thơ được đề cặp, thì,
một phần ba tác giả mà tác phẩm này ghi nhận, ngay tự thời đó, cũng đã
không được nhiều người biết đến, như: Thúc Tề, Xuân Tâm, Thu Hồng, Vân
Đài, Phan Thanh Phước hay, Mộng Huyền, Nguyễn Đình Thư, Đỗ Huy Nhiệm,
Phan Khắc Khoan, Nguyễn Xuân Huy…Vì tự thân những sáng tác của họ, không
mang một giá trị nào.
Trong khi những tên đáng kể như Hồ Dzếnh, Đinh Hùng… lại bị bỏ quên. Không được nhắc tới, dù chỉ một dòng!
Nhìn lại văn học miền Nam, 20 năm, những tệ trạng trở thành thuộc tính xã hội của thời kỳ này, có thể quy vào mấy điểm sau đây:
- Tình trạng phe phái, do mặc cảm tự tôn.
- Tinh thần địa phương cục bộ, do mặc cảm tự ty về nơi chốn xuất thân.
- Tinh thần phân chia lớp trước, lớp sau. Và,
- Nhiệt tình thổi phồng, đánh bóng quá lố một số tên tuổi, khiến
những người không cá tính, kém bản lãnh hùa theo để có ảo gíac: Mình
cũng thuộc thành phần thưởng ngọan có…trình độ “tiên tiến”!
Một người bạn họa sĩ nổi tiếng trước tháng 4-1975, vốn theo dõi sít
sao sinh họat văn chương miền Nam, 20 năm, từng than với tôi rằng, miền
Nam một thời, như con ngựa bị che hai bên mắt bởi một vài nhân vật có
phương tiện truyền thông trong tay; khi ông đề cặp tới tên tuổi một tác
giả thuộc nhóm Sáng Tạo, được những người cùng nhóm tung hê một cách quá
đáng và, một số “chạy cờ,” (theo cách nói của nhà thơ Nguyên Sa,) đắc
chí a dua…
Cũng thế, một nhà văn trẻ thuộc thế hệ hệ tỵ nạn, ở hải ngọai, đã
viết xuống rằng, nếu phải đọc 1,000 câu thơ của nhà thơ X. để tìm cho
bằng được một câu thơ hay của tác giả này, thì vất vả quá cho người đọc!
May mắn thay, nhà văn Dương Nghiễm Mậu không bị “lãng quên.”
Nhưng trong suốt hai mươi năm văn chương miền Nam, ông đã bị nhìn như
một nhà văn lớp sau, so với lớp trước, là những tác giả có tác phẩm
xuất bản sớm hơn ông vài năm. Ông cũng bị xếp hạng hai, sau một vài nhân
vật mà, vì tế nhị(!) vì nhu cầu “cân bằng” nguồn gốc nam, trung, bắc…
dư luận đã được “định hướng” để công nhận vai trò “thủ lãnh” của mấy
nhân vật này.
Tôi cho rằng, khi cùng chung một giai đọan văn chương, một thời kỳ
văn học, thì, vị trí một tác giả không phải là tuổi tác, thời gian tác
phẩm được ấn hành mà, nó phải y cứ trên giá trị tự thân của tác phẩm ấy.
Khi nói về giá trị tự thân một tác phẩm, người ta phải căn cứ trên
những tiêu chí hay chuẩn mực nào? Tùy mỗi cách nhìn, mỗi quan niệm mà,
người ta thể đưa ra những tiêu chí, những chuẩn mực khác nhau.
Cá nhân tôi, tôi muốn chọn hai tiêu chí, hay hai chuẩn mực chính, đó là: Hình thức và nội dung.
Tôi vẫn nghĩ, giá trị sự nghiệp văn chương của nhà văn Mai Thảo không
nằm nơi nội dung. Nó không lớn, không mới về phương diện tư tưởng hay
triết học. Nhưng về hình thức cấu tạo câu văn của ông, phải nói là rất
mới. Ông có công lớn, rất lớn khi thay đổi vai trò một chữ và, đảo lộn
những quy định căn bản về văn phạm của một mệnh đề.
Trước ông, tôi chưa thấy tác giả nào xử dụng một tính từ, một động từ, như một danh từ. Ông là người đầu tiên sử dụng cụm từ “ném một cái nhìn...”
“Nhìn” là động từ (verb). Nhưng trong cụm từ “Ném một cái nhìn” thì “nhìn” đã trở thành danh từ (noun).
Về sự phá bỏ cấu tạo một câu văn trên căn bản văn phạm cũ, cách đây nhiều chục năm, ông đã viết:
“Trước. Bây giờ. Lời nói như một vô tình đụng chạm tới một thương tâm dấu kín khiến Huấn muốn nổi khùng lên…” (1)
Chúng ta cùng biết rằng hai chữ “trước”’ và “bây giờ”
vốn là trạng từ (adverb) - - Tiếng chỉ trạng thái. Nó không thể làm chủ
từ cho một câu và, càng không thể đứng một mình, như thể đó là một mệnh
đề độc lập! Vậy mà Mai Thảo đã dùng. Rất nhiều người theo cách viết mới
của ông. Mặc dù cũng không ít người dị ứng với văn phong mới mẻ đó.
Nhưng, cách gì kiểu hành văn này, cũng đã trở thành một hình thức viết
mới.
Về nội dung, tôi nghĩ, muôn đời nhà văn không ai ra khỏi những đề tài
trực tiếp liên hệ tới con người, như sống, chết, đau khổ, hạnh phúc,
hạnh ngộ, chia lìa, nghèo đói, tật bệnh, chiến tranh, tự do và độc tài,
nhân quyền và chuyên chế… Và, những vấn đề mang tính triết học, siêu
hình, với những câu hỏi căn bản như: Con người từ đâu đến? Chết đi về
đâu? Họăc đâu là tương quan giữa nhân lọai và tín ngưỡng? Thượng đế và
con người? Vân vân…
Từ đó, tôi nghĩ, mức độ để người đọc đánh gía độ lớn, tầm cao của một
nhà văn, căn cứ theo nội dung là cách dựng truyện, cách đặt vấn đề,
cũng như không khí truyện thế nào (?), ra sao (?); để độc giả không cảm
thấy phảng phất hơi hướm của tác giả này, hình bóng tác giả kia. Làm
sao, cách nào, để người đọc không bị gặp lại ý tưởng đã được cầu chứng
của nhà văn X; xung đột tâm sinh lý vốn là thẻ nhận dạng của nhà văn Y…
Nói tóm gọn, nó phải khác, lạ. Phải mới. Nó có thể cũng là những lò
than hồng, nhưng cháy theo cách của nó. Ngọn lửa nám, phỏng da thịt ta,
cũng là cái nám, phỏng khác. Tôi nghĩ chỉ những tài năng văn chương lớn,
mới có thể làm nám, phỏng tâm hồn người đọc, theo cách riêng của họ mà
thôi.
Lại nữa, vẫn theo tôi, việc đeo đuổi ý thức tranh đấu cho một lý
tưởng nào đó trong phạm trù nhân sinh của một nhà văn, không chỉ xuất
hiện thóang qua trong một tập truyện mà, nó phải thuần nhất, phải xuyên
suốt gần như tòan bộ sự nghiệp văn chương của nhà văn ấy.
Nhìn như thế, ở góc độ này, khi những vang động sâu xa, tốt đẹp cũng
như lòe lọet phấn son, chiêng trống ồn ào của 20 năm văn chương miền
Nam, đã lùi sâu, đã qúa khứ, với tôi, Dương Nghiễm Mậu, nếu không phải
là nhà văn lớn hơn bất cứ một nhà văn miền Nam nào cùng thời, thì chí
ít, ông cũng là nhà văn hàng đầu. Ông không phải là nhà văn lớp sau; nhà
văn hạng nhì của giai đọan văn học ông đã hiện diện.
Sau này, đôi ba nhà phê bình nhìn lại Dương Nghiễm Mậu, có phần trân
trọng hơn với ông. Nhưng họ vẫn nhìn ông theo thói quen liên tưởng tới
một số tác giả tây phương. Có người nói rõ rằng, thành tựu của thế giới
văn chương Dương Nghiễm Mậu được xây dựng từ những ảnh hưởng các trào
lưu văn học tây phương - - Căn cứ vào sự phong phú của sách báo ngọai
quốc mà, các nhà văn miền Nam được thụ hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
(qua các bản dịch.) Như thể nếu không có những tác giả tây phương kia,
nếu không có những bản dịch nọ, thì văn học Việt Nam khó có thể có một Dương Nghiễm Mậu, như ông đã là…
Ghi nhận này, có thể đúng với nhiều người. Nhưng sai, chí ít cũng với Dương Nghiễm Mậu.
Mọi so sánh, đối chiếu, theo tôi, chỉ thực sự có ích, một khi nó chỉ
ra được tương đồng và dị biệt giữa tác giả này với tác giả khác. Nếu
không, nó chỉ có tính cách biểu kiến. Vì một lý do dễ hiểu: Những tác
giả tây phương nọ, không hề sống, hít thở, chìm, nổi, dập, vùi trong
ghềnh, thác sinh mệnh miền Nam xuất huyết, bất hạnh, 20 năm, nói riêng;
và lịch sử Việt Nam, nửa thế kỷ qua, nói chung.
Tôi nghĩ, một nhà văn thường bị hai lực chi phối chính. Lực chi phối
chiều dọc: Những người đi trước. Lực chi phối chiều ngang: Những người
đồng thời. Nhưng một tài năng lớn, một nhà văn ngọai khổ, là nhà văn sớm
tách, lià khỏi mọi từ trường, lực hút của kẻ khác. Đồng thời, nhà văn
đó phải phản ảnh được thời đại, hòan cảnh xã hội mà ông ta đã sống.
Với tôi, Dương Nghiễm Mậu là một nhà văn lớn. Trước, sau ông vẫn cho
thấy những bi kịch xã hội trên những trang văn đau đáu nhân sinh của
ông, để tự thân chúng, bật lên cái ý thức khẩn thiết đòi quyền sống căn
bản. Quyền tự do vằng vặc, cho một con người.
Tôi vẫn nghĩ, yếu tố ắt có và đủ cho một nhà văn, là tài năng và ý thức. Kế tiếp, người ta cũng có thể căn cứ trên “nước rút và đường trường” để khẳng định mức lớn của tài năng đó. Nhìn lại lịch sử 20 năm văn học miền Nam,
(thậm chí cả mấy chục năm văn học tiền chiến,) có những tác giả lóe
sáng ở bước khởi đầu, để rồi không lâu sau, ngúm tắt. Nhưng Dương Nghiễm
Mậu thì khác. Ông đựợc cho ông: Nước rút lẫn đường trường.
Ở giai đọan khởi hành, ông đã bứt phá, bỏ đám đông đồng hành, phía
sau. Từ đó, tới nay, lực sáng tác, độ sâu tư tưởng của ông càng thăm
thẳm. Những mạch nước ngầm nhân bản, chảy sâu lòng đất xã hội nơi ông,
vẫn không hề đổi dòng hay, ngưng chảy sau biến cố tháng 4-1975.
Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11
năm 1936 tại làng Mậu Hòa, (quê ngọai làng Dương Liễu,) huyện Đan
Phượng, phủ Hòa Đức, tỉnh Hà Đông.
Trước khi lấy các chữ “Mậu” từ làng Mậu Hòa, lấy “Dương,” từ làng Dương Liễu và, chữ “Nghiễm”
từ tên gọi theo khai sinh, để trở thành bút hiệu Dương Nghiễm Mậu, Phí
Ích Nghiễm đã có một thời gian dùng bút hiệu Hương Việt Hương.
Nhà văn Nguyễn Thụy Long, trong hồi ký “Thuở mơ làm văn sĩ” (2) cho
biết, với bút hiệu Hương Việt Hương, Phí Ích Nghiễm đã có nhiều truyện
ngắn, cũng như truyện dài đăng trên một số tuần báo ở Saigòn kể từ 1955,
khi ông theo gia đình di cư từ Bắc vào Nam.
Cũng trong hồi ký của mình, Nguyễn Thụy Long cung cấp thêm một số chi
tiết đời thường của Dương Nghiễm Mậu, như, đầu thập niên 1960, vì muốn
dời bỏ Nha Trang, không muốn tiếp tục lệ thuộc gia đình sau khi thi tú
tài nhiều lần không đậu, Dương Nghiễm Mậu viết thư gửi Lý Hòang Phong,
xin làm việc cho tờ Văn Nghệ. Không ngờ người đứng đầu tạp chí này, nhận
lời ngay.
Về giai đọan thay đổi bút hiệu, từ Hương Việt Hương, thành Dương
Nghiễm Mậu, nhà văn Mai Thảo cho biết, ông là người đầu tiên giới thiệu
với độc giả tạp chí Sáng Tạo, bút hiệu mới mẻ đó.
Trong tác phẩm “Chân dung 15 nhà văn nhà thơ Việt Nam,” do nhà
Văn Khoa, ở California, ấn hành năm 1985, nhà văn Mai Thảo kể, một hôm
ông ghé thăm, ngồi chờ ngừơi bạn làm việc tại một tòa sọan, “buồn tay”
ông nhặt trong thùng rác, những sáng tác bị người bạn này vứt bỏ. Trong
số những bài bị lọai, có truyện ngắn “Rượu chưa đủ,” với bút hiệu
xa lạ: Dương Nghiễm Mậu. Bị chấn động ngay tự những dòng chữ đầu dẫn
vào tác phẩm, với tinh thần liên tài, Mai Thảo xin bạn cho ông được giữ
sáng tác đã bị vứt bỏ kia, để:
“…đăng ngay nó và nguyên văn không sửa một cái dấu phẩy trên tờ Sáng
Tạo số đang làm. (3) Người bạn tôi, chỉ biết thấy giá trị những tác giả
đã thành danh, không thấy được những hạt ngọc óng ánh lăn ra từ những
cõi viết còn vô danh chưa tên tuổi đã liệng đi hạt ngọc văn xuôi ấy là
truyện ngắn Rượu Chưa Đủ, truyện đầu tay của một người trẻ tuổi mới viết văn bấy giờ là Dương Nghiễm Mậu…” (Chân dung…, trang 85.)
Diễn đàn bạn mà tác giả “Đêm giã từ Hà Nội” nhắc tới là nhật báo Dân Chủ của Vũ Ngọc Các. Người bạn “chỉ biết thấy gía trị của những tác giả đã thành danh”
đó là nhà văn Thanh Tâm Tuyền. Cho tới khi nhớ lại, viết xuống những kỷ
niệm với Dương Nghiễm Mậu, có dễ nhà văn Mai Thảo vẫn không hề biết
rằng, với bút hiệu Hương Việt Hương trước đó, họ Phí đã là một tác giả
quen thuộc trên các diễn đàn văn nghệ khác?
Tính tới 30 tháng 4 năm 1975, Dương Nghiễm Mậu đã xuất bản trên, dưới
20 tác phẩm, gồm truyện ngắn, truyện dài, bút ký…Trong số này, những
tập truyện như, “Cũng đành,” “Nhan sắc,” “Ngã đạn;” những truyện dài như “Gia tài người mẹ,” “Đêm tóc rối,” “Tuổi nước độc;” hoặc bút ký “Địa ngục có thật”… đựơc nhiều người yêu thích.
Theo trang nhà E Văn ở Việt Nam kể, từ năm 1977 tới nay, nhà văn
Dương Nghiễm Mậu sống bằng nghề vẽ tranh sơn mài. Năm 2007, công ty văn
hóa Phương Nam ở Saigòn, đã tái bản 3 tập truyện “Cũng đành,” “Đôi mắt trên trời,” “Nhan sắc” và, tập thứ 4, “Tiếng sáo người em út,” gồm một số truyện ngắn ông viết đã lâu, trước đó.
Vẫn theo E Văn, Dương Nghiễm Mậu là một trong rất ít nhà văn miền nam, có tên trong “Từ điển văn học”
do nhà Thế Giới ở Hà Nội xuất bản. Nhưng ngay khi 4 tác phẩm kể trên
vừa phát hành, ông đã bị một số tờ báo ở Saigòn tấn công một cách thô
bạo - - Đưa tới tình trạng nhà xuất bản phải thu hồi tác cả tác phẩm của
ông khỏi các kệ sách. Nhưng khi được họ Nguyễn hỏi thăm, tác giả “Nhan sắc” không đáp. Ông chỉ mỉm cười!
Những ai từng giao tiếp với nhà văn Dương Nghiễm Mậu hẳn không thể quên nụ cười luôn nở trên gương mặt của ông.
Nụ cười mà, tôi muốn gọi là “Nụ-cười-Dương-Nghiễm-Mậu.”
Có người cho rằng, đó là một nụ cười trẻ thơ, tinh nghịch. Người khác
kết luận, đó là nụ cười hài hước, phúng thích. Những người gần gũi với
thiền tông, lại thấy đó là nụ cười “an bần lạc đạo.”
Mọi ghi nhận về nụ cười đặc biệt của họ Phí, tôi cho đều hữu lý. Ngay
cả khi ai đó, có đơn giản ghi nhận rằng, nó thuần túy chỉ là một nụ
cười. Một nụ cười không nhất thiết phải kèm theo nó, một ý nghĩa. Kết
luận ấy, theo tôi, cũng có chỗ…diệu dụng của nó.
Tôi nghĩ phần “diệu dụng” của nụ cười Dương Nghiễm Mậu đã giúp ông
không ít, trong thời gian bị giam cầm tại nhà tù Phan Đăng Lưu, Gia
Định, sau biến cố tháng 4-1975.
Nhà văn Mai Thảo, trong tác phẩm đã dẫn (cuốn “Chân dung 15 nhà văn nhà thơ Việt Nam,”)
kể đầu năm 1976, khi nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội mở cuộc bố ráp văn
nghệ sĩ miền Nam, đương nhiên, họ không để lọt lưới tác giả “Tuổi nước độc.”
Mai Thảo viết:
“…Sau 1975, tôi đã nhìn thấy ở nghệ sĩ ta một số bản lãnh chói lòa.
Những phong thái trầm tĩnh, những bản ngã dũng liệt, trong một nghịch
cảnh mới như một đường kiếm tuốt ra khỏi vỏ, mới lấp lánh hiện hình.
Nhưng tươi tắn, vững vàng và sự trẻ trung đặc biệt gần như không có
tuổi, thì là Dương Nghiễm Mậu thôi. Chỗ này là chỗ nói đến võ công thâm
hậu, đến tư duy đạt thành và kín thầm nhưng đóan thấy, sự kiêu hãnh
tuyệt vời của người nhà văn nơi Dương Nghiễm Mậu.” (…)
“Bạn hữu còn kể ít nhiều về hơn một năm lao tù của Mậu ở Phan Đăng
Lưu. Như về thái độ trầm tĩnh của Mậu đã có một ảnh hưởng rất tốt đẹp
với anh em cùng tù, đặc biệt với Nhã Ca, bao nhiêu năm vẫn trước sau
kính trọng Dương Nghiễm Mậu như một người anh lớn. Biết Nhã Ca ngạo
ngược nóng nẩy, Mậu vắn tắt khuyên: ‘Cô còn phải trở về nuôi tụi nhỏ’,
và kèm sát Nhã Ca trong những buổi học tập kiểm thảo. Phải nên có thái
độ nào cho đúng, kiểm thảo như thế nào mới là khôn ngoan, an tòan, nhất
nhất Nhã Ca đều chịu nghe theo những chỉ dẫn của ‘anh’ Dương Nghiễm
Mậu.” (…)
“…Tôi vẫn nghĩ trở lại cái truyện ngắn đầu tay Rượu Chưa Đủ
của Dương Nghiễm Mậu tôi nhặt được trong một cái sọc rác và đã đăng lên
một số Sáng Tạo năm nào. Đứa trẻ mồ côi im lặng đào đất chơi trò đắp
hình sông núi quê hương. Trò chơi tuyệt vời ấy đã hòan tất. Nó cũng là
cái trò chơi chúng ta cùng nhìn thấy tuyệt vời và đã hòan tất, bằng văn
chương của người viết văn đi một mình trên con đường mình là Dương
Nghiễm Mậu.” (Mai Thảo, Chân dung…tr. 87, 88.)
Mới đây, có người hỏi tôi, nếu không có “mắt xanh” Mai Thảo, liệu hôm
nay chúng ta có Dương Nghiễm Mậu? Câu trả lời không ngập ngừng của tôi
là: Vẫn có.
Tôi nghiệm thấy, mỗi giai đoạn lịch sử ngặt nghèo, thường nẩy sinh
một số định-mệnh-lớn. Những cá nhân được định mệnh chọn, để trở thành
tấm gương phản ảnh từng lãnh vực của lịch sử giai đọan đó. Họ là những
cá nhân mà, ngay tự điểm xuất phát, đã cho thấy tính cách điển hình, dẫn
đường của họ.
Dương Nghiễm Mậu với “Rượu chưa đủ,” ở Sáng Tạo, chỉ là bước đi tiếp của Hương Việt Hương, ở những năm, tháng trước đó, trên những diễn đàn khác.
Nhìn lại sinh họat văn chương của miền Nam cuối thập niên 1950, ta sẽ
thấy, giữa khi những đồng hành với Dương Nghiễm Mậu, còn rờ rẫm, tìm
hiểu hoặc , loay hoay bắt chước những trường phái văn nghệ đã sớm bị
vượt qua ở ngay nơi chúng được khai sinh, thì Dương Nghiễm Mậu đã trầm
tịnh chọn lấy cho mình một hướng đi. Một ý thức văn học bất khả suy,
chuyển.
Có thể nói mà, không sợ quá lời rằng, ông đã lầm lì một cách nhất
quán, tự cách ly khỏi khu rừng chộn rộn phong trào, lý thuyết…bằng tài
năng và, nhận thức hải đăng tự thân của mình.
Trong môi trường rổn rảng, lập lòe thời thượng kia, những trang văn
Dương Nghiễm Mậu đã hiện ra chói, gắt từng con chữ trên những kênh, mạch
truyện ngắn, truyện dài. Ông xác quyết, tự do là nguyên lý tồn tại của
con người. Nhân bản là lần ranh phân chia nhân lọai với cầm thú.
Tôi cho rằng, định mệnh lớn đã đến với Dương Nghiễm Mậu, ngay tự
những dòng chữ thứ nhất. Và, song sinh cùng những dòng chữ thứ nhất kia,
là nhân cách Phí Ích Nghiễm.
Tôi không nghĩ người đọc, hôm nay, lịch sử văn học, ngày mai, đòi hỏi
một điều gì nơi nhà văn, khác hơn giá trị nội tại của tác phẩm.
Nhưng, nếu một tài năng (như tài năng Dương Nghiễm Mậu,) song sinh
với một nhân cách, (như nhân cách Dương Nghiễm Mậu) thì, nó mặc nhiên
trở thành tấm gương hai mặt, vằng vặc. Sáng.
Với cá nhân tôi, ông là tấm gương hai mặt đó.
Du Tử Lê,
(21-8-09)
Chú thích:
(1) Trích “Ngọn hải đăng mù,” tập truyện Mai Thảo. Làng Văn xuất bản, 1986, Tr. 49
(2) Nhà Tuổi Xanh, California, xuất bản năm 2000.
(3) Nhà thơ Thành Tôn cho biết: (a) Đó là tờ Sáng Tạo số 28 và 29, đề tháng 1 & 2-1959 - chủ đề “Giai phẩm Mùa Xuân Kỷ Hợi.” (b) Hai số sau, tức Sáng Tạo số 31, đăng truyện ngắn thứ nhì của Dương Nghiễm Mậu, nhan đề “Tiếng nói”…
Dương Nghiễm Mậu không chỉ là nhà văn hàng đầu của 20 năm văn chương
miền Nam; trong đời thường, về phương diện nhân cách, ông cũng cho thấy
ông biết mình là ai. Sống thế nào. Ra sao…để tương, thích với vai trò kẻ
sĩ miền Nam, nhất là những lúc ông bị dập vùi tận đáy địa ngục.
Tác giả thi phẩm “Huyết âm,” nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ kể, đầu năm 2009 vừa qua, nhân dịp về Saigòn giải quyết việc gia đình, ông ghé thăm tác giả “Cũng đành.”
(4) Thời gian này, cũng là thời gian Dương Nghiễm Mậu đang bị những
ngọn roi mặc cảm thấp hèn, thù hận mông muội, quất, vụt lên thân thế
cũng như những sáng tác của ông, do công ty Phương Nam tái bản.