
Tôi
không biết điều gì khiến tôi vẫn nhớ, dù đã trên
hai mươi năm, buổi gặp gỡ đầu tiên giữa tôi và họa
sĩ Lê Tài Điển: Thượng tuần tháng 11 năm 1989 tại nhà
hàng Bida Saigon, quận 13, Paris.
Bạn
tôi đưa tôi đến Bida Saigon để thăm Đạt, chủ quán.
Trước khi dẫn tới Bida Saigon, bạn tôi cố tình cho tôi
được “tham quan” hai cơ sở thương mại, anh nghĩ rằng,
tôi sẽ thích. Đó là nhà sách Nam Á và Trung tâm băng
nhạc Thúy Nga, cùng một tầng lầu với Bida Saigon.
Paris
cách đây trên dưới 23 năm, sinh hoạt thương mại của
người Việt chưa được phồn thịnh lắm. Nó vẫn còn
vẻ gượng gạo của một người mới trở lại sinh hoạt
bình thường, sau một trận đau dài.
Ngay
nhà hàng Bida Saigon của Đạt, cũng vậy. Quán nhỏ. Bàn
ít. Thưa thớt dăm bàn khách. Nhưng cảm giác ấm cúng đến
với tôi lập tức, khi tôi nhận ra nơi chiếc bàn kê gần
cửa ra vào, là một nhóm văn nghệ sĩ. Đôi người tôi
quen từ Saigon trước 1975. Số khác, tôi chỉ biết mặt.
Trong những người tôi chỉ biết mặt, có Lê Tài Điển,
họa sĩ. Và, một người hoàn toàn xa lạ với tôi, ngồi
cạnh họ Lê là họa sĩ Nguyễn Cầm. Sau khi được giới
thiệu, Lê Tài Điển mau mắn đứng lên, tìm ghế cho
chúng tôi.
Tôi
nhớ, câu đầu tiên tôi nói với người họa sĩ nổi
tiếng, xa quê hương; đồng thời, cũng nổi tiếng lười
vẽ rằng, tôi được coi tranh và hình ông, tự những
ngày còn ở Saigon. Không ngờ hôm nay được gặp ông ở
đây.
Thay
vì trả lời câu nói, như một lời chào của tôi thì,
người họa sĩ, tác giả của mấy bức tranh đen trắng
từng được in trên vài tạp chí Saigon, sớm gây ấn
tượng trong tôi, lại hỏi, uống rượu nhé? Bia không? Ở
Paris bao lâu? Khách sạn hay nhà bạn?
Ông
nói với tất cả chân tình, không chỉ qua giọng nói mà
còn luôn cả khuôn mặt. Nhất là đôi mắt. Tôi nghĩ, tôi
không đủ khả năng diễn tả đôi mắt nồng ấm mà, xa
vắng. Lẩn khuất những u uẩn, khôn tan của họ Lê.
Đôi
mắt, tựa những con đường Paris. Ban đêm. Nhỏ. Hẹp.
Kín đáo. Điệu đàng duỗi mình dưới những tàng cây.
Như những chiếc dù len, ủ, úm hương thơm từ những xe
chở bánh mì, thở ngạt ngào khu place d’Italie.
Tôi
cũng không biết nói gì về những bức tranh ẩn tàng, lẩn
khuất đâu đó, trong đôi mắt người họa sĩ tài hoa
này, những buổi chiều muộn. Những buổi chiều tôi có
dịp ngồi với ông, (thường vây quanh, ít, nhiều bạn
hữu.)
Chưa
bao giờ chúng tôi nói chuyện với nhau về văn chương.
Càng không hề có chuyện nói với hội họa. Nhưng, cảm
nhận tôi, cho biết, những lúc ông im lặng, nhìn xuống
ly rượu hiếm khi cạn kiệt của mình, hay ngó mông những
đoạn tường dài hoặc, nhà phố ken cứng gạch, ngói và,
cửa sổ - - Là lúc những bức tranh đen, trắng hoặc mầu
tối của ông, thành hình(?) Những đường nét, mầu sắc
(dù tối,) hiện ra trên những tấm canvas vô hình, thinh
lặng. Như sự thinh lặng của những xa vắng lẩn khuất
u uẩn. Khôn tan! Đôi mắt ông.
Tôi
ngỡ đó là lúc chiếc-cọ-hoàng-hôn đang phân bố khuôn
mặt ông từng mảng đậm, nhạt. (Mà, mầu chủ đạo,
bao giờ cũng là mầu nhang. Tối!)
Lặng
lẽ quan sát bạn, trong những thời khắc im sững ấy,
nhiều lần tôi tự hỏi:
“Phải
chăng hư vô cũng có lúc cao hứng đầu thai thành đường
nét và, mầu sắc?”
(Đường
nét, mầu sắc một con người, cúi xuống ly rượu hiếm
khi cạn kiệt, hay ngó mông bên kia đường - - Là bức
tường dài, những nhà phố ken cứng gạch, ngói và, cửa
sổ.)
Cảm
nhận này ở tôi, về người họa sĩ nổi tiếng, có quá
nửa đời gắn bó với Paris, đã lớn thêm, dọc theo lộ
trình lao lung nắng-gió-tháng-năm, trong những lần trở
lại với T., sau đấy.
Tôi
nhớ mùa hè 2004, khi Cổ Ngư / Mạch Nha, Đặng Mai Lan và
các bạn thuộc tổ chức Thư Viện Diên Hồng ở Pháp, tổ
chức cho tôi một buổi nói chuyện tại Paris. Dù thời
gian eo hẹp và quá bận bịu, chúng tôi vẫn tìm mọi cách
gặp lại người họa sĩ lười vẽ và, không bao giờ nói
về tranh của mình. Những buổi chiều ngồi quán, đôi
khi không thấy cần thiết phải nói với nhau điều gì,
tôi lại bắt gặp tôi chờ đợi những chiếc-cọ-hoàng-hôn
phân bố khuôn mặt ông từng mảng đậm, nhạt. (Mà, mầu
chủ đạo, bao giờ cũng là mầu nhang. Tối!)
Ở
lần gặp gỡ ấy, dù tôi vẫn không thể biết những bức
tranh đen trắng hay, mầu tối nào đang được ông vẽ
trên những canvas vô hình? Nhưng tôi rất muốn nói với
ông, đại ý, tôi sẽ vui lắm, hạnh phúc lắm, ngày nào,
trong một cuốn sách in ra của tôi, có được một bức
tranh ký tên Lê Tài Điển, làm phụ bản.
Tôi
không biết điều gì níu tôi lại. Tôi không nghĩ tương
giao giữa tôi và ông chưa đủ gần, để tôi có thể nói
ra mong ước của mình. Tôi trộm nghĩ, ngay cả khi còn sơ
giao, thì ngỏ ý của tôi, cũng sẽ không làm phật lòng
người họa sĩ tài hoa thường cúi xuống ly rượu hiếm
khi cạn kiệt kia.
Bởi
vì, với ông, tôi nghĩ, dường rốt ráo đời sống, hội
họa, và hư vô, vốn chỉ là một(?)
Có
thể, tôi sợ bày tỏ của tôi, sẽ làm cho những xa vắng
cùng những u uẩn lẩn khuất trong đôi mắt đầm ấm mà
xa vắng nọ, thêm vắng xa? U uẩn!
Có
thể, từ vô thức, tôi nghĩ, tôi phải tôn trọng mối
thương tâm của ông. Mối thương tâm nghệ thuật chỉ
riêng một mình Lê Tài Điển, cùng buổi chiều, bức
tường dài, những căn nhà ken cứng gạch, ngói và, cửa
sổ…đồng cảm. Chia xớt.
Ngày
chót, trước khi tôi và T. (nhất là T.) phải trở lại
Cali. vì công việc, chúng tôi có một buổi chiều ấm áp
bằng hữu. Rưng rưng tình thân. Tôi muốn nhắc tới
chuyện chủ nhân nhà xuất bản An Tiêm, Thanh Tuệ cho tôi
biết, ông đã mất bao nhiêu giờ, thu xếp bao công việc,
đổi bao nhiêu chuyến tầu + metro, để đến kịp buổi
hẹn. Đó cũng là lần Nguyễn Thị Trọng Tuyến được
Trọng, người bạn đời tuyệt vời, chở bằng xe riêng,
từ thành phố Rouen về Paris, với chúng tôi mà, Lê Tài
Điển và Kiệt Tấn đóng vai “điều hợp chương trình.”
Dù
nhận lời với các bạn, sẽ sớm trở lại, lần gặp
đó, trong tôi, lại nhen nhúm ý nghĩ nên xin họ Lê, một
bức tranh đen trắng, làm phụ bản cho cuốn sách sẽ in
của mình.
Cuối
cùng, tôi im lặng. (Như đã từng.)
Khác
chăng, lần này, quan sát bạn, những lúc im sững, cúi
xuống ly rượu hiếm khi cạn kiệt, lúc hoàng hôn vung
chiếc cọ bạo, ngược của nó lên khuôn mặt ông từng
mảng đậm, nhạt... (Mà, mầu chủ đạo, bao giờ cũng là
mầu khói, tối!) tôi bỗng thấy thôi! Không cần thiết
nữa!
Đúng
vậy. Trước giờ chia tay, tôi thấy, không cần thiết gì
nữa. Vì cuối cùng, tôi chợt nhận ra:
“Định
mệnh Lê tài Điển là định mệnh của những bức tranh
không được vẽ ra.” Chúng đã, đang và, sẽ còn theo
những buổi chiều trôi vào vắng xa. U uẩn. Lẩn khuất
đâu đấy, cuối đường đôi mắt ông.
Đó
cũng là lúc tôi cảm nhận khá rõ rằng, hoàng hôn không
hề vung chiếc cọ bạo ngược của nó lên khuôn mặt ông
từng mảng đậm, nhạt...Mà, chính ông, chính Lê Tài
Điển, tự thân, đã là đường nét, là mầu sắc.
Tuy
nhiên, trong tôi lại dấy lên, một câu hỏi khác. Câu
hỏi:
“Với
một người có khuôn mặt và, đôi mắt tự thân đã là
hội họa, liệu y có cần phải vẽ nhiều nữa chăng?”
Câu
trả lời của tôi là, “không!”
Tôi
cũng không thấy cần thiết, hỏi xin một bức tranh (đen
trắng) cho cuốn sách (chưa có) của mình.
Nếu
nói ra, tôi tin, T. sẽ không phản đối tôi, quyết định
ấy!
Du
Tử Lê,
(Calif.
Tháng 1-2012.)