
Truyện ngắn
cũ hay mới, rốt ráo, với tôi, giống hai mặt của một
đồng tiền. Đồng tiền chữ, nghĩa. Nên nó cũng tựa
những cặp đối đãi, tương phản “đụng trần.” Như
giữa nóng và lạnh. Mưa và nắng. Ánh sáng và bóng tối.
Những cặp
đối đãi không mang ý nghĩa khử trừ, triệt tiêu nhau
mà, mặt này có, để xác nhận, sự hiện diện chói gắt
của mặt kia. Sự kiện này, ở phạm trù văn chương, còn
mang tính chuyển động, biến thiên…Chứ không bất biến
như một hiện diện mặc nhiên, tự thân, vô cảm.
Tự những
dòng chữ đầu của truyện ngắn “Nhà có cửa khóa
trái,” như đã nói, nó xác lập ngay tính chất nhà
văn cho Trần Thị NgH, khi bà thẩy ra giữa “hiện trường”
truyện ngắn của mình, hai nhân vật, với những đối
đáp mở Màn, đã sớm mang tính gây gỗ, ăn thua đủ
trong một thổ nhưỡng sa mạc, thiếu bóng cây. Nó hườm
sẵn đâu đó, những mồi lửa bất trắc, qua đối thoại:
“Thử tưởng
một người đàn ông đứng tuổi, đứng đắn. Một người
đàn ông sắp sửa bốn mươi tuổi, có vợ, có địa vị
và tiền bạc. Không lý tưởng sao, tuyệt vời nữa. Một
hôm chàng nói với tôi:
“- Em dám bỏ
trốn với anh không?
“Tôi nhìn
chàng nghi ngờ:
“- Chưa có
cuộc ngoại tình nào thành công cả.
“Chàng hỏi:
“- Ngoại
tình là gì?
“- Là một
cố gắng tuyệt vọng.
“Chàng có vẻ
tâm sự:
-Có khi chung
thủy cũng là một cố gắng tuyệt vọng…” (1)
Ngoài tính từ
“tuyệt vời” chỉ cảm tính, cả đoạn văn không
có một tính từ mượt mà nào khác!
Tính đốp
chát, khô khốc, cà khịa mở vào truyện, theo tôi, là một
tiên báo cái thời tiết bức bối, hầm hập trong căn nhà
(hay khí hậu của cuộc ngoại tình) mà cả hai nhân vật,
đều không ai có cho mình chiếc chìa khóa phụ để mở,
gỡ (hóa giải!) Họ buông mình dật dờ trong dung dịch
quánh đặc hay, dò dẫm bước những bước bồng bềnh
giữa nắng cháy.
Với thời
tiết truyện dễ bắt lửa này, ngay ở thời điểm đầu
thập niên (19)70, là thời điểm văn chương miền Nam
phong phú, vạm vỡ nhất, cũng rất hiếm hoi. Nếu không
muốn nói là không có trong không gian chuyện tình.
Nhưng, điều
đáng nói, không phải chỉ là tính dễ “bắt lửa” của
nhập đề truyện mà, chuyển động nhanh (tựa như yếu
tố căn bản của những thước phim hành động / action)
sau khi vẽ phác vài nét về diện mạo “chàng”… (Chẳng
hạn như chàng là người thuộc nhiều và, thích ngâm thơ
tiền chiến. Biết nhiều về địa lý, di tích lịch sử.
Thực tế trong công việc. Nhậy cảm trước mọi hoàn
cảnh. Mơ mộng trong tình yêu…Tác giả đi đến kết
luận, đó là một người đàn ông có tâm hồn và, biết
liều lĩnh. “…Biết ngoại tình.” ) (Sđd. Tr. 628.)
Tuy nhiên, ngay
sau đó, giữa cuộc du ngoạn của hai kẻ mới yêu nhau,
tác giả viết:
“…Ở một
đoạn đồng trống chàng dừng xe lại, sát mé ruộng.
Chúng tôi hôn nhau. Cái hôn đầu tiên chưa kịp đoán
trước hay chuẩn bị dù sao cũng làm tôi thất vọng chút
ít. Tôi quệt nước bọt trong tay áo và chàng có vẻ
bồn chồn khi nhìn thấy cử chỉ đó. Tôi không biết,
lúc ấy tôi khinh chàng. Tôi nói: À, thì ra! Chàng tỏ vẻ
không hiểu. Tuy nhiên sau đó chàng vẫn hôn tôi hoài.”
(Sđd. Tr. 628.)
Tôi trộm
nghĩ, người đọc sẽ không bị hụt, hẫng, nếu cụm từ
“Tôi quệt nước bọt trong tay áo…” ngay sau cái
hôn đầu tiên, xuất hiện trong một phóng sự hiện thực
xã hội!
Tôi cũng trộm
nghĩ, sẽ khó có một nhà văn nữ thứ hai, mô tả phản
ứng của nhân vật mình, bị người yêu hôn (dù bất
ngờ,) bằng cụm từ vừa kể. Nó không chỉ biểu thị
sự khinh bỉ mà, còn là một cố tình cho thấy mức độ
tỉnh táo tới quá quắt. Dẫu cho “…sau đó chàng vẫn
hôn tôi hoài!” Như một nỗ lực tuyệt
vọng(?) Che dấu (bôi xóa) bẽ bàng? Mặc cảm giống đực?
Tôi không
biết, nếu nhân vật nam nọ, đặt vào ngòi bút của tác
giả “Yêu một người viết văn,” Nhã Ca, ở hoàn
cảnh tương tự, bà sẽ “xử lý” ra sao? Thế nào?
Tôi không
biết. Nhưng, tôi tin, nhiều phần sẽ khác. Nhất là, khi
“chàng” trong truyện Trần Thị NgH lại được mô tả
là… “rất thi sĩ!”
Lịch sử
truyện ngắn của hai mươi năm văn chương miền Nam cho
thấy, hầu hết những nhân vật trung tâm, được các tác
giả “thẩm mỹ hóa” như những nhân vật…ngoại khổ!
Nếu độc giả gặp được ngoài đời, chắc chắn sẽ
sinh lòng ngưỡng mộ. Chí ít, cũng bày tỏ lòng kính
trọng trước những suy tư, triết lý uyên áo, hiểu biết
thâm, sâu của những nhân vật đó.
Nói như thế,
không có nghĩa, trên “sân khấu” truyện ngắn của
chúng ta, không có những vật chính bị tác giả giễu
cợt, lố bịch hóa. Nhưng, theo tôi, có dễ chưa có một
nhân vật trung tâm nào, lại “kém may mắn” như nhân
vật “chàng” trong truyện Trần Thị NgH. Dù cho chính
chàng (hay nhờ có chàng,) mà chuyện “ngoại tình” được
ghi, thuật.
Dẫu vậy,
nhìn từ góc độ khác thì, sự “kém may mắn” của
nhân vật chính, trong truyện “Nhà có cửa khóa trái,”
lại là “may mắn” của Trần Thị NgH. Loại “may mắn”
tương thích với thổ nhưỡng truyện ngắn thiếu bóng
cây của tác giả.
Đã thế, sự
“kém may mắn” của nhân vật chính, “chàng” trong
truyện Trần Thị NgH. lại không dừng ở cái “…quệt
nước bọt trong tay áo.” Nó đi tới, nhanh, gấp,
như hình thái “pháo cấp tập” trong một trận đánh
sinh tử, theo cách nói của những nhà nghiên cứu quân sử.
Nó cũng có thể được ví như những cú “hồi mã
thương,” ngoạn mục?
Vì, sau đó,
nơi đoạn văn kế tiếp (một trong vài đoạn văn…“đẹp”
bởi tính chất nhẹ nhàng trên nền truyện “ngoại
tình,” tác giả viết:
“Đêm đó,
chúng tôi yêu nhau. Chàng không ngạc nhiên khi biết tôi
còn ngây thơ. Chàng nói không phải sự trong trắng của
tôi quyến rũ chàng. Chàng mê sự sòng phẳng của tôi.
Trong hơi thở nồng ấm tình ái, tôi nghe chàng nói nhỏ:
“- Em…
“- Nghĩa là
sao?
“- Nghĩa là
em yêu anh chứ sao!
“- Vì sao yêu
nhau người ta dày vò nhau?
“- Để nhớ.
“Tôi bấu
tay trên lưng chàng. Thật không còn thứ đau đớn nào
hơn. Thứ đau đớn để nhớ lại bùi ngùi về sau trong
những tình cảm ơn nghĩa. Đêm nóng và mùi mồ hôi trộn
lẫn giữa hai người làm tôi bứt rứt cảm động.”
(Sđd. Tr. 630, 631.)
Cảm xúc dấy
lên. Tan đi. Chớp mắt! Nó bị bôi xóa phủ nhận lập
tức. Với cụm từ: “Rồi sao nữa, trời đất!”
Tựa cả hai nhân vật chính, đều bị tác giả bất ngờ
xô sấp xuống vũng nước lạnh buốt phũ phàng:
“Chàng khen:
“- Em can đảm
đảm lắm.
“Tự nhiên
tôi nói lớn, giọng hờn mát:
“- Rồi sao
nữa, trời đất!” (Sđd. Tr. 631.)
Vẫn hình thức
so sánh, đối chiếu, không cần hỏi, tôi cũng có thể
quả quyết rằng, trước “tâm cảnh” này, tác giả
“Vòng tay học trò” - Nguyễn Thị Hoàng sẽ phóng
bút bay bổng tới những tầng trời thơ mộng, bằng vào
sức đẩy cực mạnh của nhiều tính từ lãng mạn…
Tôi cũng tin,
nếu đọc lại kho truyện tình của hai mươi năm văn học
miền Nam, chúng ta sẽ rất khó tìm được một nhà văn
nữ nào khác, trong giây phút bùi ngùi, chia tay người yêu,
nơi cuối truyện, lại có mẩu đối thoại “côn đồ”
như bốn chữ “Vừa thôi, cha nội!”:
“Một hôm
chúng tôi đồng ý xa nhau. Nàng sẽ về trong tháng tới
giữa lúc cả tôi lẫn chàng đều gần như kiệt quệ.
Tình ái là cái gì thật kinh khủng. Cuộc ngoại tình của
chàng dần dần chỉ còn là những cố gắng tuyệt vọng,
chàng thú thật. Đêm cuối chúng tôi say rượu ngất ngư.
Tôi ngả ngớn hát ca dao:
“ ‘Đồng
hồ sai vì bởi dây thiều…
“ ‘Em xa anh
vì bởi sợi chỉ điều xe lơi’…
“Chàng, mặt
mũi đỏ ké đỡ tôi vào phòng trong. Chàng dụi mặt vào
cổ tôi, phụ họa:
“ ‘Đứt
dây nên gỗ mới chìm
“ ‘Bởi anh
ở bạc em tìm nơi xa’…
“Chàng hỏi:
“- Ngoại
tình là gì?
“-Vừa thôi,
cha nội!
“Đêm túy
lúy, ngây ngất.” (Sđd. Tr. 636.)
x
Bây giờ, tính
chất ngổ ngáo hay “côn đồ” trong văn chương nữ
giới, đã trở thành một hiện tượng được nhiều tác
giả khai thác. Họ không chỉ bước theo lộ trình văn
chương khô, nẻ sa mạc, thiếu bóng cây của Trần Thị
NgH, cách đây trên bốn mươi năm…Mà, hơn thế, những
cây bút nữ này, còn chủ tâm “phô diễn” trước tiền
trường văn xuôi hôm nay, những táo tợn nằm ngoài phạm
trù văn chương!
Họ đem vào
văn bản của mình, những mô tả chi tiết về bộ phận
sinh dục nam / nữ. Họ cực tả chi tiết những cuộc làm
tình, một cách hưng phấn nhất…Tựa như đó là những
“chứng chỉ” xác định “đẳng cấp” mình!
Tiếc thay,
ngoài sự trần trụi của những con chữ, chúng không hề
cho người đọc một điều gì khác hơn, tự thân trần
trụi của những mô tả ấy.
Từ đó, ta
thấy, tính ngổ ngáo, gây gỗ trong văn xuôi của Trần
Thị NgH, bỗng trở thành “lạc hậu,” so với không ít
những cây bút nữ sau bà, hôm nay.
Nhưng, ở phạm
trù văn chương, với sự thiếu vắng bóng cây trong thổ
nhưỡng truyện ngắn Trần Thị NgH - - Nói cách khác,
chính cái khí hậu khô, nẻ kia, đã nắm tay Trần Thị
NgH, cùng bước lên chuyến tầu lịch sử hai mươi năm
văn học, nghệ thuật miền Nam.
Sau bà, mọi
cửa toa đều…“khóa trái!”
Đoàn tầu rời
sân ga chữ, nghĩa miền Nam, cách đây đã 36 sáu năm.
Chính xác hơn, có thêm vài tháng, lẻ.
Du Tử Lê,
(Calif. June
21-2011.)
---------------------------------------------------------------------------------------
Chú thích:
(*) Trần Thị
NgH tên thật là Trần Thị Nguyệt Hồng, sinh ngày 18 tháng
4 năm 1948 tại An Xuyên, Cà Mau. Ngoài viết văn, bà còn
dạy nhạc và, vẽ.
(1)Trích Tuyển
tập “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương
chúng ta.” Tr. 627. NXB Sóng, Sàigon, 1974.