
Chỉ
vài năm, kể từ những truyện ngắn đầu tiên, xuất hiện trên các tạp chí
như Văn Học, Văn, Hợp Lưu, xuất bản tại Hoa Kỳ, Lê Minh Hà đã mau chóng
trở thành một tên tuổi chói, gắt với một thế giới mà, nếu cô không phá
bung được bức màn sắt ... (thì,) những người ngoại cuộc, khó có
thể tưởng tượng được, rằng, giữa cộng đồng nhân loại hôm nay, đã có
những cảnh đời, như thế, hiện hữu. Cảnh đời của những con người được chế
độ Cộng sản Việt Nam "xuất cảng" như họ đã và đang xuất cảng "nước mắm,
tôm khô, cá khô, củ kiệu" vân vân...
Đó là những cảnh đời Việt
Nam được mặc, khoác nhãn hiệu "trao đổi lao động"; mà thực chất chỉ là
một thứ ở đợ, một thứ tôi mọi, trong thời đại mới.
Cùng với sự
sụp đổ của bức tường Bá Linh, tháng 11 năm 1989, Lê Minh Hà, bằng ngòi
bút của cô, đã phá vỡ những bức màn sắt kín bưng để ánh sáng nhân bản
rọi chiếu tới cảnh đời thuộc thế giới những con người, như những con vật
lao động, "được...xuất cảng" qua Đông Âu.
Cũng nhờ đôi mắt
người chứng, đôi mắt nhà văn của Lê Minh Hà, thể hiện qua ngòi bút châm
biếm lạnh dưới không độ của cô (mà,) người ta được biết, không phải ai
cũng có thể được đưa vào danh sách "xuất cảng lao động!"
Ngòi
bút Lê Minh Hà điềm nhiên, nhẩn nha tới độ có thể làm người đọc chảy
nước mắt, khi cô ghi nhận những sự kiện từng bước chân trong hành trình
tôi mọi của lao công thời đại mới. Từ giai đoạn chạy chọt, hối lộ, thậm
chí bán vợ, đợ con, để được vào danh sách "lao động xuất cảng;" tới
những hoạt cảnh phũ phàng khi những kẻ được coi là "may mắn," bắt đầu
cuộc sống bán sức lao động nơi xứ người.
Không có những truyện ngắn,
như những bản cáo trạng nghiêm khắc của Lê Minh Hà, chúng ta sẽ không
thể tưởng, nghĩ rằng, những kẻ được coi là "may mắn," "thành phần được
ưu đãi" của chế độ cộng sản kia, có thể là một chị cán bộ, một anh sinh
viên, hay một giáo sư, một bác sĩ, một kỹ sư,... sau khi đến xứ sở họ
được "xuất cảng" tới, lại là đời sống của một con vật hai chân.
Trước
đây, nếu trong khuynh hướng văn chương xã hội tả chân, chúng ta có một
Nam Cao, một Vũ Trọng Phụng, thì ngày nay, chúng ta hân hoan (hay chua
xót) có được một Lê Minh Hà!
Trước đây, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng,
bằng ngòi bút của họ, đã mạnh mẽ, quyết liệt tố giác thủ đoạn trấn lột
kẻ bị trị một cách đê tiện thực dân Pháp. Nhưng, dẫu sao, người ta vẫn
còn có thể hiểu được. Bởi vì, đó là ngoại nhân. Đó là lẻ xâm chiếm, đô
hộ.
Nhưng, ngày nay, cũng qua văn chương, với Lê Minh Hà, người
đọc sẽ bao lần đau xót, xấu hổ, tủi nhục hơn, khi kẻ trấn lột và kẻ bị
trấn lột lại có cùng một mầu da, một giòng giống, một chủng tộc.
Phải chăng, vì thế, khi viết về cảnh giới văn chương Lê Minh Hà, Võ Phiến đã ghi nhận:
"Chị
bình tĩnh, mà rất tinh. Chị nhìn vào đâu, cuộc sống ở phía ấy nó giật
mình, luống cuống. Nó tự thấy có gì thất thố, hớ hênh. Lũ chó đêm đêm
sủa mưa đầu ngõ, con chim lợn kêu eng éc giữa khuya trong khu phố, cái
mùi nhàn nhạt lờm lợm vãn cuộc ái ân trong gian phòng chật người tỵ nạn
bên Đức, v.v..., trước và sau cái nhìn của chị những cái nọ vẫn còn đấy.
Nhưng chị bắt gặp, nó bối rối liền. Chị không nói gì nhiều, nhưng cuộc
đời nó buồn hiu. Nó chợt thấy mình nhếch nhác...."
Cùng một cảm quan với Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, viết:
"Những
truyện ngắn 'hiền khô' của Lê Minh Hà gây kinh ngạc và tạo cảm giác
lâng lâng dài lâu trong tôi sau khi đọc xong. Có thể nói nếu những nhà
văn khác như Thế Giang, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Phạm thị
Hoài, Bảo Ninh... thuộc dòng 'văn chương vết thương', thì Lê Minh Hà
thuộc dòng 'văn chương vết rạn'. Văn của chị không có tiếng nổ, tiếng
gào thét xung phong hay tiếng rú đớn đau. Chỉ có những lời thì thào,
những tiếng nấc nghẹn, những nỗi đau âm thầm..."
Trên tất cả mọi
nhận xét, mọi ghi nhận của văn giới, người đọc Lê Minh Hà, ngay nơi
những truyện ngắn thứ nhất, đã nhìn thấy họ Lê, như một Nam Cao của
thời hiện đại.
Trên tất cả mọi nhận xét, ghi nhận của văn giới,
ngay nơi những truyện ngắn thứ nhất của Lê Minh Hà, nhà cầm quyền Cộng
sản Việt Nam, đã nhìn họ Lê, như một thành phần nguy hiểm cho chế độ. Họ
đánh giá, phân, định Lê Minh Hà vào một lớp, loại khác hơn Dương Thu
Hương, khác hơn Nguyễn Huy Thiệp...
Cách gì những Dương Thu Hương, những Nguyễn Huy Thiệp vẫn nằm trong phong tỏa, kiềm chế của nhà nước.
Cách gì, những Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp cũng vẫn là những con kiến bò trên miệng chảo.
Lê Minh Hà, không phải vậy.
Dù Lê Minh Hà, cũng như những nhà văn cùng thời với cô, cũng được sinh ra, lớn lên trong lòng chế độ cộng sản.
(Lê
Minh Hà sinh năm 1962 tại Hà Nội, tốt nghiệp khoa Ngữ Văn đại học Sư
Phạm Hà Nội I, năm 1983. Mãi tới năm 1994, cô mới theo chồng xuất cảnh
theo diện "Xuất cảng Lao động, và hiện cư ngụ tại thành phố Lingurg, Tây
Đức.")
Cách gì, chí ít, cũng cho tới ngày hôm nay, Lê Minh Hà vẫn là cánh chim tự do.
Hoàn cảnh vẫn cho phép Lê Minh Hà lương thiện, trực tiếp soi rọi lương tâm mình trong tấm gương đời sống.
Lê
Minh Hà không phải vay, mượn những trái khói mầu, mang tên ẩn dụ, mang
tên dữ kiện lịch sử, kể cả thần thoại, huyền sử, để dỗ dành ngòi bút,
phủ dụ lương tâm.
Hoàn cảnh cho phép Lê Minh Hà cất được tiếng
nói mà những người cầm quyền hôm nay ở Việt Nam không muốn nghe, nếu
không muốn nói là khiến họ phải căm giận.
Hôm nay, ở đây,
chúng tôi trân trọng kính mời quý độc giả đọc lại truyện ngắn "Có
Chồng," trích trong tập "Gió Biếc" của họ Lê, một thứ Nam Cao thời hiện
đại.
Có Chồng Vậy là ả có chồng. Chồng - ấy là cái mà từ thuở hai mươi ả không bao giờ mong có.
Một
đôi giày cao gót kiểu mới đua chị đua em; một thỏi son có thể kín đáo
quẹt lên môi cho môi hồng lên mà mọi người không biết... Ả có thể mong
có những thứ ấy, thiết tha mong trong một ngày xa xôi nghèo khó nào đấy.
Nhưng chồng, muốn có chồng, tuyệt nhiên không! Ấy là vì ả biết mình.
Gái ngoại thành, từ bé đã phải cấy phải gặt phải gánh phải gồng, người
cứ bè bè. Nhớn nhao một chút, thoát ly đi làm ở xí nghiệp dệt khăn mặt
khăn tay, cũng suốt ngày đi. Có ai đó đã tính rằng một công nhân đứng
máy dệt như ả mỗi ngày đi hết một đoạn đường ba mươi hai km. Đi thế, bắp
chân to ra, bàn chân cũng to ra. Tướng người ấy giá đi với một gương
mặt tròn tròn, ưng ửng hồng từng lúc thì có khi còn được coi là có dáng
phúc hậu. Đằng này... Những ai ai mỏng mày hay hạt, chứ còn ả, mặt đã
mỏng, lại choắt như hai ngón tay úp chéo. Cái vệt duy nhất đầy đặn trên
mặt ả là cái mũi. Sao mà nó to!
Khi còn trẻ, mười tám đôi
mươi, ả cũng có lúc mong thầm cho mình có duyên có phận. Ừ! Biết đâu!
Biết đâu! Nồi méo vung méo xoay quanh cũng vừa. Nhưng chẳng thấy ai là
đàn ông trêu ả, trừ mấy ông làm công đoàn ở xưởng. Mà họ đùa thế nào
chứ: "Cô Hoài bao giờ báo cáo với tổ chức để công đoàn đứng ra đấy? Ấy,
đám cưới của cô thì chắc là đông lắm!". Một thằng thợ đi qua ngứa mồm:
"Chứ lại chả đông! Con em lúc đó khéo cũng có con rồi. Thế nào em cũng
bảo nó đưa con đến mừng bà trẻ". Ả tủi lắm. Nhưng vẫn cười: "Ừ! Khi nào
chị có phúc có phận, chị mời hết cả ngũ đại đồng đường nhà em".
Vào xí nghiệp từ hồi mười tám, nhoáng cái nhìn quanh đã chẳng còn mấy
người để ả gọi anh xưng em. Ả biến thành "chị ấy", "bà ấy" nơi cửa miệng
thiên hạ lúc nào không biết. "Bà ấy tính cũng quái như người". "Người
đâu xấu người, xấu nết, xấu đến cả c...". Người ta cứ nửa đùa nửa thật
nửa thương nửa ghét ả như thế. Nào ả có làm gì ai! Một thân một mình ở
giữa một khu tập thể quanh năm suốt tháng ồn ào tiếng mẹ trẻ réo con,
tiếng chồng đay vợ ban ngày, tiếng rúc rích ban đêm sát liếp, ả đâm thù
ghét cái hạnh phúc thực ra rất lem nhem mà thiên hạ bày trước mắt. Ả
thành người đi sớm về muộn; thành chiến sĩ thi đua năm này qua năm khác.
Người ta đâm ngại ả. Cái sự chăm chỉ quá đáng của ả, cả cái mác chiến
sĩ thi đua kia nữa làm cho người ta mất thoải mái lúc tranh thủ uống ấm
chè hay hóng hớt nhau trong giờ làm việc.
Nói vậy chứ cái
mác chiến sĩ thi đua đã giúp ả một cú quyết định. Ấy là vào lúc xí
nghiệp lấy danh sách đi hợp tác lao động quốc tế. Đi Đức hẳn hoi. Ả lên
gặp giám đốc, nài: "Anh ưu tiên em vào danh sách đợt này". Ông giám đốc -
người đã có thâm niên hai mươi năm ngồi ở nhà máy trên cái ghế này,
người vẫn bị phó giám đốc dè bỉu một cách có vẻ đầy thiện ý: "Hơ. Ông ấy
trông đúng là trẻ thật, chứ tuổi thì... chỉ hơn sáu mươi chứ sáu mươi
thì làm gì đến" - cười: "Cô là nòng cốt ở xí nghiệp này, phải phấn đấu
trở thành cán bộ kế cận chúng tôi chứ. Để cô đi thế nào được". "Em chữ
nghĩa bổ túc ban đêm chẳng có là bao. Mà em tính đã làm cán bộ kế cận
thì chỉ kế cận anh thôi. Nhưng làm sao thay được người như anh". Thêm
đôi lần quà cáp nhỏ to với bà vợ ông giám đốc lúc đó đang là phụ trách
nhà ăn, thế rồi ả lên đường.
Thánh nhân đãi kẻ khù khờ. Ả
nghiệm ra các cụ thật chí lý. Người ta mất hết của cải, liều thân chôn
mình trong hàm cá trên đường vượt biển. Ả chỉ một bước là đã thoát sang
bên kia, sang hẳn Tây Đức. Cũng là dòng đời đẩy đưa. Bức tường Berlin
sụp đổ, đầu tiên là bọn ả đi xem, nhân thể mua về bên Đông những là gạo
là nước mắm là bánh phở - những thứ người Việt đi hợp tác lao động quốc
tế phải chịu thèm chịu nhạt. Rồi thì sang tị nạn, "xem nó ra sao", "ngồi
không trong trại lĩnh tiền tiêu vặt còn hơn lương cu li ở Đông Đức
trước chả hơn à". Và khi có chế độ mới cho tỵ nạn vốn xuất thân thợ
khách thì ả xin nhận lại Pass, ra khỏi trại đi làm.
Những
ngày làm thợ ở Đông Đức, những ngày tỵ nạn bên Tây, ả đã dự bao nhiêu là
đám cưới của anh chị em người Việt. Có những đôi đúng là đũa lệch,
chồng trai tơ vợ nạ dòng, chồng thành phố vợ nhà quê một cục ăn cơm mắm
môi cầm đũa và suỵt soạt. Ả chẳng mong ước gì, nhưng có lúc cũng lạ lùng
thấy mình chờ một câu đùa nhạt của chị em: "Đến bao giờ bọn em được
giúp chị Hoài đây?" rồi, "Ông ấy... ông ấy cứ hỏi thăm chị mãi"...
Rồi thì vẫn thế. Ả vẫn một mình trong cái Wohnung hai phòng sau mỗi
buổi từ hãng trở về. Một thân một mình, phải tự lực tất tần tật. Phải có
ô tô. Thì ả đã có ô tô. Thỉnh thoảng đến nhà mấy đứa cùng chạy từ Đông
Đức sang, nhìn chúng nó hú hí với chồng con và nghe những câu đùa nhạt
như sữa dành cho người ăn kiêng, lại muốn về nhà bật ti vi cho có tiếng
người... Ả vẫn như xưa, chẳng ai để ý, chẳng ai muốn giúp đỡ dù ả đúng
là đàn bà.
***
Nhưng bây giờ ả đã trở thành cần
thiết cho một người. Chồng ả. Một tấm chồng ra chồng. Có bằng bác sĩ ở
nhà. Cái ấy là đồ trang sức tuyệt vời cho mấy anh đàn ông tỵ nạn đang
phải rửa bát trong quán Tàu. Chàng trước đã vợ con và chẳng thể nào lo
nổi cho vợ con bằng đồng lương bác sĩ bệnh viện huyện. Chàng quyết làm
kinh tế. Nước Đức thống nhất là vùng kinh tế mới tuyệt vời. Đời phải có
lúc hèn. Thì đã hèn rồi. Không sợ. Đời phải có lúc liều. Thì đã liều
rồi. Vợ chồng chàng bàn nhau, vợ chàng đem con về bên ông bà ngoại, cái
nhà cấp 4 của hai vợ chồng thì bán lấy tiền chạy cho chàng. Chàng dặn
vợ: "Về ông bà có thể lâu lâu rồi các cậu các dì xì xèo, hai mẹ con gắng
chịu. Vài ba năm anh về rồi đổi đời. Đổi đời. Mình sẽ xây nhà ba tầng.
Để hẳn tầng một anh mở phòng khám. Phục vụ tận tình, trang thiết bị đàng
hoàng, giá rẻ, chẳng hút hết bệnh nhân từ bệnh viện huyện ấy à. Vào đó
nào có ít tiền đâu mà bị hạch cho lên bờ xuống ruộng. Mình có làm thế
thì mới để được phúc lộc cho con...".
Cái sự toan tính của
người đang hy vọng thật dễ nghe. Nhưng cả người ở lẫn người đi đều không
biết rằng sự làm giàu ăn vào cái số. Tốt số hơn bố giàu. Chàng sang
Đức, về định cư ở một làng heo hút, ra ga phải mất nửa tiếng chạy bộ,
còn đi bus thì một chuyến một ngày. Hai năm trời, chàng chưa hòa vốn vé
máy bay cộng tiền cho dịch vụ đưa người. Chàng không thể ngồi tính toán
lẩn thẩn như anh bạn cùng phòng: "Thế này còn hơn chán vạn ở nhà. Ăn
uống tiết kiệm, mỗi tháng cũng để dư ra được trăm rưởi mác. Hòm hèm cũng
là một triệu ở nhà. Bằng vợ tớ nuôi lợn thành công cả năm giời". Trong
trí chàng, còn nguyên vẹn hình ảnh căn nhà ba tầng chưa xây mà tầng dưới
sẽ là phòng khám.
Ả gặp chàng vào dịp ấy. Sau đó thì ả biết
là chàng lúc đó đã sắp phải lên máy bay hồi hương lúc nào không biết.
Sau đó thì một cô em họ của chàng thầm thì: "Hay là chị giúp anh ấy.
Khổ! Hồi đi, thật anh ấy cũng chỉ nghĩ đi cứu vợ cứu con. Nay tiền vào
không thấy mới chỉ thấy tiền ra. Mà về thì sợ. Gì thì gì cũng là thằng
trí thức vượt biên, khéo về đã chẳng lo gì được cho vợ cho con mà vợ con
còn bị lụy".
Cái sự "giúp" ấy ả nghe hiểu ngay. Nghĩa là
làm đăng ký kết hôn với nhau và chàng sẽ được ở lại. Ấy là một dịch vụ
đang sôi nổi trong cộng đồng người Việt, giá dao động từ mười bảy đến
hai mươi nghìn mác.
Cô em họ của chàng lại thầm thì: "Anh ấy
ở ngần ấy năm không có việc làm, cũng chẳng móc đâu ra tiền. Nếu chị có
lòng, bọn em sẽ dồn tiền giúp anh ấy theo giá chị định. Rồi khi có Pass
anh ấy được chuyển vùng, được đi làm thì cũng chả mấy nỗi... Mười bảy
ngàn được không chị?".
Ả không nhận đồng nào của chàng.
Thành thử cuộc hôn nhân giữa ả và chàng đâm ra làm cho cả hai bối rối.
Nó chẳng ra thật chẳng ra giả. Nó thiếu cái sòng phẳng cần có trong mọi
dịch vụ, nó thừa cái lương tâm thời buổi này chẳng ai tin. Mà ả thì thật
lòng. Ả nghĩ tới cái tương lai gần của một gia đình sắp sum họp: Chồng
bác sĩ mất việc; vợ giáo viên cấp hai kiêm bán xôi sáng; Thỉnh thoảng
công an tới gọi chồng lên đồn hỏi về những việc đã làm khi ở lại nước
ngoài trái phép; người vợ và đứa con sẽ nhớn nhác; người chồng thì buông
xuôi...
Ả nhận lời kết hôn với chàng. Biết là một trò chơi.
Vậy mà lúc đứng trước nhân viên của Phòng đăng ký kết hôn ả bất chợt
bồi hồi... Rồi ả mơ màng. Dù thế thì cũng rấr ít khi ả dám nghĩ về đêm
đó. Chàng xách vali về Wohnung của ả. Ả đã tính với chàng như thế. "Anh
cứ ở tạm nhà em. Vùng này dễ kiếm việc, có Pass rồi thì xông đi làm
ngay. Rồi anh kiếm chỗ ở khác sau. Làm sao cuối năm có một khoản gửi về
cho chị ấy nuôi cháu. Rồi cũng phải có một khoản khác để chị ấy mua lấy
một căn nhà, bằng cái nhà cũ đã bán đi cũng được. Chứ lấy chồng rồi mà
lại mang con về nhà cha mẹ đẻ khi các em đã nhớn thì cũng rách việc
lắm". Chàng nhìn ả biết ơn. Hôm đó đi làm về, ả không đi loăng quăng cửa
hàng cửa họ mà về làm cơm ngay. Cơm cá kho, rau muống luộc qua rồi xào
tỏi, nước vắt chanh. Ả ăn ngon như chưa bao giờ ngon thế.
Đêm đó, ả trở thành đàn bà. Đàn bà khi ả ba bảy tuổi...
... Chàng không dám nhìn thẳng ả từ đêm đó. Đôi lúc ả có cảm giác ánh
mắt chàng lướt qua mình. Ả không hiểu nổi chàng nhờm tởm ả vì ả quá xấu?
Hay chàng nhờm tởm chính bản thân chàng? Chàng ân hận?
Nhưng "chuyện đó" thỉnh thoảng vẫn tái diễn. Và không hiểu sao, lòng ả
muốn thế mà ả không thấy diệu kỳ như lần đầu. Lần đầu tiên, ả muốn rống
lên như một con bò cái. Lần sau, những lần sau nữa, ả như một bó rạ.
Chàng vần ả như một bó rạ, ghì siết ả như một gã nhà quê ghì buộc một bó
rạ.
Một hôm, ả đi làm về đã thấy chàng cơm nước xong xuôi.
Chàng ngồi bên bàn chờ ả. Dọn xong bát đũa, chàng nói ngay, bứt rứt,
bình tĩnh, về sự chàng sẽ ra đi. "Tôi biết ơn Hoài vô cùng. Hoài đã cứu
cả tôi lẫn vợ con tôi. Xin Hoài đừng hận tôi. Tôi đã xin làm tả chạp, ăn
ở luôn tại quán. Nếu kiếm ra, tôi xin gửi dần Hoài số tiền lo giấy tờ
mà trước Hoài đã có lòng...".
Ả há mồm. Muốn nói. Rằng chàng
tính thế là tính vội. Rằng chàng có thể ở rốn thêm mấy ngày. Rằng có
Pass chàng có thể kiếm việc ở hãng, chẳng nhàn gì nhưng cũng không đến
nỗi đầu tắt mặt tối như làm quán. Nhưng ả không nói được. Ả cứ há mồm
ra. Chắc lúc đó trông ả đã xấu càng thêm xấu. Và chắc là nhìn đần độn
lắm.
Chồng ả không về nữa. Đôi lúc ả nghĩ tới vợ con chàng.
Không ân hận. Chỉ thấy thương người đàn bà kia và thương thân hơn. Chị
ta và ả đều đã từng được cưới.
Tính ra ả cũng được tới hơn
mười lần gần gũi. Nhưng từ hôm kia, ả hốt hoảng vì cảm giác mình sắp có
kinh. Thiên hạ sao vô tâm. Gặp ả, có người hỏi: "Thế nào, tiền cưới
chồng đã đủ mở quầy ăn nhanh chưa?"