và, px. nguyên.
“đời
tẻ nhạt liếm môi mình cũng nhạt.
“tóc
trên đầu vẫn từng ngọn riêng tây.”
(thơ dtl.)
1.
Chiếc xe hối hả như muốn chạy đua cùng mặt trời đang bị
những sợi giây vô hình vội vã kéo lên cao. Nắng sớm từng chùm lọt qua cành,
nhánh những rặng xoài nặng trái. Nhác trông, như những chiếc võng xanh ương,
treo lửng, đu đưa bởi gió đồng.
Trên những thửa ruộng lúp xúp chân lúa mới gặt, nước đọng
từng vũng do sự nấn, nuối của những trận mưa rào mấy ngày trước. Xa xa, đôi ba
cánh cò trắng soải chân, buồn bã, bay. Tựa chúng không chút bận tâm về việc
hình ảnh chúng bị hắt lại từ những tấm kính không gian trong suốt, dựng theo
chiều thẳng đứng; được chia lô bởi những thân cổ thụ cụt đầu, đã khô quắt;
nhưng vẫn muốn phô diễn lần cuối, sự có mặt ngạo nghễ (dẫu tuyệt vọng) của
mình.
Nếu không kể tài xế, chiếc xe có bốn người cho ba hàng ghế.
Hai phụ nữ. Một trung niên. Tóc ngắn. Bề ngoài, cô cho thấy
là một người đã miễn nhiễm với tất cả mọi biến động thời thế, xã hội. Nhưng đôi
mắt nửa nghiêm khắc, nửa tinh anh của cô, lại cánh giác những ai sáng ý rằng,
đó là một người nhạy cảm mà, cái tâm từ của cô, lúc nào cũng sẵn sàng đào những
hố, hầm cho cô sập bẫy-xót-xa. Ta cũng có thể nói, đó là người phụ nữ được sinh
ra để quên mình, sống cho kẻ khác.
Người còn lại, tóc dài. Còn trẻ. Nhưng dường như mái tóc
của cô cũng tự hiểu rằng, nó không đủ tiềm năng cạnh tranh với chiều cao của
cô. Chiều cao của một cây…liễu. Đó là một phụ nữ có nét đẹp sang cả của khối…nước
đá. (Loại nước đá không tan dù cho bạn có phơi nó dưới ánh nắng hay, sức nóng ở
độ nào!)
Họ rì rầm nơi băng ghế áp chót. Chỉ trời hiểu họ nói gì,
với nhau!?!
Nơi băng ghế ngay sau lưng tài xế, là phần đất “quy hoạch”
của hai người đàn ông. Người trẻ, ở khoảng tuổi trên dưới dưới bốn mươi. Nhưng
những nếp nhăn đã thấp thoáng, không chỉ trên vầng trán bướng bỉnh mà, cả nơi
đuôi mắt. (Tôi xin nói riêng với bạn mà không sợ sai rằng, đó là loại thanh
niên đánh bạn sớm với những con rết nhiều chân.)
Dù ở tư thế nào: Cúi xuống, nhìn thẳng hay ngước lên, người thanh niên đánh bạn sớm với những con rết nhiều chân, vẫn là
cái nhìn ưu uất, nhức nhối nhiều thất lỡ? (Có thể tôi đã có cảm nhận không đúng
lắm về anh. Nhưng tôi tin, nhiều phần, ngay anh, cũng không đọc hết được chính
mình!)
Người đàn ông còn lại ở khoảng tuổi trên dưới bảy mươi. Một
ông già hiền từ, ngu, ngơ, như đa số những ông già khi đã bước vào tuổi “tri
thiên mệnh,” thường có khuynh hướng trở lại chu kỳ đầu. Chu kỳ tuổi thơ. (Với ông
già này, thưa bạn, tôi lại thấy cần phải nói thêm rằng “Ngó vậy mà không phải vậy!
Hay…đúng vậy! Tùy người đối diện…”)
Là kẻ bên lề, tôi chỉ biết, chiếc xe vẫn hối hả như muốn
chạy đua cùng mặt trời đang bị những sợi giây vô hình vội vã kéo lên cao. Nắng
sớm vẫn từng chùm lọt qua cành, nhánh những rặng xoài nặng trái. Nhác trông,
như những chiếc võng xanh ương, treo lửng, đu đưa bởi gió đồng.
2.
Mặt trời vươn vai. Cao hơn. Khoảng cách giữa chiếc xe và,
chân trời dường ngắn lại chút ít. Bỗng, người
thanh niên đánh bạn sớm với những con rết nhiều chân cất tiếng.
Giọng nói khê cứng cơm cháy, trộn lẫn sự kẹo quánh khói
thuốc của anh, không liên quan gì tới những thửa ruộng lúp xúp chân lúa mới gặt
và, nước đọng từng vũng do sự nấn, nuối của những trận mưa rào mấy ngày trước.
Có liên quan chăng là, đôi ba cánh cò trắng soải chân, buồn bã, bay. Tựa chúng
không chút bận tâm về việc hình ảnh chúng bị hắt lại từ những tấm kính không
gian trong suốt, dựng theo chiều thẳng đứng; được chia lô bởi những thân cổ thụ
cụt đầu, đã khô quắt; nhưng vẫn muốn phô diễn lần cuối, sự có mặt ngạo nghễ (dẫu
tuyệt vọng) của mình.
Anh kể, tới giờ, dù đã hơn ba mươi năm trôi qua, thỉnh
thoảng, trong mơ, anh vẫn gặp hình ảnh chị Chi, người chị lớn, mới chớm thanh
xuân, sau tháng 4-1975, xõa tóc, thùng thình trong bộ quân phục đại lễ trắng của
cha anh. Với cầu vai đen, hai chiếc ngù, đôi hàng giây tua óng ánh đỏ, nửa đêm chị
bước tới bể nước, tự dội cho mình liên tiếp những gáo nước lạnh, như khởi đầu một
lễ tấn phong hay, một cuộc tế thần linh, kỳ dị.
“Trong trí óc non nớt với tưởng tượng thô thiển của một đứa
nhỏ sáu, bảy tuổi là tôi thuở đó, tôi không biết có phải chị tôi đang cử hành một
lễ tế sống cha tôi trong trại tù cải tạo? Hay đó là hình thức mời gọi những
linh hồn oan khuất, vất vưởng đâu đó, tụ về chứng giám cái chết oan khốc đang
được tính từng ngày của chị?
“Tôi chỉ nhớ, trong ánh trăng trắng nhợt như những tấm da
heo đã được cạo sạch, nước biến mái tóc thiếu nữ của chị tôi thành những con rắn
đũa, lúc nhúc thả chiếc đuôi đen bóng của chúng xuống đôi vai thanh xuân sớm gầy
guộc. Trong khi những giây tua óng ánh đỏ, dính bệt nhau, thành những con đỉa máu
trương bụng, trườn mình trên cánh tay chị tôi, nứa lép; là hình ảnh ma quái,
ghê rợn nhất thơ ấu tôi…
“Cuộc đời đã chào đón tôi, như thế. Định mệnh nghìn tay,
nghìn búa, đã bổ xuống đầu tôi, như thế! Như thế đó, định mệnh nghìn tay, nghìn
búa dòng bao nhiêu năm, đã không bỏ sót một người nào trong gia đình tôi. Ngay
mẹ tôi, một người đàn bà nếu bước lên
bàn cân, với tất cả quần áo, giầy dép cũng chỉ có trên ba mươi kí, cũng không
được oan nghiệt nới tay. Hơn thế, tôi cảm tưởng bà còn đưa đầu, nhô vai nhận lãnh
bớt những nhát búa hận thù, tủi nhục thay cho chúng tôi…”
(Người thanh niên không cao giọng, không phẫn khí. Anh
nói đều đều như thể đó là những vang âm từ một thế giới nào khác. Của một người
nào khác. Tôi không biết có phải vì thế mà chiếc xe tuồng đã rùng mình. Chậm lại?
Ông già ngu, ngơ đặt tay mình lên bàn
tay xương xẩu của người thanh niên. Cái bàn tay đang nắm lại, tựa ra sức bóp chết
một sinh vật nào đó, (thí dụ những con đỉa máu?)
Người
phụ nữ như được sinh ra để quên mình, sống cho kẻ khác,
nhoài người lên băng ghế trước, vỗ vỗ nhánh vai so của người thanh niên. Người phụ nữ có nét đẹp sang cả của một khối
…nước đá, nhắm mắt. Cá nhân tôi, cũng đành quay mặt.)
Chiếc xe như đuối sức sau cuộc rượt đuổi bất cân xứng với
mặt trời. Người tài xế cho thấy rõ ý định tìm hàng quán, nghỉ chân. Trong lúc người
thanh niên sớm đánh bạn với những con rết
nhiều chân, kể tiếp:
“Bây giờ chị Chi tôi đã có gia đình. Hàng ngày chị vẫn
ngược xuôi trên những con đường mà, cách đây hơn ba mươi năm, chị từng kéo lê
cơn điên lùng nhùng trong bộ quân phục đại lễ trắng, chiếc ngù đỏ, để bán từng
chai nước tương phụ chồng nuôi con. Bây giờ chị tôi đã là một người khác. Một
người không liên quan dù chỉ một chút, tới những lễ tấn phong hay, những buổi tế
thần linh. Quá khứ. Nhưng không vì thế mà tôi dám hỏi chị về những đêm trăng. Bầy
rắn đũa. Đám đỉa máu. Có thể tôi, chính tôi (không phải chị Chi) sợ sự sống lại
của chúng.
“Bước vào tuổi bốn mươi, tôi hiểu: Nếu có những kỷ niệm
chúng ta thường xuyên muốn gặp lại, thì cũng có những kỷ niệm, chúng ta phải dỗ
dành, phải nằn nì nó:
“Hãy ngủ! Hãy ngủ! Hãy ngủ! Rán ngủ, nghe con!”
Chiếc xe dường hối hả hơn trong cuộc chạy đua với mặt trời
sắp đứng bóng. Tôi muốn nói, nó thở hào hển hơn. Nhưng cảm giác ưu uất lại có
phần gia tăng trong lòng xe. Không một người nào trong đám họ, hút thuốc. Cũng
không một người nào dám thở mạnh. Vậy mà, độ kẹo quánh khói thuốc ám trong tiếng
nói khê cứng cơm cháy của người thanh niên, vẫn bị đẩy tới mức cao nhất.
Đó là lúc những người bạn rết nhiều chân của anh hiện ra,
chạy nhầu khắp khuôn mặt đá, sỏi. Đó là lúc anh kể về anh Tuấn, người thứ ba của
mình:
“Anh Tuấn
tôi chọn sự đánh mất mình, sau cuộc đổi
đời. Anh bỏ học, cúi xuống chiếc bóng và đôi chân mười tám, hai mươi sớm nứt,
nẻ, cày bừa thay cha nuôi em. Để thấy mình còn là con người, nhiều khuya khoắt,
anh tôi ra bờ suối gần nhà. Với cây đàn guitar đã bước vào giai đoạn mục nát và,
những tập nhạc mỗi khi mở ra, những trang sách như những cánh bướm rách rưới,
cùng tiếng rì rào không nguôi của suối đêm, anh hát bằng giọng của ai đó, như
những nhát cuốc đào sâu thêm chiếc huyệt phần số đời mình! Ngặt thay, những ca
khúc anh chọn, không chừa cho tôi một khe hở, để có thể phân biệt giữa ca từ và
bóng tối…”
Những ca khúc u mị mà, ‘con dế buồn’... đã-sống-từ-cái-chết-của-nó,
nơi vô thức của đứa trẻ sáu, bảy tuổi là người
thanh niên sớm đánh bạn với những con rết nhiều chân hôm nay, vẫn còn thoi
thóp. Thở.
Anh nói:
“Nhiều đêm, tôi không biết tiếng
đàn, tiếng hát của anh Tuấn, hay do tiếng rung cánh mơ hồ của ‘con dế buồn’ đã thôi thúc tôi lần ra bờ
suối tìm anh. Nhưng, dù bởi nguyên cớ nào, điều tôi nhớ, vẫn là những vòng tay
anh Tuấn quàng qua tôi. Anh ôm tôi. Xiết ghì. Như ôm nỗi ghẻ lạnh mà, thời thế
đã giáng xuống đầu chúng tôi, giữa khi mái tóc anh em tôi còn xanh, sữa. Cũng có thể anh Tuấn muốn thay cha, truyền
chút hơi ấm của người cho tôi! Những phút đó, tôi không rõ anh Tuấn có biết rằng
tôi đã khóc?!. Tôi khóc, vì tủi thân. Tôi khóc, vì những giọt nước mắt của anh
rớt xuống mặt tôi. Những giọt nước mắt mang theo sự tuyệt vọng, côi cút, của
chúng tôi. Của gia đình. Của mẹ tôi và, có thể, cũng là của cha tôi trong tù,
nữa!”
Chiếc xe vẫn lao tới như thể đó là định mệnh bất khả chuyển
của nó. Trong khi hai người nơi băng ghế sau, tôi nghĩ, nếu không kiềm hãm, có
thể họ cũng đã bật khóc.
Tôi hiểu, như chiếc xe, họ không thể khác khi người thanh niên sớm đánh bạn với những con
rết nhiều chân, tiếp tục kể về hai người anh còn lại của mình. Anh Trâm và
anh Thuần. Hai người anh còn lại, như hai khối thương tâm khác, cùng đi ra từ một
gốc cổ thụ. Cụt đầu!!!
(Bạn tôi, xin bạn cho tôi được hỏi: Bằng ngay thẳng tối
thiểu, bạn có tin, trong chúng ta, liệu có kẻ nào tự thân không là một khối thương
tâm?!?)
Người thanh niên chấm đứt câu chuyện của mình vừa lúc mặt
trời đứng bóng. Đó cũng là lúc đám cò trắng đã nhúng đôi chân vào những vũng nước,
như sự nấn, nuối của những trận mưa vài ngày trước. Mặc dù chúng vẫn không chút
bận tâm về việc: Có phải hình ảnh chúng bị hắt lại từ những tấm kính không gian
trong suốt, dựng theo chiều thẳng đứng...?
3.
Biển bị phân cách bởi bức tường đá dài, khiến những chiếc
tầu ngoài khơi như những cánh tay dơ cao ngọn đèn đỏ, không ngừng chớp, tắt.
Tôi không biết lúc nào thì tín hiệu SOS kia, được đám đông bên này bức tường
đáp ứng. Nhưng tôi nghĩ, ta không nên trách họ. Bởi mỗi người cũng vốn là một ốc
đảo. Họ bị cắt rời thành từng miểng. Như buổi tối bị cắt thành từng miểng, lúc bàn
tay tinh nghịch nào đã vẩy thêm ít, nhiều hắc ín cho bóng đêm.
Trong đám người thả bộ dọc bờ biển, tôi không thấy người
tài xế. Có thể anh đã tìm được chỗ ngả lưng, để chuẩn bị cho hành trình ngày
mai. Tôi chỉ thấy
người phụ nữ được sinh
ra như để quên mình sống cho kẻ khác, sánh vai người
thanh niên đánh bạn sớm với những con rết nhiều chân. Rất khó đoán
họ nói gì với nhau. Tôi đồ chừng có thể họ tiếp tục câu chuyện bị ngưng trên
xe, lúc mặt trời đứng bóng. Cũng có thể người phụ nữ nói về quá khứ của cô. Một
quá khứ có phần dữ dội, bi thảm hơn quá khứ của người thanh niên mà, tháng Tư, 75, là điểm khởi. Nhưng đó là chuyện
tôi sẽ kể với bạn vào một dịp khác, khi hoàn cảnh cho phép. Ngay lúc này, tôi
chỉ muốn nói tới
người phụ nữ có nét đẹp
sang cả của khối…nước đá và,
ông già
ngu, ngơ ngu, đi sau.
Người phụ nữ khoác tay ông già. Hình ảnh cha, con? Tôi tin
nhiều người sẽ nghĩ thế.
Riêng tôi biết, có dễ cũng nhờ tương quan này mà, người
phụ nữ kể được những gì cô muốn nói.
Bắt đầu từ đây, để dễ dàng cho người kể chuyện là tôi,
xin bạn cho phép tôi ghi lại điều tôi nghe được, ở dạng độc thoại. Nghĩa là người
phụ nữ có nét đẹp sang cả của khối…nước
đá, sẽ xưng “tôi.” Ông già ngu, ngơ, sẽ vắng mặt. Bạn hãy
coi ông như một miểng rời, bị bóng tối cắt ra và, ném đi. Mất tích.
Tôi là đứa con thứ hai trong số 3 chị em gái của ba, mẹ
tôi. Tôi sinh ra ở Đà lạt, hai năm sau biến cố tháng 4-75. Tuy không phải là
con gái út, nhưng cha tôi lại chọn tôi, để trút tất cả tình thương ông có được.
Tôi không nghĩ trong mắt nhìn của ông, tôi đẹp hơn chị Hai hoặc bé Út. Tôi định
bụng, sau này, khi lớn khôn, có dịp, tôi sẽ hỏi ông về tình yêu ấy.
Nhưng trước nhất, hiển nhiên nhờ tình yêu thương đặc biệt
ông dành cho tôi, như những cánh rừng thông bạt ngàn và, những con suối quanh
năm chỉ nói những lời ân cần, dịu dàng mà, tôi được dạy dỗ nhiều điều, ngay khi
còn rất nhỏ. Một trong những điều tôi nhận được từ ông, là âm nhạc. Tôi biết,
thuộc khá nhiều nhạc xưa. Loại nhạc một thời người ta gọi là “nhạc vàng.” Tôi vẫn
thầm biết ơn ông xiết bao! Cũng như tôi những tưởng mình sẽ mãi được là cô “công chúa nhỏ,” trong vòng tay bảo bọc hết
mực của cha mình.
Nhưng một ngày kia, thảm kịch bất ngờ, gõ cửa gia đình
tôi.
Đó là một buổi tối, đi công việc về, cha tôi bắt gặp hai
người em sinh đôi của người, uống rượu say, la lối, đập phá trong phòng. Không
dằn được cơn giận, cha tôi lớn tiếng với các chú. Sự kiện này, với tôi, không mới
mẻ hay, ghê gớm gì. Nó đã xẩy ra nhiều rồi, trước đấy.
Tôi nhớ hơn một lần cha tôi giải thích với tôi rằng, biến
cố tháng 4-75 đảo lộn tất cả một trật tự xã hội, đạo đức… Chỉ không may cho hai
chú tôi, ở tuổi vừa trưởng thành, họ đã bị xã hội gạt ra lề đường! Họ trở thành
một thứ rác rưởi, cặn bã trong chế độ mới. Mặc cảm ký sinh trùng, sống nhờ, sống
bám vào lòng thương hại của ông anh và người chị dâu, dù có tế nhị mấy, cũng vẫn
khiến các chú có những cơn điên của con thú bị thúc ké. Khi rẻ. Nhưng cha tôi bảo:
“Con an tâm. Ba nghĩ từ từ rồi hai chú sẽ vượt qua được
khó khăn đó. Khi họ nhận ra rằng tình thương ba, mẹ dành cho hai chú, là tình
thương chân thật của máu mủ, ruột thịt. Chưa kể rồi đây, ba sẽ cố gắng thu xếp
một vài công việc thích hợp cho các chú…”
Tôi tin lời cha tôi. Như tôi hằng tin bất cứ điều gì ông
nói.
Buổi tối khi thảm kịch kia xẩy ra trước mắt tôi, thì đó
là lần đầu tiên và, cũng là lần cuối cùng niềm tin những gì cha tôi nói, đã
hoàn toàn sụp đổ. Nó bị bôi xóa bằng máu của cha tôi, bởi đôi tay của các chú!
Đó là lúc họ như hai con thú điên, lao vào cha tôi, với
chai lọ, ghế, bàn có sẵn trong phòng. Họ không ngớt trút xuống đầu cha tôi, những
trận mưa thù hận mà, tôi nghĩ, ngay cha tôi, cũng không tài nào hiểu được.
Rất nhanh, vâng, rất nhanh, cha tôi đổ xuống như một thân
chuối nát bấy, với đôi mắt mở lớn. Kinh ngạc. Tôi muốn nói, cũng như tôi, có thể
đó là điều đầu tiên và, cuối cùng, ông không tin, có thể xẩy ra trong gia đình
tôi. Tôi biết, ông càng không tin, nó có thể xẩy ra, cho chính ông!!!
Khi đó, tôi vừa bước vào tuổi mười ba! Cha tôi mới băm
ba!
Thảm kịch như lời chúc dữ chứa trong cơn bão lớn, quét sạch
mọi thứ. Tôi nhấn mạnh, mọi thứ. Không chỉ đời sống hàng ngày mà, luôn cả đời sống
tinh thần của chúng tôi.
Chồng chết, mẹ tôi, cũng mới băm ba tuổi, đã phải bôi mặt,
xông ra đường phố, xuôi, ngược buôn bán nuôi con. Không còn cha, chị Hai tôi
theo mẹ mỗi ngày ra chợ. Bày hàng. Từ sáng tới khuya khoắt.
Mười ba tuổi, tôi thay mẹ, thay cha lo cho bé Út. Như một
thân cây non, được cưng dưỡng trong chậu quý, chờ ngày đơm bông; vậy mà, chỉ một
chớp mắt, tôi trở thành cây dại, sau vườn! Nắng, mưa đời thường, phũ phàng biến
đổi tôi. Cuồng lũ năm, tháng, suồng sã lột da tôi.
Để tồn tại, để lo được cho em và, sau này, lo cả cho mẹ,
tôi không có chọn lựa nào khác hơn: Đổi khác. Từ một đứa con gái được cưng chiều,
dễ khóc, quen nhõng nhẽo với cha, tôi trở thành một cô gái lạnh lùng. Tựa…đá.
Tôi gần như không cho phép mình được ủy mị suốt thời thiếu nữ. Trong tôi, phần
nam tính, kể từ hậu thảm kịch, như nấm sau mưa.
Hơn ai hết, tôi hiểu, tôi biết rất rõ, những người chung
quanh nhìn tôi ra sao, thế nào. Không thiếu người đã gọi tôi là “Thằng con trai giả gái!” Không thiếu người
đã nửa đùa, nửa thật, bảo tôi, “Nên đi đổi…giống!”
Tôi biết chứ! Đâu phải tôi không tự thấy cái cứng còng,
cái khô rốc, khô rác nơi gương mặt, cử chỉ của mình. Nhưng, như đã nói, tôi
không có chọn lựa nào khác. Tôi nghĩ, tôi phải tồn tại. Tôi nghĩ, tôi phải sống.
Tôi phải sống thay cho phần đời sống bị ngắt đi quá sớm của cha tôi. Mà, muốn tồn
tại, muốn sống còn, tôi không thể không có cho mình chiếc mặt nạ, cái áo giáp cần
thiết ấy.
Đã mấy ai (ngay mẹ
tôi, chị Hai, bé Út) biết rằng, nhiều đêm một mình, tôi nghe những dòng lệ tủi chảy
ngang môi. Những giọt lệ tôi tin, sẽ không thể chảy xuống chính môi tôi, nếu
không muốn nói là chúng sẽ không có cơ hội trào ra, nếu cha tôi còn sống. Nếu
hai chú tôi nương tay một chút thôi…trên đầu, trên mặt, trên thân thể cha tôi (cũng
là người anh máu mủ nuôi, nấng hai chú!)
Nếu. Nếu. Nếu…
Nhưng, thôi. Dẫu có nói gì thêm, nói bao nhiêu nữa, thì mỗi
con người, mỗi chúng ta, cũng chỉ là một miểng rời, bị bóng tối (sau khi được vẩy
thêm ít, nhiều hắc ín,) cắt, chia thành từng miểng phân, ly!?!.
4.
Nhà hàng trên mặt hồ, như kết quả của những kiễng chân,
nhón gót quá trớn của chính nó. Nơi chiếc bàn hình chữ nhật, có tất cả sáu nhân
vật. Tôi dùng hai chữ “nhân vật” cho có
vẻ trịnh trọng. Sự thực, đó là bốn người của buổi tối trước ở biển. Hai người mới,
một là em gái của người phụ nữ được sinh
ra, dường để sống cho kẻ khác. Cô có vẻ mau mắn, như nụ cười sởi lởi luôn
có trên môi. Người thứ hai là một người đàn ông đã bước qua tuổi trung niên.
Ông phục phịch, bệu bạo một cách đáng nghi ngại, với khuôn mặt hồng hào của một
thứ “hồng hài nhi.”
Gió từng cơn luông tuồng khua khoắng nhà hàng bốn phía
không vách ngăn, mang theo trong nó nhiều nhắn nhủ không thành tiếng. Đêm trải
từng lớp sương mỏng, như giấy quyến lên mặt hồ. Khá xa, nơi bờ bên kia, những
tòa nhà cao tầng sáng đèn, không in bóng xuống mặt nước. Người ta cũng không
nghe được tiếng rì rầm của xe cộ chạy trên con lộ bên tay trái nhà hàng. Nhờ thế,
khi người đàn ông có khuôn
mặt hồng hai
nhi kể chuyện bằng giọng Quảng Trị, đôi lúc như bị nghẹt, ríu vì xúc động, mọi
người vẫn nghe được.
Ông kể, sau mười năm, ba tháng tù trở về, ông tá túc nơi
nhà bà chị. Qua giai đoạn đạp xích lô, ông biết mình thất bại vì không đủ sức. Đối
đế, ông viết một bức thư, cho người vợ vượt biên đã lâu, mang theo mấy đứa con
chung.
Lá thư được viết một cách rất ý tứ, phòng xa lọt vào tay
người đàn ông mà, vợ ông đang chung sống. Ông cẩn trọng gọi vợ ông bằng “chị.” Ông kể cho chị biết, ông mới ra tù. Ông nhắc chút ít tình nghĩa những ngày
chung sống, cũ. Mọi sự kiện được đề cập trong lá thư, chỉ nhằm mục đích dẫn đến
việc ông xin chị giúp ông năm trăm bạc,
để ông có phương tiện làm lại cuộc đời. Trong thư, có đoạn:
“Năm
trăm đồng tôi biết với chị chẳng là bao. Nhưng với tôi, trong hoàn cảnh của một
người mới ra tù và trong hiện trạng của đất nước mình hiện nay, thì đó lại là một
số tiền rất lớn. Mong chị hiểu cho rằng, vạn bất đắc dĩ, tôi mới phải viết thư
này. Xin chị an tâm, tự hậu, chị sẽ không bao giờ nhận được từ nơi tôi, một lá
thư nào khác…”
Người
đàn ông phục phịch, bệu bạo một cách đáng ngại, đọc đoạn thư viết
cho người vợ cũ, bằng giọng lên bổng, xuống trầm; lưu loát như thể ông đã đọc
nó cả nghìn lần trong hơn hai chục năm qua. (Tôi muốn nói, nếu ông không đọc
cho ai đó nghe thì, chí ít ông cũng đọc cho…chính ông, những lúc một mình?)
Đoạn thư của người
đàn ông có khuôn mặt hồng hài nhi làm đốm thuốc nơi tay người thanh niên đánh bạn sớm với những con
rết nhiều chân, bất dộng. Những người
còn lại cúi xuống bàn tay vô duyên, lạc lõng trên mặt bàn của họ. Chỉ
riêng người con gái mau mắn, với nụ cười
xởi lởi luôn nở trên môi là nhấp nhổm, bứt rứt.
Không thể nín, đợi lâu hơn, cô hỏi:
“Rồi sao anh? Chị ấy gửi ngay tiền cho anh chứ?”
Người
đàn ông phục phịch, bệu bạo một cách đáng ngại, lắc
đầu. Ông châm cho mình điếu thuốc khác. Không nhìn ai, ông chậm rãi:
“Ngày ấy, nếu có được năm trăm của bà ấy, cuộc đời tôi đã
khác. Chắc chắn tôi đã không nhận làm công việc mà, đến hôm nay, tôi biết, anh
em, bạn bè cũ vẫn còn khinh tôi. Họ nhìn tôi như một kẻ ‘sớm đầu tối đánh!’ Mà
cũng đúng thôi! Họ có cái lý của họ. Chỉ tôi biết, tôi cùng đường. Tôi quá đói!
Nghề mạt hạng là đạp xích lô thì tôi không có sức. Sau chừng đó năm tù, được thả
ra tôi đã mang theo trong người hàng chục thứ bệnh…Tôi cũng có nghĩ tới chuyện ăn
chực một số bạn bè chứ! Nhưng nhà nào, dù có tốt mấy, họ cũng chỉ có thể cưu
mang tôi dăm ba bữa! Thời đó, mọi người còn đói lắm. Họ cũng bữa đói, bữa no.
Chưa kể còn vợ, con họ…
“Nói thế, không có nghĩa tôi quên ơn người giúp tôi. Anh từng
bị anh em tôi ngày xưa, coi là kẻ thù. Giữa lúc tôi sắp chết đói, thì anh ta cho
tôi chén cơm…Nhờ thế, tôi còn sống đến ngày hôm nay. Dù sao, tôi cũng không bao
giờ quên cái ơn ấy…”
Người đàn ông ngừng lại để thở. Kéo thêm một hơi thuốc,
ông tiếp:
“Khi anh ta không còn, tôi cũng nghỉ việc.” Ông thở ra.
“Nhưng cách gì thì tay tôi cũng đã nhúng chàm!” Ông kết
thúc câu chuyện.
Tới đây, người con
gái mau mắn, với nụ cười xởi lởi luôn nở trên môi không biết nói gì. Tới phiên
cô cúi xuống. Cô chẻ những ngón tay mình ra để sau đó, đan vào nhau, một cách
ngượng nghịu.
Gió vẫn từng cơn luông tuồng khua khoắng nhà hàng bốn
phía không vách ngăn. Về khuya, dường nó mang theo nhiều hơn những nhắn nhủ
không thành tiếng. Đêm cũng trải dầy thêm, những lớp sương mỏng, như giấy quyến
lên mặt hồ.
Trước khi chia tay, người
phụ nữ được sinh ra, để sống cho kẻ khác hí hoáy viết ít giòng trên tấm
khăn giấy. Cô chuyển nó cho ông già ngu, ngơ:
“Bất hạnh là thuộc từ của đời sống. Cuộc sống sẽ khác đi
biết bao, nếu ta có thể đem lòng biết ơn
cả những bất hạnh mà nó đã đem đến cho ta. Dù cho ‘đời tẻ nhạt, liếm môi mình cũng nhạt / tóc trên đầu vẫn từng ngọn riêng
tây.”
Đọc xong, ông già gật đầu. Mỉm cười.
Nhưng, liệu ông có hiểu?
Du Tử Lê
(Calf. Mar. 19 2011.)