
Cách đây không lâu, một bằng hữu , trong chỗ thân tình,
cho tôi câu hỏi, đại ý:
- Nếu không có đợt người Việt tỵ nạn đợt đầu tiên, với
con số lên tới hơn một trăm ngàn người hồi tháng 4-1975; rồi kế tiếp là những số
lượng thuyền nhân, H.O, đoàn tụ gia đình…nhiều lần hơn thế, để hôm nay, chúng
ta có gần 2 triệu người Việt tỵ nạn ở khắp nơi trên thế giới thì, chỉ riêng sinh
hoạt văn học nghệ thuật của chúng ta thôi, sẽ ra sao nơi đất khách?
Tôi chưa kịp trả lời, người bạn đã khẳng định:
“…Theo tôi, dòng chảy đầy sáng tạo, những bước chân đi tới
những chân trời khai phóng, thử nghiệm của 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam
sẽ biến mất! Những lượng phù sa mầu mỡ bồi đắp cho hai bờ sông văn học của
chúng ta sẽ bị đứt mạch một cách tức tưởi. Nó bị bức tử. Như cái chết đột ngột,
cay đắng của miền nam Việt Nam vậy…”
Người bạn tuy không trong giới làm văn học, nghệ thuật
trước đây, cũng như sau này, nhưng lại là người rất trân trọng các sản phẩm trí
tuệ của những tài năng văn học miền Nam, vì phấn kích nên đã ném mũi lao của
ông đi xa hơn. Ông giả dụ, biển vẫn đưa vào các bến bờ tự do, một số Việt tỵ nạn.
Nhưng nếu đó là con số quá nhỏ, thưa thớt, rải rác như những bụi cây cọc còi giữa
sa mạc thì, dù cho trong số ấy, có những người vốn từng là văn nghệ sĩ, liệu họ
có môi trường, có lực đẩy là người thưởng ngoạn để tiếp tục cầm bút, sáng tác?
Cũng không đợi tôi trả lời, ông nói:
“Không. Tôi tin là không. Bằng chứng là trước khi dân tộc
chúng ta có hiện tượng thuyền nhân, tỵ nạn thì, ở một số quốc gia trên thế giới,
chúng ta cũng đã có cái gọi là tập thể Việt kiều hay cộng đồng người Việt… Như
cộng đồng người Việt ở Pháp, ở Mỹ…Nhưng con số ấy quá nhỏ để tự thân, hình
thành được một dòng văn học, nghệ thuật dù khiếm tốn! Mà phải tới sau tháng
4-1975…”
Câu hỏi, đúng hơn, suy nghiệm của người bạn, cũng là một
thành viên tích cực trong giới thưởng ngoạn văn chương Việt (dù mỗi ngày một
thêm co cụm) ở quê người, cho tôi cơ hội nhìn lại. Nhìn kỹ. Nhìn sâu hơn sự nối
mạch ở lãnh vực văn học, nghệ thuật của chúng ta, nơi xứ người.
Nhìn lại này, thức dậy trong tôi, lòng biết ơn những tài
năng, những trí tuệ văn học, chỉ bắt đầu hay, chỉ thực sự giầm mình trong dòng
chảy văn học kể từ sau biến cố tháng 4 -1975.
Theo tôi, họ là những người chẳng những nối tiếp mà, còn
khai thông tắc nghẽn, khi những văn nghệ sĩ tên tuổi trước 1975 cạn kiệt sức
sáng tác. Buông bút vì hoàn cảnh, tuổi
tác…
Họ cũng không chỉ là những người lãnh nhiệm vụ thừa kế
truyền thống văn học nhân bản của miền Nam, 20 năm mà, còn là những người tiên
phong, đi tới những chân trời văn học mới.
Vẫn theo tôi, nhờ lớp thừa kế này mà, sự suy trầm của
sinh hoạt văn học nghệ thuật ta, ở quê người được cứu vãn phần nào. Bởi những
rung động, cảm nhận của họ, là những lượng máu mới. Sáng tác của họ là thịt, da
trẻ trung. Hưng phấn thanh niên.
Nhưng, nói tới một nền văn học, nghệ thuật là, nói tới sự
kết hợp thành tựu của nhiều bộ môn khác nhau. Phổ cập nhất, chúng ta có thể kể
tới thi ca, văn xuôi cho bộ môn văn chương. Âm nhạc, trình diễn…cho bộ môn nghệ
thuật. Và, vì những đổi thay khách quan của xã hội, chuyển biến tất yếu của
hoàn cảnh, môi trường sống, theo thiển ý tôi thì, âm nhạc và trình diễn đã,
đang, sẽ còn chiếm giữ vai trò cây-bài-chủ. Con ách chuồn của lãnh vực này.
Đời sống, nhất là đời sống ở những xã hội tây phương, thời
gian, sự ngặt nghèo tới cay đắng của nó, đã cắt, tỉa dần người đọc. Sự cầm lên
một cuốn sách, nghiền ngẫm một tác phẩm văn chương, thực tế hôm nay, là điều gì
giống như một xa xỉ quá quắt! Nhưng, khi ngồi vào xe, trên đường di chuyển, việc
bật nút mở một đĩa nhạc, hoặc nơi phòng khách, trong phòng ăn, sự kiện cả gia
đình cùng theo dõi một chương trình văn nghệ, lại là điều dễ hiểu. Đơn giản tới
mặc nhiên.
Trong hoàn cảnh với những điều kiện khách quan như vừa kể,
tôi cho âm nhạc là…“hoa khôi.” Âm nhạc là “bà chúa.” Âm nhạc là “nữ hoàng.”
Âm nhạc, do đó, không phải là ánh sáng le lói cuối đường
hầm mà, là nguồn ánh sáng chói lọi. Nó là tiếng thì thầm gợi thức mọi xung động
tình cảm tưởng đã ngủ yên, hay tàn lụi trong đời sống tinh thần của một con người,
quay cuồng giữa nhịp sống hối hả hôm nay.
Một trong những người mới, đóng góp phần tài năng, trí tuệ
không nhỏ của mình, vào nguồn sáng chói lọi hay, tiếng thầm thì lai tỉnh những
rung cảm tưởng đã ngủ yên kia, là cõi giới âm nhạc Đăng Khánh.
Khi dùng chỉ-định-từ “người
mới” cho Đăng Khánh, tôi nghĩ không đúng lắm. Vì tôi biết, nhạc phẩm đầu
tay “Tiễn em chiều mưa,” Đăng Khánh viết
cách đây gần 50 năm cho người yêu, Phương Hoa, (cũng là người bạn đời sau này của
ông.) Đó là năm 1966, khi Đăng Khánh / Nguyễn Nhật Thăng là giáo viên dạy tại
các trường trung học như Hưng Đạo, Đắc Lộ, Đồng Tiến, trước khi tốt nghiệp bác
sĩ nha khoa ở Saigon. (1)
Khi dùng hai chữ “người
mới” tôi chỉ muốn nhấn mạnh, mặc dù sáng tác rất sớm, nhưng Đăng Khánh chỉ
thực sự đem âm nhạc của mình đến với giới thưởng ngoạn vào đầu thập niên 1990, ở
quê người. Nói cách khác, Đăng Khánh thuộc lớp nhạc sĩ “…chỉ thực sự giầm mình
trong dòng chảy văn chương, nghệ thuật kể từ sau biến cố tháng 4 -1975.”
Tôi không biết, có phải vì ông muốn hoàn tất chương trình
bác sĩ nha khoa ở Hoa Kỳ, mở phòng mạch đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cộng đồng
Việt ở Houston, đầu thập niên (19)80; trước khi cho phép mình trở lại với tình
yêu âm nhạc?
Tôi không biết, có phải ông chờ cho những máu, xương đất
nước, kinh hoảng chia lìa của biến cố tháng 4-75 ngấm, lặng cơn đau trước khi cầm
bút lại?
Tôi cũng không biết, có phải ông đợi tới khi nghe được tiếng
thánh thót của những hồi chuông hạnh ngộ duyên khởi giữa thi ca và âm nhạc?...
Nhưng dù lý do nào, tôi vẫn thấy cần phải nói rằng: Đăng
Khánh lại là một trong trường hợp đặc biệt. Tôi muốn nhấn mạnh, sự kiện những ca khúc của
ông được đám đông đón nhận ngay! (Tựa dòng nhạc của ông là niềm chờ đợi, khao
khát bao lâu của đám đông!) Khi ông quyết
định gửi tới người nghe, tình khúc “K.
khúc của Lê.” (Người đầu tiên trình bày là danh ca Duy Trác, khi họ Khuất mới
đặt chân tới Hoa Kỳ.) Rồi, liên tiếp sau đấy là những tình khúc như “Em ngủ trong một mùa đông,” “Lệ buồn nhớ
mi,” “Hạt mưa bay cuối đời,” vân vân…
Những ca khúc vừa kể của Đăng Khánh, đã được nhiều ca sĩ
nổi tiếng hải ngoại, lần lượt trình bày, thu hình, thu âm… Phải chăng cũng vì
thế mà, rất mau chóng, một số trong những sáng tác kể trên của Đăng Khánh, đã
“vượt biển,” ngược về quê hương nguyên gốc. (Dù tên tuổi ông không thường được
giới thiệu.) Chúng xuất hiện trên sân khấu một số phòng trà từ nam ra bắc, như
những hạnh ngộ rói tươi niềm vui, pha lẫn chút ngậm ngùi khuất lấp…
Tôi thường phát biểu rằng, mỗi tác phẩm, như một cuộc đời,
luôn có cho riêng nó một định mệnh. Nếu cảm nhận này đúng và, có thể ứng hợp với
một số sáng tác của Đăng Khánh thì, tôi e, tôi sẽ khó có giải thích nào khác
hơn:
- Định mệnh đã ân cần với Đăng Khánh - - Như trong đời
thường, ông hằng ân cần với người. Hoặc:
- Định mệnh đã dịu dàng, luôn nở nụ cười ưu ái với Đăng
Khánh - - Như trong đời thường, Đăng Khánh hằng dịu dàng, luôn nở nụ cười ưu ái
với bằng hữu của ông vậy.
Du Tử Lê,
-----------------
Chú thích:
(1): Nhạc sĩ Đăng Khánh tên thật Nguyễn
Nhật Thăng, sinh năm Ất Dậu tại huyện Đại An tỉnh Ninh Bình. Cựu học
sinh trung học Võ Tánh, Nha Trang và Chu Văn An, Saigon. Tốt nghiệp đại học
Khoa học và Nha Khoa Saigon (D.S). Năm 1978, tốt nghiệp Đại học Nha Khoa
Alabama in Birmingham Hoa kỳ (D.M.D)