Nói
tới văn chương Nam bộ, là nói tới chiếc chìa khóa căn
bản của dòng văn chương này như ngôn ngữ và, văn phong
đặc thù. Nhưng sự khác biệt giữa hai dòng văn chương
Nam bộ và miền Bắc di cư, không chỉ nằm nơi những vận
hành tự nhiên của ngôn ngữ, biểu thị những mô tả,
tình cảm, ưu tư của con người trong cuộc sống, cái
chết.
Cụ
thể như, nếu dòng văn chương miền Bắc, về hình thức,
mưu cầu đạt tới những kỹ thuật mới mẻ, tân kỳ;
mô phỏng theo những trào lưu văn học Tây Phương, từ
lãng mạn qua tới tượng trưng, siêu thực hoặc cận đại
hơn như trào lưu tiểu-thuyết-mới, hay phong trào văn
chương hậu-hiện-đại, thì các nhà văn Nam Bộ dường
chỉ bận tâm về hiệu quả chuyển đạt hay sự tương
thông dung dị, gần gũi giữa nhà văn và người đọc mà
thôi.
Một
trong những nhà văn Nam Bộ, nổi tiếng trong 20 năm Văn
Học Miền Nam là Sơn Nam. Ông có một truyện ngắn rất
phổ biến, nhan đề “Tình nghĩa giáo khoa thư.” Chuyện
kể chuyện phái viên một tờ báo ở Saigon, lặn lội về
một xã nhỏ thuộc tỉnh Rạch Giá, để tìm một độc
giả đã thiếu tòa soạn tới 6 tháng tiền báo dài hạn.
Tác giả ghi lại phần mô tả của ông xã trưởng về
nhân vật được tìm kiếm như sau:
“… Anh
ta nói có dây có nhợ, tích người học trò nghèo tên là
người Thừa Cung gì đó... chăn heo; ông quan đại thần
Lý Tích đích thân nấu cháo cho chị ăn dè đâu bị lửa
táp cháy râu. Chưa hết đâu, thầy phái viên ơi! Hễ gặp
ai say rượu anh ta nói một hơi như thầy chùa tụng kinh,
có ca có kệ. Cái gì mà các anh hãy trông người kia đi
ngoài đường, mặt đỏ gay, mắt lờ đờ... “Thầy phái
viên cười lớn, nhịp mạnh tay xuống bàn ba bốn lần
như đánh trống chầu hát bội, đôi mắt sáng ngời, chân
nhảy nhót như con nít: “- Hay quá! Hay quá! Tôi thăm ông
độc giả đó mới được. Ổng làm thầy giáo hả thầy?
Nhờ thầy đưa tôi đi tới gặp mặt. Ngộ quá hen! Ừ!
Ừ!” (Trích “Những truyện ngắn hay nhất của quê
hương ta,” trang 508, Sóng XB, Saigon 1974.) (1)
Cả
đoạn văn người đọc không thấy một so sánh hay liên
tưởng tân kỳ nào, ngoài những hình ảnh và, những ngôn
từ rặc chất Nam Bộ.
Lại
nữa, các nhà văn Nam Bộ tuồng cũng không chú tâm lắm
tới phần tả cảnh (nhất là với các truyện ngắn.) Đa
số chỉ chú trọng những chi tiết về nơi chốn, dữ
kiện cụ thể,
hầu
giúp người đọc cảm nhận câu chuyện được kể là có
thật. Thí dụ truyện ngắn “Chuyện tình” của nhà văn
nổi tiếng Ngọc Linh, với hình thức nhập đề trực-khởi:
“Tôi
cầm hai quyển tiểu thuyết 'Cuốn theo chiều gió',
sắp hàng đứng trước quầy thu tiền và xếp lá phiếu
ghi giá lên quầy theo thứ tự, chờ tới phiên mình trả
tiền. Hôm nay sắp bãi trường, nhà sách Khai Trí thật là
đông. Mọi người đứng chen chân với nhau để lựa
sách. Bà chủ vốn là người điềm đạm, ít nói mà có
lúc cũng lên giọng: '- Xin lỗi! Ông chờ một chút! Chưa
tới phiên mà!' Đứng trước tôi là một cô gái rất
đẹp, mặc đầm, áo sơ mi trắng, jupe soirée màu xanh đậm,
tóc xoã mượt mà ngang vai. Nhìn thoáng qua đã thấy có
cảm tình. Cô ta ôm một chồng sách trên tay, cao gần tới
cổ, có hơn 10 cuốn sách dày, bìa cứng. Khách mua hàng
càng chen lấn, cô càng xoay xở khó khăn. Đứng đợi lâu
quá có lẽ mỏi tay, nên cô gái đặt chồng sách. Người
bán hàng ngó cô, cô mỉm cười lấy lòng, chớ không nói
một lời…” (2)
Ngay
nhà văn Bình Nguyên Lộc, một tên tuổi hàng đầu của
văn giới Nam Bộ, trong truyện ngắn nổi tiếng “Rừng
mắn,” mở đầu truyện, tuy có mô tả cảnh vật, nhưng
ông cũng chỉ mô tả một cách giản dị, dễ hiểu, tựa
như văn nói:
“Chim
đang bay lượn bỗng đứng khựng lại, khiến thằng Cộc
thích chí hết sức. Nó theo dõi con chim thầy bói ấy từ
nãy đến giờ, chờ đợi cái giây phút nầy đây.
“Thật
là huyền diệu sự đứng yên được một chỗ trên không
trung, trông như là chim ai treo phơi khô ngoài sân nhà.
“Chim
thầy bói nghiêng đầu dòm xuống mặt rạch giây lát rồi
như bị đứt dây treo, nó rớt xuống nước mau lẹ như
một hòn đá nặng. Vừa đụng nước, nó lại bị bắn
tung trở lên như một cục cao su bị tưng, mỏ ngậm một
con cá...” (Sđd. Trang 13.) (3)
Cũng
vậy, về nội dung, các nhà văn Nam Bộ tuồng không hề
nêu ra trong văn chương của họ, những tình huống tâm lý
trầm trọng, hiểm hóc, xa rời thực tế. Họ cũng không
mấy bận tâm về những vấn đề có tính cách triết lý,
siêu hình như “Thượng đế đã chết” (?) Một đại
ngôn của triết gia F. Nietzsche. Hoặc “địa ngục ta là
kẻ khác,” một câu văn gây chấn động một thời của
cha đẻ thuyết hiện sinh Jean Paul Sartre.
Vấn
đề của các nhà văn Nam Bộ là đem mọi hoạt cảnh đời
sống hàng ngày của đám đông vào văn chương. Ngọn hải
đăng cho cõi văn chương của họ, thường không ra ngoài
những tiêu chí căn bản như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Cộng thêm tinh thần hào hiệp, giúp người sa cơ, nâng đỡ
người kẻ thất thế… vốn là truyền thống của người
dân miền Nam. Vì thế, kết thúc truyện ngắn hay truyện
dài của họ, thường mang thông điệp nhắc nhở, răn dạy
người đọc ăn ở hiền lương, cao thượng…
Tính
chất không cầu kỳ, không bí hiểm của dòng văn chương
miền Nam 20 năm trước đây, cũng phản ảnh rõ nét trong
thi ca nhiều tác giả như:
“chiều
nay bất chợt cơn mưa đổ xuống
“may
mắn anh tìm được mái hiên nhỏ nhắn trú mưa…”
(Trương
Đạm Thủy, “Mái Hiên Mưa,” hợp tuyển “Bến Tâm
Hồn: Tôi còn kỷ niệm,” trang 78. Thanh Niên XB. Saigon
2009.) (4)
Hay:
“Ồ
thích quá! Linh hồn ta cao ngất
“Và
không gian nhỏ lại gấp trăm lần.”
(Tâm
Đạm, “Say Xuân.” Sđd. Trang 21.) (5)
Hoặc:
“buổi
sáng nào nhẹ giọt sương tan
“em
mặc áo vàng màu vua chúa,
“buổi
trưa nào nắng đổ
“mặt
trời vàng thêu áo lụa em bay.”
(Thiên
Hà, “Hạ vàng.” Sđd. Trang 96.) (6)
Hoặc
nữa:
“Ong
bầu vờn đọt mù u
“Lấy
chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn.”
(Kiên
Giang, “Quê hương thơ ấu.” Sđd. Trang 126.) (7)
Tôi
trộm nghĩ, có dễ vì đặc tính không cầu kỳ, không bí
hiểm, xa rời quần chúng, nên dòng văn chương Nam Bộ là
mạch ngầm ăn sâu, bám rễ bền chặt trong sinh hoạt tinh
thần của đại đa số người dân miền Nam. Và, gía trị
lớn lao của nó, ở chính chỗ đó.
Du
Tử Lê,
(July
16 - 2012)
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Chú
thích:
(1)
Nhà văn Sơn Nam, tên thật Trương Minh Tài (khai sinh ghi
Tầy) sinh năm 1926 tại Rạch Giá, mất năm 2008 ở Saigon.
(2)
Nhà văn Ngọc Linh, tên thật Dương Đại Tâm, sinh năm
1931 tại Cà Mâu, mất năm 2002 ở Saigon.
(3)
Nhà văn Bình Nguyên Lộc, tên thật Tô Văn Tuấn, sinh năm
1915 tại Biên Hòa, mất năm 1987 tại Hoa Kỳ.
(4)
Nhà thơ Trương Đạm Thủy, tên thật Trương Minh Hiếu,
sinh năm 1940 tại Bến Tre.
(5)
Nhà thơ Tâm Đạm / Dương Trữ La, tên thật Dương Ngọc
Lạc, sinh năm 1937 tại Gia Định, mất năm 2000 ở Saigon.
(6)
Nhà thơ Thiên Hà, tên thật Dương Cao Thâm, sinh năm 1941
tại Cà Mau. Ông hiện chủ trương hợp tuyển “Bến Tâm
Hồn,” đăng tải thơ, văn, họa của những người nổi
tiếng trước thời điểm 1975.
(7)
Nhà thơ Kiên Giang, tên thật Trương Khương Trinh sinh năm
1928 tại Rạch Giá.