
Kỳ
Phong:
Tôi
chỉ muốn hỏi một câu ngắn nhưng là điều tôi trăn trở thật lâu: tác giả Việt Nam (hải ngoại)
tiếp tục viết làm gì khi độc giả ngày càng lơ là chữ nghĩa. Mong nhà văn HC đừng
cho tôi câu trả lời đại khái là viết cho riêng ông bởi tôi tin tác giả nào viết
ra điều gì cũng muốn có nhiều độc giả. Trân trọng cám ơn.
*****
Hoàng
Chính:
Nó
đã như thế mày còn lưu luyến nó làm gì nữa! Người mẹ nói với đứa con gái đang bị
phụ tình; người thiếu nữ nói với cô bạn thân đang bị tình nhân ruồng bỏ. Người
ta đã như thế, mình còn vất vả, gian truân làm chi nữa! Kẻ đang nếm mùi bạc
bẽo của nhân gian hỏi chính mình như thế.
Nếu
đổi chỗ người đàn bà bị phụ tình ấy cho nhà văn, đổi chỗ kẻ tình phụ kia cho độc
giả, và chuyển tình yêu giữa hai người thành đam mê văn chương, thì phải thú nhận
nhiều lần, nhiều lần lắm, tôi cũng hỏi chính mình câu ấy. Bây giờ người (Việt)
mình có còn tha thiết với chữ nghĩa nữa đâu, viết làm chi nữa!
Tuy
nhiên dù có người đọc hay không, nhà văn vẫn viết. Mỗi người viết có lý do riêng
của mình. Ngoài những mộng mơ không tưởng như danh, lợi; viết - tự nó – đem lại
niềm vui. Riêng tôi, tôi viết cho một người. Ai thế?
Vâng, tôi xin phép được dông dài như thế này.
Ở
trong hay ngoài nước, dù có ruồng rẫy sách vở đến đâu, vẫn có lúc người ta cần
đến chúng. Người nghèo có thể xé sách gói xôi, đem bán ký, người giàu dùng làm
đồ trang trí nội thất, hay kê chân giường, chân tủ… Và với những người còn lại
chút gì đó trong tâm hồn, sách vở và chữ nghĩa đôi khi đem lại sự cứu rỗi. Tôi
tin như thế. Khi thất vọng trước lòng người, tình đời, người ta có thể tự an ủi
rằng Xuân Tóc Đỏ, cô Tư Hồng, Chí Phèo… cũng chưa đến nỗi nào. Suốt những đoạn khổ ải của đời sống, tôi có
người bạn đồng hành thân thích; người bạn vong niên, lớn hơn tôi tới ba chục tuổi.
Anh chàng nông dân xứ Roumanie xa lơ lắc.
Anh ta tên là Johann Moritz.
Dưới
đáy sâu tuyệt vọng, có người nghiến răng nguyền rủa, có người nhắm mắt ước mơ,
có người lẩm bẩm cầu kinh, có người nghĩ đến… những nhân vật trong cuốn sách
mình đã đọc. Riêng tôi, tôi nghĩ đến Johann Moritz. Anh nông dân Johann Moritz
trong Giờ Thứ Hai Mươi Lăm của Constantin Virgil Gheorghiu. Và trong những khoảnh
khắc cùng cực của đời sống, tôi tin Gheorghiu viết Giờ Thứ Hai Mươi Lăm cho
chính tôi. Bởi nhiều lần, trong giây phút vô vọng, toan tính từ giã cõi sống
này, tôi lại thấy Johann Moritz. Tôi thấy anh bị đày ải qua hàng trăm trại tập
trung. Tôi thấy anh bị đọa đày, hành hạ hơn súc vật. Và tôi thấy anh mỉm cười,
nụ cười chân chất của một con người đúng nghĩa. Thế là lòng tôi lại bình yên.
Gần hai mươi năm
trước – giữa thời (tạm cho là) cực thịnh của văn chương Việt Nam hải ngoại -
khi tạp chí Chủ Đề của nhà văn Nguyễn Trung Hối đặt câu hỏi, “Nhà văn viết cho
ai?” tôi đã giải bày bằng một truyện ngắn. Hôm nay, trong buổi suy tàn của văn
chương hải ngoại (khi những nơi nương náu của người viết như Văn, Văn Học, Thế
Kỷ 21, Làng Văn… chỉ còn trong trí tưởng), tôi vẫn tin – như thuở ấy, điều mình
đã viết trong truyện ngắn ấy - rằng “...nếu mình viết với cả tấm lòng thì hôm
nay, ngày mai, hay cả ngàn năm sau nữa, thế nào cũng có ít là một người ở đâu
đó, nói một ngôn ngữ nào đó, đón nhận với cả tấm lòng.”
Và
thưa anh (chị) Kỳ Phong, tôi không dám trả lời thay cho các tác giả khác, nhưng
riêng tôi, cho dù - giả dụ Gheorghiu còn sống và tôi may mắn được thấy bóng ông
thấp thoáng giữa đám đông, trong một thư viện nào đó, giữa những cuốn sách thơm
mùi giấy mới, và chắc chắn là tôi không đủ can đảm đem cuốn Giờ Thứ Hai Mươi
Lăm lại xin chữ ký của ông - thì tôi vẫn tin mình viết, là viết cho những cõi
người xa xôi ấy.
Tôi
thấy mình và không ít những người viết khác làm công việc vớt trăng đáy nước. Cứ
vớt mãi, tôi tin cũng có ngày vớt được một vầng trăng.
Câu
hỏi của anh / chị thật ngắn nhưng xin cho tôi đáp lại bằng một câu trả lời dông dài; bằng một truyện ngắn.
Bởi tất cả những gì tôi muốn tỏ bày gói trọn trong ấy.
Trân
trọng.
gửi
riêng, chốn nào
hoàng
chính
Còn... Miệng thì thầm, những ngón tay quơ quào trong không khí. Và con mắt thì
láo liên. Con mắt không biết đã học gian xảo từ lúc nào. Những ngón tay vẽ rồng
vẽ rắn trong không gian. Người thông minh ắt phải hiểu ra ngay. Nhưng ông già
này không hiểu. Hay làm bộ không hiểu. Lại phải thì thào. Bố già còn... Cả bàn
tay lại phải vẽ vời nguyệch ngoạc. Còn cái đó không. Cái đó là cái gì. Nị nói
chuyện không minh bạch. Cái miệng hôi mùi thuốc rê. Cái miệng tua tủa những
râu. Cái mặt đã choắt lại mà cái miệng cứ nhất định để râu. Những sợi râu viền
quanh cái cằm nhọn, bên dưới đôi má hóp, vẽ nên chân dung một đạo sĩ đông
phương hay một tay cái bang chính hiệu. Ông già đến bực mình. Bao nhiêu buổi
chiều bóp bao tử, bó gối chờ cơm, miệng đọc với nhau những câu thơ Đường. Bồ
đào mỹ tửu dạ quang bôi dục ẩm tì bà mã thượng thôi tuý ngoạ sa trường quân mạc
tiếu cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi. Đọc cho ông già nghe, rồi ông già chuyển
qua tiếng Phổ Thông. Mê lắm. Quên cả cơn nóng bức bừng bừng trong không khí;
quên luôn cả cái mùi người đeo dính lấy hai lỗ mũi. Ông già Tầu và những câu
thơ Thôi Hộ, Lý Thương Ẩn, hay Vương Hàn... Mã thượng có phải là trên ngựa như
thượng mã phong không ông già. Có đứa đã hỏi như vậy. Ông già Tầu cải chính
ngay. Mã thượng chữ quốc ngữ (của Tầu đấy) đọc là mà xáng nghĩa là tiếng hối
thúc giống như lẹ lên vậy đó chứ hổng phải lên xe xuống ngựa gì hết ráo. Bao
nhiêu buổi chiều như thế. Ngồi học thơ người xưa, ngồi học tiếng Phổ Thông,
ngôn ngữ của nước láng giềng phương Bắc. Ông già Tầu thông minh uyên bác. Vậy
mà hôm nay nghe hỏi cái câu quá trời là đơn giản mà cứ ngớ ra; hai con mắt ngờ
nghệch như mắt người dân quê lạc lên thành phố. Đành phải ghé sát cái đầu rối
bù. Đành phải để cái mùi hôi mốc xộc lên lỗ mũi. Ruột viết chì đó. Bố già cho
mượn chút đi. Ông già trợn mắt. Hai vai xương xẩu co lên. Trông ông già giống
con mèo mới thức giấc, đang vươn vai. Hai con mắt láo liên liếc vội những hình
người lố nhố xung quanh. Cái giọng khàn nặc mùi thuốc rê thì thào. Tụi nó biết
là ở tù à nghe. Cười. Cả hai cùng cười. Ông già khéo diễu. Ngày thứ bao nhiêu
không còn nhớ được nữa. Đang ở tù mà còn sợ ở tù nỗi gì.
Vậy, mà ông già vẫn
sợ.
Cái đầu bờm xờm lắc
quầy quậy trên cái cổ xương xẩu. Bố già à. Gọi thế nghe Bắc kỳ quá lắm. Đổi qua
tiếng mẹ đẻ của ông già cho nó thân tình. Nị sợ cái gì. Đã biết là cổ lai khám
lớn kỷ nhân hồi thì còn sợ gì nữa chớ. Ông già mặc quần xà lỏn. Ai trong này
cũng mặc quần xà lỏn. Thành ra không có chỗ nào - như cái tay áo - để níu kéo,
để kỳ kèo. Nhưng hắn vẫn lì lợm. Trên đời này những đứa lì bao giờ cũng thắng
cuộc. Bố già biết không. Bố già cho mượn cây viết chì chút xíu cũng như làm ơn
làm phước để lại cho con cháu. Lâu lâu ngộ mới nhờ vả, nị từ chối coi sao được.
Một trăm mấy chục ngày không thấy được một chữ, không đọc được một câu. Như cái
thời ăn lông ở lỗ.
Năn nỉ hoài muốn gẫy lưỡi. Chẳng
lẽ trổ mòi đe dọa. Đâu có được. Làm gì cũng phải biết nghĩ trước nghĩ sau. Ông
Tầu già mà giận sẽ chẳng còn ai chuyển thơ Đường ra tiếng Phổ Thông cho mà học
nữa thì coi như hết một đời. Cô Tô thành ngoại Hàn San tự dạ bán chung thanh
đáo khách thuyền. Nị biết chùa Hàn San ở đâu không... bao nhiêu đêm nằm nhắm mắt
mơ tưởng Hàn San tự. Như đã từng mơ chùa Một Cột, tưởng chùa Thiên Mụ và nhớ
chùa Vĩnh Nghiêm, nơi có một lần anh đưa em đi hái lộc. Đó là lần duy nhất. Của
sáu bảy năm mê mải yêu đương. Em bảo bây giờ thì cứ giả nín thở qua sông đi.
Ngày rằm mình đi chùa cho bố mẹ em vui, ngày chủ nhật hai đứa đi lễ nhà thờ Đức
Bà cho ba má anh yên lòng. Mai mốt lấy nhau xong rồi, mình đi thưa ra chắc cũng
chả sao. Chúa với Phật hồi đó linh thiêng, nên em nói gì anh cũng nghe theo hết
trơn. Đêm giao thừa. Hai đứa dựa vai nhau bên cội mai già. Xác pháo đỏ những lối
đi quanh co trong sân chùa. Kỷ niệm. Trời ơi là kỷ niệm. ở đây. Và cả bên ngoài
những chấn song sắt kia, nếu không có kỷ niệm, làm sao mà sống được.
Nị cho mượn chút
đi mà. Ông già Tầu nhìn mông ra tuốt bức tường cao ở cuối gian phòng. Những vệt
giấy dán lam nham còn đó. Người ta cố xé đi cho sạch nhưng cũng vẫn còn. Vài
con chữ ghi khẩu hiệu còn sót lại như dỗ dành giấc ngủ bọn tù mỗi đêm, khi cả
lũ cùng trở mình nhìn qua phía ấy một lượt. Những con chữ bò loanh quanh trong
trí tưởng tượng. Bố già cho mượn chút xíu thôi. Nị viết thư... Ông già gằn giọng.
Rủi tụi nó bắt gặp tụi nó bỏ tù ngộ thì sao chớ. Lại bỏ tù. Ở đây ngày thứ một
trăm mấy mươi rồi mà ông già cứ nhất định trại tạm giam không phải nhà tù. Cái
đó là từ thuyết chính danh của Khổng Tử chứ ngộ có bịa ra hồi nào đâu. Ngộ
không phải là tù nhân vì ngộ có làm gì sai trái hồi nào đâu. Nị viết thư mấy ổng
bắt được là nị với ngộ sẽ vô tù. Không có. Không có gửi thư. Vậy chớ nị làm gì.
Viết cái... điạ chỉ. Phải nói dóc thật nhanh. Phải rồi. Viết cái địa chỉ rồi học
mỗi ngày cho thuộc làu làu. Mai mốt được ra ngoài đời. Nhắn dùm một hai người bạn
đồng cảnh ngộ, để nhà người ta biết mà đến thăm nuôi. Vậy là làm phước. Vậy thì
được. Ông già quay trở lại. Hai con mắt sâu, cái nhìn chọc chòi, áp đảo. Nị hứa
nghe. Hứa. Đi chỗ khác chơi, chừng năm phút trở lại ngộ đưa cho. Thì đi chỗ
khác chơi vậy. Ông già không muốn ai biết chỗ dấu báu vật. Ông già dễ thương.
Muốn ôm lấy ông mà hôn lên cái má hóp thay cho lời cám ơn. Mai mốt được ra ngoài,
mỗi người một nơi, mình sẽ kiếm đâu ra người tương đắc để cùng đọc những câu
thơ cổ. Ông già ém hơi thuốc lào hút nhờ của thiên hạ thật sâu xuống lục phủ
ngũ tạng rồi thở ra làn khói phiêu phiêu. Nắm tay đấm nhẹ lên vai hắn. Mạc sầu
tiền lộ vô tri kỷ. Thi sĩ Cao Thích ngày xưa đã viết như vậy khi tiễn bạn nị biết
không. Mắc mớ chi phải sợ con đường mình sắp đi qua sẽ không có người tâm đắc.
Len lỏi trong đám
đông. Những thằng người mốc meo hôi hám. Tiếng chửi thề vang vang. Nóng nực như
vậy mà mấy ông nội này vẫn oang oang đủ thứ chuyện. Ê bác sĩ. Cấp này tui nằm
mơ thấy con nhỏ em vợ tui hoài, có sao hông vậy. Tiếng cười vang rân. Những
thân người gẫy gập, đăm chiêu quanh một bàn cờ tướng có những quân cờ bằng giấy.
Những quân cờ viết bằng mảnh ruột bút chì quý giá của ông già Tầu.
Năm phút nhắm chừng
đã qua. Vạch những thân người nhếch nhác, tìm lối. Ông già Tầu đứng trơ vơ như
pho tượng. Ông già Tầu chờ hắn. Ông đã quá quen với sự chờ đợi. Hố mắt sâu,
thoáng nhìn tưởng chừng ai đó đã móc đi hai con mắt lạc thần. Bốn con mắt nhìn
nhau. Môi nhếch nụ cười cầu tài để được ông già dúi vội cho miếng ruột bút chì
ngắn bằng một đốt ngón tay.
Len lỏi về cái xó
của riêng mình, quên cả một lời cám ơn. Nị nhớ là đã hứa rồi đó nghe. Nhớ mà.
Nhớ mà.
Nhưng hứa thì hứa
vậy thôi.
Về tới xó góc của
riêng mình, hắn thả cái thân hình còm cõi xuống nền xi măng nhớp nháp. Hai con
mắt bâng khuâng nhíu lại dưới một vuông trán đăm chiêu. Hai con mắt dán vào
vách tường đá quét vôi vàng ệch, ám những vệt khói đen. Chỗ ấy thỉnh thoảng hắn
vẫn ngồi canh cái bếp lửa làm bằng lon sữa ghi-gô thỉnh được từ thế giới bên
ngoài. Lửa từ những thanh giấy ni lông cuộn chặt cháy chậm và toả ra đặc nghẹt
một vệt khói đen. Vệt đen ấy ám vào vách tường, vẽ lướt thướt một dáng dấp liêu
trai. Có nước sôi pha trà, tha hồ ngồi nói nhảm chuyện đời. Mà chuyện đời thì
nói hoài không hết.
Hắn trịnh trọng
chùi sạch một khoảng tường, và mím môi tỉ mỉ thả lên đó những con chữ ngoằn
ngoèo bằng mảnh ruột bút chì ông già Tầu cho mượn.
Chời ơi nị viết gì
lên tường vậy. Ông già Tầu vừa la khẽ vừa chăm chăm nhìn vách tường. Rồi lẩm nhẩm
đọc. Ngày ta buồn thần thánh cũng thôi linh. Rồi cái cổ gật gù. Hay đó. Cái này
nị nghĩ ra hả. Đâu có. Vậy ai nghĩ ra. Nguyễn Tất Nhiên. Y ta viết cho nị hả. Ừ.
Phải bạn không. Không. Quen không. Không. Không quen biết làm sao người ta viết
cho nị được. Cười. Hắn cười hạnh phúc. Ông già cười, xớt chia niềm hạnh phúc nhỏ
nhoi. Có một người không quen, viết cho mình những dòng chữ bùa phép. Hạnh phúc
chứ sao không. Làm cách nào nị biết là y ta viết cho nị. Tui đang buồn bố già
biết mà. Ừa, rồi sao. Tui đang hết tin Thượng Đế nè. Ừa, rồi sao. Vậy là lúc
mình buồn, thần thánh gì cũng chẳng còn linh thiêng nữa, không phải sao. Ừa, rồi
sao. Thành ra câu thơ đó Nguyễn Tất Nhiên viết cho tôi đó, bố già ạ. Nị nhận ẩu.
Không có ẩu đâu ông già. Hắn vừa nói vừa mân mê cái mụn ghẻ mọng nước ở kẽ ngón
tay. Móng tay lâu ngày không được cắt, gãi ghẻ sướng gì đâu. Tối nào nị với ngộ
cũng ngồi đọc thơ Đường. Nị với ngộ chu du thiên hạ, nị với ngộ bay theo tiếng
chuông chùa Hàn San, nị với ngộ uống rượu bằng chén bồ đào. Nị với ngộ đi tìm
hình ảnh hoa đào năm cũ. Nếu không có những thứ đó, tụi mình làm sao mà sống
sót cái nóng hừng hực của hơi người, bao tử tụi mình làm sao pha cho loãng được
chất cường toan tiết ra đặm đặc. Thành ra ngộ nghĩ Nguyễn Tất Nhiên làm thơ cho
ngộ. Nếu nị thích, ông ấy cũng viết cho nị luôn. Rồi mấy ông Lý Thương Ẩn, Thôi
Hộ, Liễu Tôn Nguyên, Trần Tử Ngang hay Vương Hàn gì gì đó... khi viết, cũng là
viết cho nị, cho ngộ.
Chứ cho ai bây giờ.
Ông già Tầu gật
gù. Nị học bác sĩ mà ăn nói văn hoa, mai mốt ra tù nị viết văn làm thơ được đó.
Hắn nhớ lời ông già Tầu. Và hắn thấy cõi sống này còn có biết bao nhiêu điều để
viết.
Ra khỏi chốn ấy. Hắn
mất liên lạc với ông già Tầu. Thời gian mài mòn cái trí nhớ mỏng manh. Tới những
câu thơ ông già chuyển qua tiếng Phổ Thông cho hắn, ngày xưa thuộc làu làu, bây
giờ đọc lại cũng vấp váp thảm thương.
Nhưng hắn biết chắc
những người đã đặt bút xuống viết bất cứ một điều gì chân thật, bao giờ cũng là
viết cho một người nào đó. Như Nguyễn Tất Nhiên đã gửi vào Khám Lớn cho hắn câu
thơ bùa phép; như Thôi Hộ ngàn năm trước đã gửi qua không gian và thời gian biền
biệt đến cho hắn và ông già Tầu, một dung nhan mặn mà người con gái có đôi má
hoa đào.
Và hắn tin, nếu
mình viết với cả tấm lòng thì hôm nay, ngày mai, hay cả ngàn năm sau nữa, thế
nào cũng có ít là một người ở đâu đó, nói một ngôn ngữ nào đó, đón nhận với cả
tấm lòng.
Và hắn viết, là viết
cho những cõi người xa xôi ấy.
02/02/2001
(Trong tập truyện
đêm, từng mảnh…)http://hoangchinh.net
* Thư từ, câu hỏi xin gửi về dutule@dutule.com