Tờ
báo văn chương cũng giống như một ngôi nhà, nơi đó
những người cầm bút nhận ra một chỗ để đến của
mình. Ngôi nhà, ngôi đền, ngôi chùa, thánh đường,...
gọi cách gì cũng được, nhưng trước hết người viết
biết rằng đó là nơi họp mặt của những người chọn
chữ nghĩa như một cách thế sống, nơi dành cho những
tiếng nói của văn chương, có thể những tiếng nói ấy
không cùng một giọng, nhưng tất cả đều giống nhau ở
chỗ cùng muốn chia sẻ những suy nghĩ, mộng tưởng của
mình, để cuộc sống hạnh phúc hơn. Như người thợ mộc
với cái bào, cái cưa; người thợ hồ, thợ nề với cái
bay, với vôi, với hồ;... nhà văn có dụng cụ là chữ
nghĩa. Họ giống nhau vì họ đều làm cho đời sống ý
nghĩa hơn. Tôi không nghĩ nhà văn có nhiều trách nhiệm
hơn một người thầy giáo hay một người lính. Nhưng tôi
biết chắc một điều: nhà văn không phải là một tu sĩ.
Anh ta không phải là người đi rao giảng đạo lý. Nhà
văn không thể tồn tại nếu trước hết không tồn tại
trong một cộng đồng. Anh ta chỉ là một thành viên của
xã hội. Anh ta không phải là một đơn vị biệt lập hay
cô lập. Như một miếng ngói, một viên gạch, một hòn
sỏi, một vại nước phía sau hè, một vòm mái cong, một
cành lá nằm ngang bên ngoài khung cửa sổ, một tiếng
chim hót buổi sớm,... nhà văn là một trong muôn một làm
thành đời sống.
Tôi
đến ngôi nhà đó nhiều lần như
một người khách, và sau cùng đến với nó như một
thành viên trong gia đình.
Từ
năm 1964, Trần Phong Giao, người đã cùng chủ nhiệm
Nguyễn Đình Vượng đóng góp công lao xây dựng ngôi nhà
tạp chí Văn.
Cho đến năm 1972, anh ngưng hợp tác với Văn và “bố
Vượng” gọi tôi bước vào trông coi bài vở thay anh.
Đây
cũng là thời gian nhà văn Mai Thảo thay thế họa sĩ Duy
Thanh điều hành tạp chí Vấn Đề. Khi đó, tờ Vấn Đề
đã dời tòa soạn từ đại học Vạn Hạnh về cùng một
địa chỉ với tạp chí Văn, ở địa chỉ 38 Phạm Ngũ
lão, Saigòn. Sau
khi ông Nguyễn Đình Vượng từ trần - 31 tháng 3, 1974, cô
Tuấn, con gái chủ nhiệm Nguyễn Đình Vượng thay cha quán
xuyến tờ báo. Thời điểm này, cũng là lúc tôi phải
trở lại dạy toàn thời gian cho các trường, ngoài Petrus
Ký là trường chính, còn nhận lời phụ trách môn Triết
lớp Đệ nhất Trường Sơn của Nguyễn Sỹ Tế, Văn Học
của Nguyên Sa-Trần Bích Lan, Lê Bảo Tịnh của Linh mục
Thanh Lãng, và cả trường nữ Regina Pacis v.v… nên nhà
văn Mai Thảo một mình phải cáng đáng toàn bộ bài vở
cho Văn.
Địa
chỉ 38 đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn với số điện
thoại 23.595 vẫn còn ở lại trong trí nhớ tôi rất lâu
sau ngày bố Vượng mất, sau cả cái mốc thời gian tháng
Tư 1975 nữa. Thật ra, có lúc tôi tưởng đã quên những
con số nhà và số điện thoại của nó rồi. Thế nhưng,
bao giờ cũng vậy, trong một giây phút bất chợt nào đó,
những con số ấy chợt hiện ra trong tôi. Nhất là sau
những lần nói chuyện với Mai Thảo, hoặc cầm tờ Văn
do anh làm trên vùng đất mới này, tôi lại nhớ đến
“bố già” Nguyễn Đình Vượng, “bố Vượng” của
tôi, “già Vượng” của Thanh Tâm Tuyền - và cái tòa
soạn nhỏ nằm trên đường Phạm Ngũ Lão ồn ào và bụi
bặm. Phạm Ngũ Lão là một con đường đặc biệt, con
đường của rất nhiều nhà in, nhà xuất bản, nhà phát
hành…
“Bố
Vượng” của tôi
“Bố
Vượng của tôi”, tứ thời áo len - buổi sáng hai cánh
tay áo quấn quanh cổ, buổi trưa áo vắt lên thành ghế
và buổi chiều bố mặc áo vào ngồi ở chiếc bàn ngó
ra đường. Bố bị bệnh suyễn và đôi khi bố lên cơn
ho sù sụ. Đó là những lúc mặt bố đỏ gay, một tay ôm
ngực, một tay giơ lên cao xua xua không muốn nói chuyện
với bất cứ một ai. Đàm Gia Tuấn - người chữa morasse
kỹ nhất nước – và tôi ngồi ở hai chiếc bàn sát
vách. Tuấn đeo kính cận dầy cộm, lúc nào cũng chúi mũi
vào những bản vỗ còn ướt mực của nhà in. Anh ít nói,
và là người chăm chỉ nhất trong việc dò bản thảo của
các ông bà nhà văn.
Mai
Thảo thì khác. Anh thường đến tòa soạn bằng xích lô,
trên tay bao giờ cũng có một cuốn tiểu thuyết trinh thám
Pháp hoặc một tờ báo Pháp, thường là tờ tuần báo
L’Express.
Chúng tôi trao đổi về chủ đề cho số báo tới, đưa
nhận xét về mấy cái truyện ngắn của người viết mới
và sau đó tác giả Để Tưởng
Nhớ Mùi Hương lại lên xích lô
ra đi.
Còn
tôi ngồi lại đọc thư từ bài vở… của bạn đọc,
thân hữu và các bạn văn, nói chuyện với Đàm Gia Tuấn
về các bài anh đang sửa – cho anh biết bài nào phải đi
ngay để anh chữa cho kịp số báo lên khuôn – xong cười
với bố Vượng một cái cười cầu tài [mà thường thì
tôi rất thành công, vì bố Vượng chán cái mặt tôi, vừa
lắc đầu vừa kéo hộc tủ ngoắc tôi lại dúi tiền vào
tay tôi với một lời mắng ngọt ngào]. Bố hỏi “Này,
có phải lại đi đàn đúm với ‘cái bọn’ ở quán Cái
Chùa không?”. Tất nhiên là bố đúng, Quán Cái Chùa/La
Pagode là nơi các bạn tôi như Nguyễn Đình Toàn, Huỳnh
Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật
Duật,… và đôi khi có Bùi Bảo Trúc đang ngồi ở đó.
Tôi
thấy cũng cần thố lộ thêm một điều: Căn nhà đầu
tiên và duy nhất mà tôi có tại Việt Nam là của bố
Vượng cho tôi sau ngày tôi lập gia đình. Căn nhà ấy bố
đã sống nhiều năm trước khi cho xuất bản tờ Văn.
Căn nhà nằm ở đầu ngõ khu Mã Lạng. Bố Vượng dọn
ra 38 Phạm Ngũ Lão, lấy tầng trệt làm tòa soạn Văn,
và cả nhà sống ở lầu trên.
*
Trần
Phong Giao “trụ cột” của
Văn Sài gòn
Mới
đây, nhân soạn lại những thùng sách báo cũ, tôi tìm
thấy lá thư của Trần Phong Giao. Thư đề ngày 27/1/1995,
viết từ Sài gòn gửi cho tôi ở thành phố Garden Grove,
Quận Cam, California, anh báo cho tôi một tin buồn là nhà
anh “bị cháy khi đã bước cả hai chân qua tuổi
sáu-mươi (ôi cái tuổi tuần thời!) tôi những tưởng bị
gục luôn. Nào ngờ còn gượng dậy được. Đi phải
chống gậy nhưng vẫn là đi….” Và đồng thời anh
cũng báo cho tôi một tin vui là anh đã làm xong cuốn từ
điển về thành ngữ tiếng Anh. Nhưng, anh viết thêm
“[l]àm từ điển thì, bạn dư biết đấy, đói dài.”
Trần Phong Giao cũng nhắc chuyện cũ “[S]ực nhớ, có
lần Huỳnh Phan Anh đãi uống bia lon. Hỏi sao sang thế?
Đáp, ấy có thằng bạn định về thăm quê, nhưng tới
Bangkok lại quay về. Hình như nó rét. Có điều, trước
khi về nó có nhờ chuyển cho moa tí tiền còm: chầu bia
hôm nay. Khỉ thật, phải chi hắn đãi rượu….”
Trần Phong Giao luôn là người dị ứng với bia. Anh chỉ
thích rượu và phải là rượu ngon. Thư anh kể thêm là
trên kệ rượu nhà anh mới có ba chai: Cutty Sark, the famous
Grouse và Grand Macnish. “Phải chi có các bạn ở đây
để ‘nghiêng bầu mà hỏi’ thì vui biết mấy!” Và
Trần Phong Giao nhắc tới bạn bè đang ở Mỹ: “Mà
lạ, bạn ạ, hễ uống Chivas Regal là nhớ cụ Mặc Đỗ.
uống X.O. là nhớ Thu Vàng*, uống Back and White là nhớ cô
Thảo Mai**… cỏ xanh đất mát, nhớ V.K.K***.…” Trần
Phong Giao cho tôi biết anh muốn biên thư và đọc thư của
Trùng Dương, Nguyễn Quang Hiện, Ngô Thế Vinh,… nhưng
không biết các bạn có còn ở chỗ cũ không?
Cuối
thư, anh viết: “Bản thân tôi, viết được cánh thư
dài như thế này cũng là chuyện hiếm hoi rồi đấy”,
và Trần Phong Giao kết thúc bằng 4 câu thơ:
Sáu
mươi lăm tuổi rồi đây hả?
Sóng
vỗ chân cầu nghe xốn xang.
Đốt
tay ngồi đếm, già? Đâu có!
Một
tuổi trời cho: một tuổi vàng….
“Cho
dù có sống mòn, sống thêm, cũng vẫn là sống. Và còn
sống là còn thương, còn nhớ, còn ‘rót thêm ly nữa’
mà không biết mời ai.”
Trần
Phong Giao, người có công rất lớn trong việc xây dựng
tờ Văn, người đã - nói theo dịch giả Trần Thiện Đạo,
trong một bài viết có tựa là “Tạp chí Văn trong lòng
độc giả”: … [Lại nữa,] cũng nên nhớ có tới hơn
280 số Văn và Tân văn đã đều đặn ra
mắt bạn đọc từ tháng Giêng 1964 đến tháng Tư 1975 và
trong số này có 90 chuyên đề khảo cứu, giới thiệu các
trào lưu văn học và các nhà văn lớn ở Việt nam và
trên thế giới. 90 trên 280, đúng 1 phần 3: công lao
của thư kí tòa soạn Trần Phong Giao (1932-2005 - tên khai
sanh: Trần Đình Tỉnh, tự: Trần Phong) phải được nhấn
mạnh ở đây ….
Trong
những ngày cuối đời, vẫn không quên bạn bè cũ dù
trong hoàn cảnh nào, và bạn bè anh khi nhắc tới tờ Văn,
không ai là không nhớ tới anh…
*Cung
Tiến
**
Mai Thảo
***
Vũ Khắc Khoan
Mai
Thảo và tôi
Mùa
đông 1985 khi từ Bataan, Phi Luật Tân, đến Mỹ, tôi sung
sướng cầm trên tay tờ Văn
do Mai Thảo làm. Và buổi sáng đầu tiên đứng trong một
tiệm sách Việt Nam ở Virginia, lật giở từng trang báo
Xuân trong khi bên ngoài tuyết rơi trắng trời, tôi bỗng
nhìn thấy lại “bố già” Nguyễn Đình Vượng, Mai
Thảo, Trần Phong Giao, Đàm Gia Tuấn,… thấy lại con
đường Phạm Ngũ Lão ngập nước mưa, và bất ngờ hiện
ra trong trí con số 23595 - số điện thoại của toà soạn
hiện ra trong khi những con số khác biến mất. Và như thế
tôi quên đi tám tháng ở hòn đảo Bataan, mưa bão và động
đất; quên đi những ngày ở Sài Gòn sau năm 1975; quên đi
những tháng tù ở Ktnh Làng Thứ Bảy, cải hối thất
Rạch Giá và quên mất mối lo âu trong những ngày sắp
tới trên vùng đất lạ lẫm này.
Vâng,
chính tờ báo Văn
mà Mai Thảo đang làm đã giúp tôi dọn ra khỏi trí nhớ
những năm tháng vừa qua ở quê nhà, và đánh thức tôi
trở dậy một quá khứ nay đã không còn bình yên nữa.
Trở
lại Văn
cùng Mai Thảo, với tôi, có nghĩa là trở lại mái nhà
xưa, trở lại bầu trời và mặt đất quen thuộc,…
Và
10 năm sau….
Mười
năm sau, tháng Tám, 1996, khi nhận tờ Văn từ tay Mai Thảo,
tôi nói với anh là anh hãy cố gắng viết Sổ Tay vài kỳ
cho người đọc và bạn hữu thấy rằng sự chuyển tiếp
không quá đột ngột. Anh bảo:
"Ừ,
tôi sẽ viết." Khi bài vở cho số báo đã đầy đủ,
chỉ còn thiếu trang Sổ Tay của anh, tôi nhắc mấy bận,
nhưng anh luôn hẹn "đến mai".
Và
mỗi lần đến thăm anh, tôi thấy sức khỏe anh đi xuống
quá rõ, tôi không thể nhắc nữa.
Để
tờ báo có thể ra kịp đầu tháng Chín, như đã hứa,
tôi thấy không còn cách nào khác, phải viết những trang
đầu cho mỗi số báo. Nhưng tôi không muốn dùng lại đề
mục Sổ Tay của anh. Trên tờ Văn, tôi nghĩ, Sổ Tay là
của Mai Thảo. Sổ Tay Mai Thảo. Chữ nghĩa của anh từ
bao nhiêu năm nay, qua những trang Sổ Tay, đã đến với
người đọc như một người bạn thân, bước vào nhà
bạn mà không cần gọi trước hay phải gõ cửa. Ngôn ngữ
trong Sổ Tay Mai Thảo đã có cái nét riêng của nó. Phải
là Mai Thảo ký dưới trang Sổ Tay của Văn, chứ không
thể là của một ai khác. Đó là lý do tôi chọn chữ Thư
Hàng Tháng cho những trang chữ của tôi. Tờ báo đã xong.
Công việc còn lại, lúc đó, chỉ là mang lên nhà in Kim
trên Los. Tôi gọi điện thoại báo cho Mai Thảo biết
chiều nay báo sẽ mang in. Anh ậm ừ bảo anh chị bác sĩ
Phó Ngọc Văn vừa từ Hoa Thịnh Đốn xuống, và anh hỏi
tại sao không ra Viễn Đông uống một ly nước với người
bạn từ phương xa tới. Tôi ra quán cùng ngồi với anh và
anh chị Phó Ngọc Văn.
Tôi
còn nhớ hôm đó trời Cali nóng dữ dội, mặc dù mùa hè
sắp hết. Tôi hỏi anh nghĩ sao nếu tôi thay mục Sổ Tay
của anh bằng mục Thư Hàng Tháng, chẳng hạn kỳ này tôi
sẽ ghi là Thư Tháng Chín, thay vì Sổ Tay Tháng Chín. Mai
Thảo đang đưa ly rượu gần chạm môi bỗng ngừng lại.
Anh không vui, bảo theo anh thì không nên thay. Cứ giữ lại
chữ Sổ Tay, vì trước hết người đọc Văn từ lâu đã
quen với tên gọi của nó, và "với mục Sổ Tay, H.
còn có lợi thế là có thể viết về nhiều thứ, nhiều
điều, từ cái nhỏ nhặt gần gũi nhất của chính người
viết tới cái xa nhất về thời sự, thời cuộc thế
giới. Như một chút thời tiết. Như một cuộc gặp gỡ
bạn bè bằng hữu. Nhẹ nhàng thôi. Chỉ là những ghi
chép đôi khi vụn vặt, nhưng rất là đời sống."
Tôi hiểu ý anh. Và mặc dù mục này xếp chữ đã xong
với cái tựa Thư Tháng Chín, tôi đã phải ngồi xuống
bàn viết sửa lại cái tựa, xóa bỏ lý do vì sao chọn
chữ Thư Hàng Tháng, viết thêm một đoạn gặp anh và anh
chị Phó Ngọc Văn, và sửa Mục Lục.
*
Cho
nên, mỗi tháng, sau khi đã xếp chữ, lay out xong toàn số
báo, tôi luôn luôn chừa ra sáu trang cho Sổ Tay. Đó là
những trang viết sau cùng. Và đó cũng là lý do nhà in T&T
ở Costa Mesa hay giục sao tới ngày rồi mà chưa thấy mang
báo đến in.
Tôi
không viết dễ dàng và trôi chảy như Mai Thảo. Tôi đắn
đo, cân nhắc, tôi luôn luôn muốn viết Sổ Tay theo một
phong cách khác với Sổ Tay Mai Thảo.
Trong
thời gian hai năm đó, mỗi lần lấy tờ Văn từ nhà in
về, công việc đầu tiên là tôi mang báo đến anh. Anh
nhìn cái bìa báo, hỏi in màu tốn kém làm sao chịu nổi.
Anh hỏi lần tới sẽ chọn tranh ai làm bìa. Liệu có sống
nổi không? Có lần bất ngờ anh hỏi tôi có uống chút
chăng. Tôi biết Mai Thảo chỉ hỏi cho vui chứ anh biết
tôi đâu phải là người ghiền rượu. Anh để mấy tờ
Văn
trên
đầu giường, cạnh cái gối của anh. "Để chốc rồi
đọc." Và anh hỏi tin tức tờ báo. Những khó khăn
trong công việc và đời sống của tôi. Căn phòng tối vì
cửa lá sách đã vặn xuống. Một phần cánh cửa được
mở cho khói thuốc có thể thoát ra ngoài. Tôi chỉ im lặng
ngồi nhìn anh. Và anh cũng không nói gì thêm. Thường, tôi
ngồi với anh không quá mươi phút vì tôi phải đi làm.
Một
năm sau, khi anh rời căn phòng phía sau nhà hàng Song Long để
vào bệnh viện Fountain Valley, rồi Good Samaritain, rồi
Barlow Hospital ở Los Angeles, tôi ít gặp anh. Thường, muốn
thăm anh, tôi hay đi ké xe của nhà báo Đỗ Ngọc Yến.
Hôm
bệnh viện Barlow báo cho biết ngày đầu tiên tháo ống
nhựa ở cổ anh để anh tập nói, vì sức khỏe anh đang
bắt đầu hồi phục, tôi đã bỏ một buổi làm, theo Đỗ
Ngọc Yến lên Los. Bữa đó, bà bác sĩ [?] Gloria giải
thích việc lấy ống nhựa ra và muốn anh phải tập nói.
Tôi mang tờ Văn số vừa in đưa cho anh và nói cho bà bác
sĩ Gloria biết bệnh nhân Quý Nguyễn đây là một nhà văn
nổi tiếng Việt Nam, và ông là chủ nhiệm tờ tạp chí
văn chương mang tên VĂN này. Đỗ Ngọc Yến chỉ vào chữ
MAI THẢO trên trang hai bìa sách nói cho bà Gloria biết đó
là bút danh của ông Quý Nguyễn. Bà Gloria xuýt xoa một
cách lịch sự như mọi người Mỹ lịch sự khác, nhưng
bà vẫn không quên nhắc, buộc anh phải đọc những dòng
chữ lớn trên tờ VĂN.
Lúc
đầu anh nhất định lắc đầu từ chối. Anh không đọc,
không muốn đọc. Thế nhưng, vì bà Gloria cứ dí mãi tờ
báo vào mắt anh, và cứ chỉ tay lên chữ VĂN, đột nhiên
tôi nghe tiếng anh đọc khá rõ: V. Ă. N. Và một câu kế
tiếp không rõ lắm. Anh đọc "tẹp chí ven học nghẹ
thuột". Chúng tôi rất mừng nghe lại tiếng nói của
anh.
Bà
Gloria là người vỗ tay to nhất và nhiều nhất. Đó là
một buổi sáng Los Angeles tràn trề nắng ấm. Tôi nghe bà
bảo sắp tới nhà thương sẽ để anh ngồi xe lăn và có
người đẩy anh đi dạo dưới nắng. "Rất tốt cho
ông ấy. Ông Nguyễn sẽ bình phục thôi." Anh bình
phục thấy rõ. Anh được đưa trở lại Quận Cam, nằm ở
Viện Hồi Phục. Tiếng nói anh nghe đã rõ và anh đã nhận
diện được những người đến thăm anh. Nhưng thời gian
đến với anh đã không còn nữa. Ngày 10 tháng Giêng 1998,
Mai Thảo ra đi.
*
Nếu
tính đến năm 2012 này, Mai Thảo ra đi đã 14 năm. 14 năm
đó, trong các câu chuyện bên ly cà phê, trên cả những
trang viết về Mai Thảo, có người hỏi tôi: Ông có phải
là người bạn thân thiết của Mai Thảo không? Tình bạn
của ông và Mai Thảo thế nào? Sao không bao giờ nghe ông
nói về tình bạn của hai người? Điều gì đã gắn bó
giữa ông và Mai Thảo? Đó là một câu hỏi rất khó trả
lời đối với tôi. Trên số Văn đặc biệt Tưởng Mộ
Mai Thảo phát hành vào tháng Hai, 1998, tôi viết: “Từ
bên nhà, cũng như ở bên này, tôi chưa bao giờ ‘tự
coi’ hay ‘được coi’ là người thân của anh Mai Thảo.
Nếu hiểu ‘thân’ theo cái nghĩa là gần gũi, chia sẻ
mọi va chạm trong đời sống và những suy nghĩ về văn
chương. Trái lại, tôi luôn luôn ‘cảm thấy’ hình như
có một khoảng cách giữa anh và tôi. Cái gì làm nên
khoảng cách đó, tôi không rõ. Cho đến bây giờ tôi vẫn
không rõ. Nhưng tôi biết rõ một điều là tôi luôn luôn
yêu quý anh. Như một ông anh trong gia đình.… Và Mai Thảo
cũng chăm sóc và lo lắng cho tôi, bênh vực tôi khi có một
người nào đó nói về tôi….Chúng tôi là anh em, anh em
hơn là anh em ruột thịt trong một gia đình. Ông anh ít
nói và thằng em cũng không nhiều lời. Nếu nhìn sâu hơn
một chút, có thể nói, điều khiến tôi yêu quý Mai Thảo
trước nhất và sau cùng không phải là văn chương. Tôi
thích câu viết của Thanh Tâm Tuyền: “…những người
có cùng quan niệm văn chương chẳng làm cho họ gần gũi,
nối kết với nhau…mà đôi khi còn đố kỵ nhau là đàng
khác. Có lẽ bởi quan niệm là cái thứ có thể lượm
nhặt, học hỏi, ai cũng có thể biết, có thể có, vì là
sản phẩm của trí tuệ. Và nói trí tuệ là nói vô cùng,
nói đảo điên, nói xuôi nói ngược đều được…”
Tôi
vẫn thường nghĩ khi ta dán mắt thật sát, thật gần vào
một đối tượng, tưởng là sẽ thấy rõ đối tượng
ấy hơn, thật ra làm như vậy ta sẽ chẳng thấy gì cả.
Cái
khoảng cách cần thiết vừa phải chính là để cho mỗi
người có thể nhìn thấy rõ người kia hơn, và qua đó
có thể nhìn thấy rõ mình hơn.
*
Tôi
luôn yêu mến và quý trọng Mai Thảo trước đây và ngay
bây giờ khi nghĩ đến anh, theo tôi, chính là nhờ cái
khoảng cách cần thiết ấy.
*
Xin
lỗi và Cám ơn
Buổi
chiều cuối năm, ngồi bên ly cà phê với người bạn đến
từ một tiểu bang xa. Bạn tôi hỏi, ba điều bốn
chuyện, chuyện sức khoẻ, chuyện gia đình, chuyện công
ăn việc làm, chuyện người sống người chết, chuyện
quê hương, chuyện quê nhà...Sau cùng bạn hỏi: "Năm
qua cậu đã làm được những gì, đầu óc có thoải mái
không?" Tôi nửa đùa nửa thật: Đầu óc thì không,
còn làm được việc gì thì không biết.
Bạn
tôi là một người chơi nhạc, không phải nhạc sĩ sáng
tác, nhưng kiến thức về âm nhạc thì khá cao, và chơi
đàn tây ban cầm xuất sắc. Mặc dù ở xa chúng tôi vẫn
thường liên lạc nhau qua email. Có lần anh đưa ra một
nhận xét bất ngờ về một bài viết của tôi, anh làm
tôi sửng sốt. "Phong cách của bút pháp. Đó cũng
là một vấn đề!" anh nói. Đọc nhiều, biết
thưởng thức hội họa, và nói về văn chương và kịch
nghệ thì thuyết phục lắm... tuy vậy bạn tôi không phải
là người viết văn làm báo.
Cà
phê nóng. Tôi uống một ngụm. Mùa đông năm nay ở miền
bắc Cali lạnh hơn năm ngoái, lạnh hơn cả những năm
trước nhiều. Tôi mở gói mật ong châm thêm vào ly cà
phê. Hôm nay là ngày cuối tuần, tôi không ngồi ở quán
quen Starbucks của tôi, - thứ cà phê nhạt nhẽo không mùi
vị, chỉ khá hơn càphê Mỹ trong cantine báo Mercury News mà
tôi đã thỉnh thoảng phải uống - một thứ nước lã có
màu đen. Tôi chuyển sang quán Peet’s coffee. Cà phê ở đây
mặc dù không như càphê Năm Dưỡng Sài gòn nhưng đậm
hơn cà phê starbucks. Khung cảnh cũng thân mật và ấm
cúng, từ cái bàn cái ghế, những máy lọc, …. Mấy bức
tranh treo trên tường cũng đơn giản và nồng ấm. Quán
hơi vắng. Có hai người khách sát bàn tôi: một người
Mỹ râu tóc bạc phơ, ăn mặc rất bụi đời [áo quần
giày dép và cái mũ chụp đầu bằng len cũ kỷ tả tơi]
và một phụ nữ Á châu ăn mặc sang trọng, nhưng nét mặt
hơi thô và lạnh. Tôi biết quán Peet’s coffee này hơi
trễ, chỉ chừng hơn 1 năm nay thôi, nhưng tôi rất thích.
Bạn
tôi nhắc: “Sao lúc này không thấy cậu viết gì? Phải
viết đi chứ! Ở không lâu quá đâu có tốt.” Tôi nói
không viết gì vì không biết viết gì, nhưng ở không thì
cũng không hẳn là ở không đâu. “Nghĩa là cậu không
còn chuyện văn chương chữ nghĩa nữa à?” Tôi nói
chuyện chữ nghĩa thì còn nhưng mà chuyện văn chương thì
không. Tôi lúc này thích chuyện thời sự hơn. “Nói tóm
lại là cậu không có thì giờ?” bạn tôi hỏi. Tôi nói,
thì giờ đâu nữa mà còn. Từ mấy năm nay tôi đã đọc
ít đi. Thiếu cái nguồn nước liên lỉ ấy, cái giếng
khô cạn dần, mạch nước ấy khi không còn thì cái ngọn
lửa kia cũng từ từ tàn lụi, lấy nhiên liệu đâu mà
đốt lên? “Cậu nói sao?” bạn tôi hỏi. “Cậu không
đọc sách nữa à? Bỏ cái chuyện vớ vẩn, chết tiệt
ấy đi cậu ơi. Tin trong nước, tin ngoài nước, tin thế
giới, tin xe cán chó chó cán xe, tin trong nhà ngoài phố.
Cái thứ mì ăn liền ấy mà! Đau đầu!” Ừ, tôi nói,
đau đầu thật!
…..
Bạn
tôi nói: “Cậu có biết chuyện ký mục gia Art Buchwald
không?” Ông nói sao? Tôi hỏi. Ông Art Buchwald à? Ông ấy
mất từ tháng Giêng năm 2007 kia mà! “Đúng vậy!”, bạn
tôi nói, “Tôi biết chứ, ông ấy mất đã nhiều năm
rồi, nhưng cậu không biết là ông Art Buchwald trước khi
chết ở tuổi 82 vẫn còn viết không?” Ừ, thì sao?
“Còn cậu, còn lâu cậu mới tới tuổi đó, sao cậu
lười thế?” Tôi hỏi, ông nói thế là thế nào? Bạn
tôi cười, “Thế cậu không thấy chuyện này không dính
líu gì tới cậu à?” Dính líu gì? Tôi hỏi. “Hãy bắt
chước Art Buchwald đi, nếu đời không có gì vui, thì sao
không mang tặng cho đời một nụ cười?” Bạn tôi hỏi
lại.
Bạn
tôi kể “Từ tháng Hai năm 2006, khi bác sĩ cho biết vì
ông không chịu lọc máu hàng tuần nên ông chỉ còn sống
vài tháng nữa thôi, ông quyết định dọn vào hospice,
một loại housing ‘tống tiễn’ những người chờ
chết và muốn ra đi một cách êm thắm không làm phiền
ai. Chính tại nơi chốn này, ông vẫn không ngừng viết
và còn in cả một cuốn sách mang tựa Too Soon To Say
Good Bye (Còn quá sớm để nói lời từ biệt).
Ly
cà phê của tôi đã cạn. Tôi đứng nhổm dậy. Bạn tôi
biết ý. “Thôi cậu ơi. Đủ rồi! Tối rồi, đâu phải
buổi sáng mà không ngừng cà phê thế này. Mai tôi bay về
lại tiểu bang ngập lụt New Orleans của tôi, tôi vẫn
muốn hỏi lại cậu một câu: năm qua cậu đã làm được
những gì?” Năm qua? Tôi có làm được gì đâu. Toàn
những chuyện vớ vẩn. “Sao lại vớ vẩn?” Thì đấy,
chuyện thì nhiều mà có ra cái khỉ gì đâu! “Vậy có
nghĩa là cậu cũng có làm đôi ba chuyện phải không? Cậu
nghĩ gì về những chuyện khỉ của cậu?” Tôi biết bạn
tôi nhất định không buông tha tôi. Thì đành. Tôi nói:
Tôi muốn nói lời xin lỗi. “Xin lỗi ai?” Xin lỗi tất
cả mọi người. Tôi muốn xin lỗi những người tôi yêu
thương, những người tử tế và cả những người không
tử tế với tôi. Tôi muốn xin lỗi bạn bè và cả những
người tưởng là bạn, xin lỗi những người tôi quen đã
lâu hay mới vừa quen, lẽ ra tôi phải làm điều này
không nên làm điều kia, nhưng tôi đã làm nhiều điều
ngược lại. Tôi nhớ câu nói của một ông anh trong vùng
tôi đang sống, rằng sau khi hoàn tất một công việc, bao
giờ người ta cũng thấy hai túi áo chứa đầy những lời
cảm tạ và những lời xin lỗi. Cảm tạ những người
đã từng giúp đỡ mình, đã từng tử tế với mình, lo
lắng cho mình, những người đã bất chấp những rào cản
của cuộc sống đã đem cho mình tình yêu thương mà rồi
đây suốt cả đời sẽ không bao giờ tìm thấy .... Và
trong túi áo kia là những lời xin lỗi vì mình đã không
xứng đáng với lòng tử tế của họ, đã không hết
lòng với họ, đã không trải lòng ra lắng nghe tiếng nói
của họ. Tôi muốn nói lời xin lỗi với những độc giả
của tạp chí Văn, tờ báo tôi đã làm ở Việt Nam sau
anh Trần Phong Giao, và nay ở Mỹ sau nhà văn Mai Thảo, tờ
báo đã đình bản mà không một lời xin lỗi. Cái lỗi
đó quá lớn. Tại sao? Cả một năm qua, tôi nằm chờ
chuyện đi xa, chờ từng ngày… “Cậu thật là vớ vẩn!
Cậu đã nói bao nhiêu lần câu này rồi?” Tôi nhớ tôi
đã nói nhiều lần. Và cách đây mấy năm, nhà văn Võ
Phiến có viết cho tôi một lá thư tay về cái ý nghĩ ‘vớ
vẩn’ đó của tôi đấy. “Ông Võ Phiến viết gì cho
cậu vậy? Tôi muốn đọc được không?” Muốn đọc
thật à? Lần tới tôi sẽ cho ông đọc. Nhưng ngay lúc
này thì chưa được. Ừ, tối rồi, không cà phê nữa.
Bây giờ tôi đưa ông đến một quán cơm Ý, tôi muốn
uống một ly rượu đỏ với ông trước khi chia tay.
Mùa
đông, mặt trời đi ngủ sớm. Bóng tối tràn ngập khắp
bãi đậu xe trước quán cà phê Peet’s coffee. Và lạnh....
“Đúng, cậu vớ vẩn thật!” Bạn tôi nói.
Ngày
mai tôi lên đường đi Paris
Những
đoản văn được ráp nối này
xin
ghi như mới vừa được hoàn tất vào
Tháng
12, 2011
NGUYỄN-XUÂN
HOÀNG