
I-
HỒN TÔI CÁI ĐĨA THÂU THANH*
Vào
ngày thứ bảy 21/07/2012 tới đây, tập thơ Cung
Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ 60 Năm, 1948-2008,
sẽ ra mắt đồng hương, chiến hữu và cựu tù chính trị
tại miền Trung Cali. Tập thơ bề thế, dày 644 trang kể
cả 12 phụ bản tranh màu của các họa sĩ nổi tiếng như
Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Vị Ý, Nguyễn Trung, Chóe
và Ngô Vương Toại. Thơ in trên giấy màu vàng nhạt, bìa
cứng màu lục sậm, đẹp và trang nhã, do Tiếng Quê Hương
xuất bản năm 2012 tại Hoa Kỳ, ấn phí 30 mỹ kim.
Một Hành Trình
Thơ (MHTT) do bảy Thi Tập hợp lại, được phân chia như
sau:
-
01- Sóng Đầu Dòng –
Tình
Ca và Quá Độ.
“là
một bộ ba ghi những dấu chân lên đường còn giữ được
của một hành trình thơ mà mục đích tiên khởi là chỉ
để tiêu dao, cám cảnh và tỏ tình bông lông”. (CTT,
MHTT, trang 25)
-
02- Lời Viết Hai Tay.
“Khi
hai tay bị còng khóa số 8, khi hai chân bị cùm gông thiết
diệp, khi thân xác bị trói gù lưng tôm, cái tâm người
thơ cũng trực tiếp bị xúc phạm, nhức nhối và khốn
khổ. Tâm chập vào thể, ra một nhất nguyên. Người thơ
tù biệt giam – tù của tù – lấy cái đầu viết hộ
cho hai tay bị còng, làm thơ như chơi cờ tưởng”.
(CTT, MHTT, trang 130)
-
03- Bài Ca Níu Quan Tài.
“Nhan
đề Bài Ca Níu Quan Tài được chuyển sát nghĩa từ từ
Hán Việt “vãn ca”, tức hát níu quan tài. Vãn còn có
nghĩa là một điệu hát buồn dùng để khóc than. Sự kết
hợp nhuần nhuyễn của ba động tác khóc, hát và níu đã
cung cấp cho người khóc Việt Nam một khả năng lột tả
tối ưu nỗi đau ê chề, bề bộn của cảnh sinh ly tử
biệt...Vì được viết bằng cái tâm nên sử thi nầy
không thể không là một bản cáo trạng về tội ác của
cộng sản”
(CTT, MHTT, trang 293)
-
04- Những Dấu Chân Ngang Trên Một Triền Phiếm Định.
Người
tù vác một vật nặng trên vai (bó nứa, khúc gỗ...) đi
xuống “dốc mỡ”. Muốn được an toàn, bàn chân anh ta
phải bám ngang dốc để lần từng bước xuống thì mới
an toàn. Nếu đi thẳng thì rất dễ chúi mũi trượt té.
Một cách nghĩ khác, đi ngang vừa thấy phía trước là
tương lai, vừa nhìn được phía sau là quá khứ. Tương
lai thì đen tối và đầy mai phục và quá khứ như là
điểm tực cho sự sống. Còn Phiếm Định là bất trắc,
là bất ổn. Có thể tác giả muốn biệu hiện một sự
ham muốn sống, cố giữ một thế đứng thẳng và vững
cho dù có bị lâm vào những hoàn cảnh đầy thử thách,
bấp bênh, hiểm nghèo, bi đát.
-
05- Thi Bá – Con Tắc Kè và Bà Góa Phụ.
Tiếng
kêu của Con Tắc Kè trong đêm vắng, biểu thị cho nỗi
cô đơn. Bà Góa Phụ là nạn nhân của chế độ. Khi
tuyệt vọng và cô đơn, Bà Góa Phụ mới phát hiện tiếng
kêu của Con Tắc Kè, bà hàn huyên tâm sự với nó. Con
Tắc Kè như thông cảm nỗi đau khổ của bà. Con Tắc Kè
chính là hóa thân của Thi Bá. Tóm lại, người thi sĩ
sinh ra là để ca ngợi và tô điểm cuộc sống, người
thi sĩ cũng luôn tìm cách làm vơi đi nỗi khổ của thế
nhân. CTT thể hiện Tâm Sử Thi nầy như một vở kịch
thơ mà “lời thoại” được đẽo gọt qua từng “con
chữ” thể hiện tính riêng biệt trong “cõi thơ” của
mình..
-
06- Mỗi Dặm Đường Một Nghìn Vần Thơ.
Tác
giả vẽ lại vạn vật cỏ cây hoa lá dưới trí tưởng
tượng phong phú của một nhà thơ. Đây là bài thơ
xanh
ca ngợi sinh thái mang chủ nghĩa “Duy Nhiên” (naturalism).
Những vần thơ tỏa ra nhiều hình ảnh rất thơ và rất
đẹp. Thi Tập thứ 6 nầy là một công trình sáng tạo
đầy ắp kiến thức, rung cảm và nhân tính của nhà thơ
CTT.
-
07- Sáng Ký Về Người Tình Đầu.
Sáng
là sáng tạo, ký là câu chuyện. Câu chuyện sáng tạo về
người Tình Đầu (first lover) cũng là Thi Sĩ. Thượng đế
rất ưu ái người thi sĩ và phái xuống trần gian để vỗ
về an ủi con người. Thi sĩ là người Tinh Đầu của
nhân loại. Ý tác giả muốn vẽ lại sự xuất hiện của
thi nhân bằng trí tưởng tượng của một thi sĩ mắc
bịnh bìa (borderline) nửa tỉnh nửa điên. Có thể nói
Thi Tập 7 nầy như là một thứ “Kinh Cựu Ước” nói
về sự hình thành sự sống đầu tiên của con người
trên trái đất qua hình ảnh của một thi nhân. Đây là
sáng tạo độc đáo của nhà thơ CTT. Từ cổ chí kim, từ
đông sang tây chưa hề có một thi tập như thế nầy.
-
Cung
Trầm Tưởng là bút hiệu, tên trong khai sinh là Cung Thức
Cần,
- Ngày sinh: 28
tháng 2 năm 1932, tại Hà Nội.
- Tốt nghiệp
Kỹ sư Trường Võ Bị Không Quân Pháp,
- Tốt nghiệp
Cao Học Khí Tượng tại Saint Louis University, MO, Hoa Kỳ,
- Quản Trị An
Ninh Quốc Gia Và Tài Nguyên Quốc Phòng Hoa Kỳ (hậu đại
học)
- Cựu Trung Tá
Không Quân, phục vụ tại BTLKQ, Sài Gòn
- Đi tù cộng
sản 10 năm (1975-1985), bị quản chế 3 năm (1985-1988).
- Định cư tại
Minnesota, Hoa Kỳ cùng gia đình kể từ 1993.
Chúng tôi nhận
được Tập Thơ do tác giả ký tặng như là một đồng
đội và nhất là một bạn tù cùng chia sẻ những tủi
nhục và cùng nung nấu một niềm tin với tác giả trong
các trại tù Suối Máu, Hoàng Liên Sơn và Hà Tây.
Các
Thi Tập Lời
Viết Hai Tay, Bài Ca Níu Quan Tài, Những Dấu Chân Ngang
Trên Một Triền Phiếm Định và
Thi Bá, Con Tắc Kè Và Bà Góa Phụ,
là những Tâm Sử Thi ghi lại những hình ảnh sống động
đầy ắp tính man rợ, cùng những tiếng khóc thảm khốc
của Việt Nam sau tháng 4/1975. Hai Tập sau cùng Mỗi
Dặm Đường Một Nghìn Vần Thơ
và Sáng
Ký Về Người Tình Đầu
mang tính sáng tạo triệt để về nội dung cũng như phong
cách. Toàn tập là một công trình đồ sộ, công phu tỉ
mỉ của thi nhân (mà cũng là nghệ nhân) miệt mài đẽo
gọt từng con
chữ,
khắt khe từng gam màu, ve vuốt từng ngữ điệu, biến
dòng thơ 60 năm thành một Cõi
Thơ Cung Trầm Tưởng riêng
biệt rạch ròi.
Vì lẽ đó
chúng tôi liều mạng viết đôi điều cảm nhận thô
thiển để giới thiệu đến độc giả đồng hương hải
ngoại, cũng là nhân chứng của một giai đoạn lịch sử,
về tuyển tập thơ giá trị của nhà thơ Cung Trầm Tưởng.
II-
CÓ MỘT ĐỜI TA TRÔI BẤP BÊNH
Sau
30/04/1975, tôi gặp nhà thơ Cung Trầm Tưởng (CTT) trong
Trại giam Suối Máu Biên Hòa, mới biết nhà thơ là Trung
Tá Trưởng Phòng Chương Trình và Kế Hoạch Bộ Tư Lệnh
Không Quân, chứ trước đó thì chỉ biết ông là tác giả
có tên trong Nhóm Sáng Tạo, đã xuất bản tập thơ đầu
Tình Ca, do họa sĩ Ngy Cao Uyên vẽ bìa và Phạm Duy phổ
nhạc bài Tiễn Em, Bên Ni Bên Nớ, Mùa Thu Paris...
Cùng
hoạn nạn là đã thương cảm nhau rồi, huống hồ lại
cùng màu cờ sắc áo. Chỉ mấy câu thơ chào
sân
tại trại Suối Máu của CTT đã đi vào tiềm thức của
tôi một cách êm ái từ 1976 cho đến bây giờ: “Nắng
nhói như kim khêu thương tích/ Thuyền mây từng mảng vỡ
lênh đênh/ Trên trăm ngàn mảnh trời kia vỡ/ Có một đời
ta trôi bấp bênh...”.
Tết
1976, tết đầu tiên bị tù trong đời, khi nghe chuông nhà
thờ Tam Hiệp ngân nga lúc giao thừa, CTT ngấn lệ nghĩ
đến thân phận cá
chậu chim lồng
và bài thơ Lệ Chuông ra đời và anh thân tặng chúng tôi,
như thể cùng
một cảnh phương trời hoạn nạn: “Nay muốn bay lên
không có trời/ Trong lồng gẫy cánh nằm im hơi/ Chim vốn
là tim, trời là máu/ Không máu tim nào chẳng héo rơi/”
(Lệ Chuông, MHTT, trang 138)
Mấy
tháng sau tết 1976, chúng nó đóng hộp tất cả Sĩ quan
tại Suối Máu chuyển ra các trại giam Hoàng Liên Sơn.
Chúng tôi tìm cách liên lạc với nhau mỗi ngày lao khổ,
đứa leo núi đẵn gỗ, người lên đồi vỡ đất trồng
sắn, kẻ chặt giang nứa rừng hoang. Năm 1979, khi mấy
tỉnh phía bắc bị giặc Tàu tàn phá, chúng đưa tù từ
miền cao về miền trung du. Chúng tôi lại gặp nhau tại
trại Hà Tây, CTT “biên chế” vào đội mộc, tôi vào
đội rau xanh, cách nhau một cái ao nuôi cá. Hầu như mỗi
ngày, lợi dụng xuống ao rửa sạch “phân xanh” khi tưới
rau, tôi lẻn qua trại mộc để nhặt từng vỏ bào nung
nấu của CTT, “bằng
vai giạng đứng thế chân, bào cho lên nước đường vân
của lòng”....
Tôi
như con nghiện, phải tìm cách lội qua ao tù mỗi ngày để
được chích vào tĩnh mạch những đường
vân
ma túy có tên gọi Kỳ
Cùng:
…
“Có
sông nhưng mà người không nước/ Nước bán xon rồi, bán
lấy chi?- Một núi hư vô lầm chủ thuyết/
Bốn
bên mây phủ kín màu chì” (Đất,
trang 209, CTT, MTHT)
…
“Nó
cõng vua Lê và chúa Mác/ Về quê cha giết mẹ hiền lành/
Tang
sô bạc xóa đầu
con
trẻ/
Cỏ ngút sân trường, chợ vắng tanh” (Người,
trang 210, CTT, MHTT)
…
“Có
chồng mà tưởng như chồng mất/ Hương nhang đã cháy ở
trong lòng/...Em đứng ôm con bồng mưa nắng/ Sắt son, dũng
cảm đến Kỳ Cùng” (Và
Em,
trang 211, CTT, MHTT)
Đường
vân của lòng
là một quy tụ những nung nấu trong lò cừ dưới thời
của quỷ qua cái bảng hiệu mỹ miều Trại Cải Tạo
treo đầu dê bán thịt chó. Đường
vân của lòng
chính là những áng mây hiện thực từ đáy sâu tâm tưởng
đã bùng ra và tỏa bay khắp trời thênh thang sau mười
năm hai tay bị còng qua thi phẩm thứ hai của CTT là tập
thơ Lời Viết Hai Tay: “...Bài
học rút ra thật dứt khoát/ Nó tôi chẳng thể đội
chung trời/ Nó còn tôi mất, đơn sơ vậy/ Nó mất tôi
còn, chỉ thế thôi!...Vẫn cất hồn lên tìm ánh sáng/ Xa
vùng cát lún, bãi lầy sâu/ Đêm đêm thơ giống như cờ
tưởng/ Bầy chữ tung tăng múa ở đầu...”
Do
điều kiện dinh dưỡng vệ sinh trong tù, nhiều bệnh
truyền nhiễm hoành hành, mà thông thường là kiết lị
và lao phổi. Tôi đã nhờ vào số thuốc tây của CTT (do
Hội Văn Bút Thụy Điển (?) gởi về trại Hà Tây biếu
anh) để trị bịnh kiết lỵ. Nhưng liều thần dược
linh nghiệm hơn thuốc kiết lỵ, chính là những vần thơ
hào hùng có đủ đa sinh tố cần thiết để vực dậy
những bi quan yếm thế trong tù. Nếu ngày xưa Phùng Quán
đã nói (đại ý): Khi
ngã quỵ, hãy vịn câu thơ mà đứng dậy, thì
ngày nay, trong trại tù cộng cản, CTT vẫn an nhiên nói :
“Nếu
giữa cơn đau tôi ngã xuống/ Vết thương bầm tím máu
hình hài/ Lòng tôi vẫn đứng không lui nhượng/ Gối
chẳng quỳ hàng, miệng chẳng khai”
(MHHT, trang 251)...”Lòng
ta đứng vững như Vầu/
.../ Nắng
mưa
thì cũng trọn đời đứng ngay”
(MHHT, trang 173)...”Tóc
vấn phong ba em đứng mũi/ Một thuyền lèo lái cõi càn
khôn/ .../ Em vẫn đoan trang từng lóng trúc/ Vút roi quất
ngã kẻ thù người/” ...(MHHT,
trang 211).
Người
tù nào cũng nhận thấy Thơ Tù CTT mang hơi thở và ước
vọng như của chính mình, nên họ rất mong được chia sẻ
và bảo bọc nhà thơ. Nhân một ngày lao động khổ sai,
mọi tù nhân cố vượt qua con suối với gánh “hom sắn”
trên vai, trừ CTT đang lóng cóng bên bờ suối. KQ Nguyễn
Minh Công bèn cõng
bạn
qua con suối xiết, và bài thơ Con Công ra đời trong tình
tù: “Cám
ơn chim công/ Cõng ta qua sông/ Mấy mùa nước lũ/ Lận đận
mưa ròng/ (...)/ Mấy năm ở rừng/ Gặp toàn thú ác/ Lòng
ta tan tác/ Những dòng lệ rưng/ (…) Công bay lên trời/
Vẫn nhìn nhớ đất/ Công chuyền cành quất/ Vẫn không
quên trời”
(MHTT, trang 192).
Trung
Tá Nguyễn Minh Công, Giám Đốc Trường Mưu Sinh Thoát
Hiểm/ TTHLKQ Nha Trang, ra tù năm 1988 và mất vào năm 1989
tại Tân Định. CTT có mặt trong ngày đưa tang và chị
Công đã xin nguyên bài thơ Con Công chép tay để trên bàn
thờ của người bạn đời yêu dấu của mình.
Vừa
ra khỏi nhà tù nhỏ, CTT âm thầm viết Bài Ca Níu Quan Tài
(BCNQT), một tâm
sử thi
thu âm lại tiếng khóc, chụp lại hình ảnh tận cùng bi
thiết của xã hội Việt Nam sau 04/1975. BCNQT được viết
tay vào một tập vở học trò, như một quả bom nghìn tấn
được cất giấu tại từng 3 một chung cư ở ngay trung
tâm Sài Gòn: “...Kinh
bang sao chép Nga Tàu/ Bình quân là chặt cái đầu cao
hơn.../ Một bầy táng tận lương tâm/ Ăn hồ, ăn giẻ,
ăn vần ngày công/ Ăn tranh trẻ đói lọt lòng/ Ăn lường
tiếng khóc khép vòng tử sinh.../ Ngón đòn lý lịch ly kỳ/
Cha là “ngụy”, phạm trường quy con rồi.../ Mẹ xưa
khóc níu quan tài/ Nàng giờ ai vãn lại lời mẹ xưa...”
BCNQT
được chào đời tại Mỹ quốc trong sự đùm bọc của
đồng đội anh em. Cá nhân tôi được đọc qua BCNQT tại
Sài Gòn và tôi nghĩ ngay đến việc làm sao giúp tập thơ
chào đời tại Mỹ quốc. Vào thời điểm ấy, đang có
chương trình HO và ODP cho phép thân nhân và cựu tù chính
trị đủ điều kiện định cư Mỹ quốc. Sẽ là chuyện
điên rồ nếu nhờ những đồng đội sắp xuất cảnh
mang theo BCNQT. Chúng tôi nghĩ cách an toàn hơn là nhờ các
“bộ nhớ” xuất sắc mà chúng tôi đã gặp trong tù
sắp ra đi theo diện HO, chịu khó học thuộc lòng tập
thơ. Cuối cùng, Thiếu Tá Lâm Tùng Nguyên, Trưởng Phòng
Quân Báo Sư Đoàn 4 KQ, nhận lời học thuộc lòng khúc
“Ai Vãn” tròm trèm 1000 câu thơ trong vòng một tháng
trước khi gia đình anh đi Mỹ theo diện ODP vào năm 1989.
Bài Ca Níu Quan Tài được ghi chép lại và xuất bản tại
Mỹ năm 2001. Thơ tù của CTT đã được đồng đội cưu
mang trong tình nghĩa như vậy đó.
Sau
BCNQT, chúng tôi không được dịp thưởng thức những vần
thơ sáng tác tại Minnesota. Khoảng 2008, tôi từ Saint
Louis, Missouri chuyển về miền trung Cali, được biết CTT
muốn ra một tuyển tập thơ 60 năm. Tôi giới thiệu CTT
với nhà thơ Tâm Vô Lệ, Giám Đốc Thư Viện Toàn Cầu,
và hai bên đã đồng thuận tiến hành những bước cần
thiết cho việc in ấn. Mãi đến tháng 5 năm 2012, tôi nhận
tập thơ ký tặng của tác giả, vừa bất ngờ vừa mừng
vui.
Những
cảm nhận dù thô thiển, cũng là cách đáp lại cái tình
cố
tri
(chữ của CTT) mà tác giả đã dành cho tôi...
III-
CHẬP CHỜN CÁNH BƯỚM HIỆN DẦN RA
Trong
tiểu mục nầy, chúng tôi muốn mượn hình ảnh chập
chờn cánh
bướm
để diễn đạt những ghi nhận về “Tính Thơ CTT”.
A-
TÍNH LIÊN TỤC - Tập thơ là một hành trình liên tục và
xuyên suốt 60 năm, ghi nhận những thăng trầm của đời
người, dân tộc và lịch sử. Tính thủy chung đã tạo
thành một dòng thơ cá biệt, có thể gọi là Cõi
Thơ CTT:
“Riêng
bản thân người viết dựa vào kinh nghiệm sáu mươi năm
làm thơ của mình, nhận thấy có một
liên hệ nhân quả giữa
những
chữ thơ gieo đầu đời và mùa gặt thơ mai sau”
(CTT, MHHT, trang 30).
Còn
Giang Hữu Tuyên thì ghi nhận như sau: “Mỗi
nhà thơ có một cơ duyên và “lộ trình” riêng để đến
với độc giả, đến với người thưởng ngoạn thơ
mình.
Cung
Trầm Tưởng trước: diễm lệ, khuê các.
Cung
Trầm Tưởng sau: hoành tráng, phẫn nộ.
Nhưng
thủy chung như nhất, nằm tận sóng đáy tâm hồn tác giả
là dòng “dưỡng trấp” trữ tình”. (Giữa
Trước Và Sau, Giang Hữu Tuyên, MHHT, trang 504)
B-
TÍNH SÁNG TẠO- Tính sáng tạo hiển hiện trong mỗi bài
thơ, nó cũng hiển hiện trong mỗi con
chữ
trong mỗi câu thơ ông viết ra. Ba Thi Tập 5, 6 và 7 chính
là ba Thi Tập mang tính sáng tạo toàn diện. Trong lãnh vực
thơ, nếu hiểu sáng tạo là sáng kiến để tạo một
ngôn ngữ mới, thì Lục Bát CTT mà nhà thơ Viên Linh gọi
là “Lục Kinh Bát Quái”, là một thí dụ điển hình:
“Tôi
về bước bước đăm chiêu/ Tâm tư khoác kín sợ chiều
lạnh thêm/” (…). (Khoác
Kín, MHTT, trang 73). Xin mời đọc lại Tiểu Mục I, nhận
xét về tính sáng tạo trong Thi
Tập 6 và Thi Tập 7:
Tính
sáng tạo trong Thi Tập 6: “Chào
lim lưng trời tựa/ Lẫy lừng rừng bạch dương/ Phi lao
lớn phi thường/ Chào hào hùng trắc bá/ .../Chào ném lao
phi yến/ Thế vận hội vàng anh/ Chào khướu, khách đua
tranh/ Vành khuyên dòn kỷ lục/.../ Mưa nuôi đời phồn
thực/ Làm thành thế giới xanh/ Người ngoan, đất cũng
lành/ Vì Trời hằng muốn thế/ Trời Đất chỉ biết
cho/ Nên Đất Trời bất tử”
Tính
sáng tạo trong
Thi
Tập 5 :”Nó
khóc hay hơn là hát hỏng/ Đời phèn họng nó cũng đùn
chua/ Rốn vừa xót xáy lìa lòng mẹ/ Hồn đã tanh tao bị
bỏ bùa/ “Xung phong uống máu thù phanh xác!”/ Lời hát
đeo như một bớt chàm/ Nó tắm trong nồi da xáo thịt/
Sinh làm nô Bắc, tử binh Nam”...
C-
TÍNH SỬ THI – Ba Thi Tập Lời Viết Hai Tay, Bài Ca Níu
Quan Tài và Thi Bá Con Tắc Kè Và Bà Góa Phụ là ba thi
phẩm ghi lại cảnh sống của dân tộc trong một giai đoạn
lịch sử sau 04/1975 cho tận ngày nay: “Người
thơ xưa nói lên tâm thức bộ lạc. Người thơ tù “cải
tạo” bây giờ, một nạn nhân kiêm chứng nhân, nói lên
tâm thức cộng đồng của những người tù cải tạo”
(Ainsi
Parlait Le Poète, CTT, MHTT, trang 130): “Ngón
đòn lý lịch ly kỳ/ Cha là “ngụy”, phạm trường quy
con rồi/ ...Nỗi đau da thịt không liền/ Phân ly, kỳ thị
hai miền nát tan/ .../ Mẹ xưa khóc níu quan tài/ Nàng giờ
lệ đổ nối dài trường giang/
“ (Bài Ca Níu Quan Tài, MHTT trang 347)
D-
TÍNH TRỮ TÌNH – Tính
trữ tình trước 75 nằm rải rác trong Tình Ca: “Mùa thu
nơi đâu/ Người em mắt nâu/ Tóc vàng sợi nhỏ/ Mong em
chín đỏ trái sầu/ (…) Tàu em đi tuyết phủ/ Toa em lạ
lẫm đầy/ Làm sao em yên thấm/ Cho ấm mộng đêm nay/ Và
xuôi ngon trên trống trải đường dài/”
(MHTT, trang 70,71)
Tính
trữ tình vẫn hiển hiện sau 1975. Khi VietHome phỏng vấn
về tính trữ tình trong thơ tù, CTT trả lời: “Có chứ,
và khá nhiều đấy. Chất trữ tình nó ở trong máu mình
rồi, có muốn cai nó cũng không được. (…) Xin dẫn một
số câu thơ:”Nhớ
em trông ngóng hằng đêm/ Màn lay tưởng tóc, gối mềm
tưởng da/ (...)/ Em về giữa lúc khuya sang/ Mênh mông đức
hạnh, dịu dàng ưu tư/ Em đoan trang dáng hiền từ/ Tóc
rừng thu liễu rũ bờ vai thương/
(…) “Tôi
đi thu nghiệm thêm mầu phép/ Níu giữ mặt trời đứng
ngọ lâu/ (...)/ Tôi làm chiếc ghế lót trăng đêm/ Mời
cô ngồi xuống nồng hơi lụa/ Để đá như da cũng biết
mềm/ (...)”
(Những Dấu Chân LIZ, MHTT, trang 457).
E-
TÍNH PHẢN KHÁNG – Khi VietHome phong vấn về tinh phản
kháng trong tù, nhà thơ CTT lại trả lời: “Cũng như thơ
của nhiều người tù khác, thơ của tôi có những vần
phản kháng và chống kháng mãnh liệt. Giáo Sư Nguyễn
Ngọc Diễm gọi những vần thơ nầy của tôi là nộ
thi. Tôi
tự nghĩ rằng, nếu không làm những vần thơ phẫn uất
như vậy, tôi sẽ là một kẻ đạo đức giả. (…) Xin
trich dẫn một số câu thơ điển hình cho dòng nộ thi của
tôi:
“Cái đau vì nắng rần rần/ Vì thâm thù mới mười lần
gớm hơn/ Mồ hôi tuột cán cuốc trơn/ Nắm cho chặt nỗi
căm hờn này nhe!/…/ Một nhát quắm sâu dang đứt phựt/
Nghe vùi hun hút một phiền âu/ Hai nhát tông bay rên xiết
nứa/ Nghe chôn u uất bốn buồn rầu/.../ Môt quắm. Hai
tông. Ba phạt núi/ Bốn tông. Năm quắm. Sáu băng rừng/
Từng ấy rừng băng chân cứng đá/ Mai về đạp vỡ cửa
lao lung/.../ Hãy chặt chặt sâu tông phắt phắt/ Hãy phang
phang gắt quắm ào ào/ Mai về đạn nhảy ngay nòng súng/
Trực chỉ đầu thù nổ thật mau!” (MHTT,
trang 558)
F-
TÍNH NHỤC THỂ – Có thể nói Cõi
Thơ CTT
thể hiện nhiều bất ngờ mà một trong những bất ngờ
này là Tính Nhục Thể: “
Chúng ta chỉ có đời nầy thôi để hưởng thụ/ Để ăn
bùi, uống lịm, làm tình/ Và làm ra sản phụ/ Bú mớm
lớn tương lai/ Cất lợp một vòm đài cho linh hồn trú
ngụ”.
(Nhả Tụng Cho Một Thân Xác, trang 459)
Xin
trích dẫn vài câu thơ mang gợi cảm nhục tính xuyên suốt
dòng thơ 60 năm của CTT: “Đến
anh thân thể lụa là/ Dài đuôi con mắt, ngắn tà váy
kiêu/ Đến anh lưng thắt chiết yêu/ Sểnh tâm phá giới
con diều ái ân”
(Râu Xanh, trang 82). “Thì
ra anh mới biết, Sau xoắn xuýt thân nhau/ Con sâu tình tội
lỗi/ Vào đùn mối hồn sầu”
(Mãn Cuộc, trang 100). “Mời
em cạn cốc nầy luôn/ Buông con hoẵng chạy vào hồn nửa
đêm/ Sương dầm tuyết dãi rơi êm/ Trở thân con hoẵng
chao mềm thịt da/.../ Lông con hoẵng ấy vàng tơ/ Xin quỳ
hai gối vái thờ thần linh” (Vật
Tổ, trang 425). “Con
chim mào đỏ về hong nắng/ Phút ấy đời trai chỉ một
lần/.../Rúc tiếng còi sương, đêm khuya rách/ Một hồn
con gái rớm tình yêu/ Gối chăn nồng bén hương thân thể/
Biển dưới Trường Sơn khóc mỹ miều”
(Những Dấu Chân Liz, trang 450).
“Bốn mắt thắp mặt trời đêm rạng rỡ/ Bước nhịp
nhàng một luân vũ lung linh/ Với trăm thương nghìn mến
nến ân tình/ Tỏa sáng láng môi thơm men hợp cẩn” (Môt
Luân Vũ Lung Linh, trang 465).
Tính
nhục thể trong thơ CTT mang tính ẩn dụ, thôi thúc người
đọc vận dụng đến trí tưởng từ những câu thơ trau
chuốt, bóng bẩy để rồi khi đã vỡ ý ra rồi thì lại
cảm thấy sung sướng, hả dạ và thích thú.
IV-
SỐNG SAO CHO XỨNG LŨY THỪA THƯƠNG ĐAU
Thơ
tù của CTT vừa là thuốc đa sinh tố vừa là cây gậy
(để giúp người tù đứng thẳng), nên các bạn tù của
ông hầu như ai cũng học thuộc lòng một vài câu cho đến
một vài bài thích hợp để nuôi dưỡng cuộc sống tù.
Mà cuộc sống trong tù của Quân Cán Chinh VNCH chính là
Tình Nước và Tình Nhà. Tôi cũng vậy, những câu thơ
hoặc bài thơ mang tính Trữ Tình và Phản Kháng (Nộ Thi)
của CTT tôi đều học thuộc hay tìm cách lưu giữ. Bài
thơ Những Dấu Chân Liz gồm 246 câu được tôi chép kín
bằng chữ nhỏ vào hai trang của một tờ giấy học trò
từ Trại Hà Tây và cất giấu cho đến ngày mang nó sang
Saint Louis MO năm 1992. Các bài khác như Biểu Tượng, Kỳ
Cùng, Vạn Vạn Lý...rất cần thiết cho ngũ tạng lục
phủ của tôi, bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu.
Như
hai câu kết trong bài Biểu Tượng, trang 173: “Vầu
đanh như thép sáng ngời, Nắng mưa thì cũng trọn đời
đứng ngay”
là
một nhắc nhở quý báu đối với người tù trong địa
ngục của quỷ. Được biết, cây vầu
cùng họ với cây nứa cây tre hay cây trúc, nhưng cao và
to hơn cây tre rất nhiều. Cây vầu được nhà thơ chọn
làm biểu
tượng để
nói lên
khí
phách của người tù chính trị, vì vầu như trúc đều
là tiết
trực tâm hư (lóng
thẳng ruột rỗng) là biểu tượng của người quân tử.
Quan
niệm sống của thi sĩ ngày càng thiên về với thiên
nhiên. Tư tưởng nầy kết thành Thi Tập 6 và bàng bạc
trong Những Dấu Chân Ngang: “Lên
lên ráp nối phi thuyền/ Ghép chung trí tuệ, nối liền
cảm thông/ Hãy đi bốn biển tang bồng/ Kết cho bền mối
tương đồng năm châu/ Nghe châu Mỹ, ngóng châu Âu/ Dưỡng
nuôi nhân bản, đỡ đầu hành tinh/ Hãy đi đan nối tâm
tình/ Dấn thân vào chuyến viễn chinh màu hồng/ Khẳng
khiu một nhánh xương rồng/ Giữa sa mạc cát vẫn nồng
nhựa say” (Chuyến
Chót, trang 394).
Vừa
qua ngưỡng cửa bát tuần mà cụ
ông
CTT
vẫn cứ bước
chân ngang trên một triền phiếm định
như thuở nào, nghĩa là vẫn yêu đời yêu người chưa
nguôi với một luyến
ái quan
không
tuổi
(chữ
của CTT):
“Dưới
nếp trán nhăn nheo/ Một luồng niềm đằm thắm/ Lưu niên
hồn mẫn cảm/.../Sống bắc qua tha nhân/ Một chiếc cầu
lân trợ/ Xích ghế lại kề gần/ Bằng nụ cười niềm
nở/ .../ Mỗi lần nói thương nhau/ Là cách tân ngôn
ngữ/.../ Anh trẻ ra trăm tuổi/ Khi em nói yêu anh/ Yêu em
anh nói với/ Tiếng nói đáy lòng mình/ Một trinh nguyên
ngôn ngữ/ Của bảy sắc cầu vồng”...(Cho
Một Hồn Không Tuổi, CTT, thư riêng).
Quan
niệm sống như vậy, là ông đã thực sự thủy chung với
từng con
chữ
và với cả cõi
thơ
của riêng ông. Trong bài Điểm Tâm Xuân Hoàng Liên Sơn
sáng tác năm 1978 với 4 câu kết như sau:
Mai
sau thịt thắm da liền,
Cái
yêu khác trước, cái nhìn khác xưa,
Cái
tin vô cớ xin chừa,
Sống
sao cho xứng lũy thừa thương đau.
Cung
Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ 1948-2008
ra đời, là để thể hiện cách sống sao cho xứng với
lũy
thừa thương đau
mà cả dân tộc của ông đã và đang hứng chịu.
Bắc
Đẩu võ ý
Corona,
06/2012
(*) Tựa của 4
Tiểu Mục là thơ của CTT