
Lúc
Phong Hóa ra số đầu (tòa soạn lúc ấy ở đường
Takou), tôi làm báo Rạng đông của Nghiêm Xuân Huyến, do
Trúc Đỳnh Trương Công Đỉnh làm chủ bút. Không nhớ vì
một trạng thái tâm lý đặc biệt nào lúc đó, kỳ nào
tôi cũng đả kích báo Phong hóa. Ai còn lạ gì cái tính
hiếu thắng của tuổi trẻ lúc bấy giờ. Dù phải, dù
trái, cũng cố cãi cho kỳ được để lấy phần thắng
về mình. Cãi có khi đúng, có khi cù nhầy. Cãi có khi
lịch sự, có lúc quấy. Riêng tôi thì tôi nhận thấy
ngay rằng tôi cãi quấy nhiều hơn lịch sự. Mối tranh
chấp bắt đầu từ đó…
Rạng
đông chết, tôi lấy tờ Vịt nữ làm cơ quan liên minh
chống Phong hóa. Nhưng tờ Vịt nữ yếu quá, chúng tôi
bèn ra tờ Vịt đực, tờ báo hoàn toàn trào phúng đầu
tiên ở Bắc Việt. Kỳ nào chúng tôi cũng viết vài bài
kèm mấy cái “pô tanh” đả kích Phong hóa dữ dội.
Các
bạn còn lạ gì tuổi trẻ: chửi mà đã có đà thì ngày
một ngày hai đâm ra hỗn láo, ba que, mất dạy. Tội
nghiệp nhất là Thạch Lam. Từ lúc bắt đầu câu chuyện
này, thật quả tôi không thấy anh dính líu vào nội vụ,
mà tôi cũng không thấy anh viết một bài nào ký tên anh
để trả lời chúng tôi. Phải nói thực, anh có một thái
độ chiết trung, nếu không muốn nói là anh không muốn
lôi thôi. Nhưng lúc bấy giờ tôi đâu muốn chịu yên cho
Thạch Lam đứng khách quan như vậy. Tôi như con chó sói
trong ngụ ngôn của La Phông Ten, anh không có lỗi, nhưng
họ hàng nhà anh có lỗi, thì anh phải chịu lỗi luôn.
Chúng tôi đả Thạch Lam tàn tệ như đã đả Hoàng Đạo,
Nhất Linh, Khái Hưng. Nói có vong linh Nguyễn Tường Tam
chứng giám, thấy cuộc bút chiến mỗi ngày một kém lịch
sự đi, anh em cứ vạch áo cho người xem lưng mãi chẳng
hay ho gì; Nguyễn Tường Tam viết một thư “riêng và
mật” cho chúng tôi yêu cầu chấm dứt vụ “chửi lộn
dơ dáy” đó.
Nói
cho đúng, bức thư viết rất nhã nhặn, nhưng chúng tôi
có bao giờ chịu nhận thức như thế. “Chửi lộn dơ
dáy”! Bốn chữ này hàm một ý xỏ xiên: không được!
Phải chửi nữa! Và lần này, không còn biết lôi ai ra
chửi nữa, chúng tôi bèn chửi Thạch Lam. Chúng tôi chửi
một cách rất hèn hạ, bẩn thỉu, không những lôi một
vài chuyện cá nhân ra chửi để bôi nhọ Thạch Lam, hơn
thế, có khi còn bịa ra những chuyện không hề có, để
xưng xưng lên như chuyện thật.
Cho
đến bây giờ, tôi không biết phản ứng của Thạch Lam
với những lời càn rỡ, xỏ xiên ấy ra thế nào, nhưng
mấy số báo đó ra được vài ngày thì có một ông bạn
đem tưới dầu vào lửa. Ông bạn ấy nói: “Các anh đã
biết gì chưa? Bọn Phong hóa Ngày nay nhất định cho các
anh một mẻ. Riêng Thạch Lam công khai nói khắp mọi nơi
rằng nó mà gặp “Tây Tím” (xước danh của nhà văn Vũ
Bằng – BT) ở đâu nó phải đánh cho kỳ chết”.
Về
sau này, bỏ cái nghề viết báo chửi càn, ngồi uống trà
ngẫm lại, tôi ngờ rằng người đem câu chuyện ấy làm
quà cho chúng tôi hoặc muốn đùa dai, hoặc làm mật thám
cho Tây phao tin ấy để chia rẽ anh em viết văn làm báo.
Nhưng ngay hồi ấy tôi đâu có tin như thế. Tôi yên trí
là Thạch Lam có nói thế thật, có định làm nhục tôi
thật. Thế là mối thù vô căn cứ, không có lý do gì
hết, mối thù của tôi và Thạch Lam bắt đầu trên tờ
báo Vịt đực, trên Hà Nội báo và một hai tờ báo “ma
trơi” khác, tôi cứ lải nhải đả kích Thạch Lam không
thiếu chuyện gì, không thiếu khía cạnh nào, bất kể
đời công hay đời tư, ngoài ra tôi còn làm vè đem xuống
xóm phổ biến để chửi Tự lực văn đoàn: Nguyễn Tường
Tam, Nguyễn Tường Long, nhất là Nguyễn Tường Lân. Tôi
còn cố ý làm cho người ta lầm Nguyễn Tường Lân (Thạch
Lam) với một nghệ sĩ cùng tên là Nguyễn Tường Lân
khác, lúc đó đang bị dính vào một vụ lường gạt mang
tai mang tiếng.
Thế
rồi chuyện ấy cũng qua đi.
Tình
cờ một hôm trên báo Ngày nay tôi thấy có thấy một bài
phê bình sách nói về cuốn Một mình trong đêm tối (một
tác phẩm của Vũ Bằng – B.T). Tôi vội nhìn xuống cuối
bài để xem tác giả bài phê bình là ai thì thấy ký là
Thạch Lam và Khái Hưng. Chưa đọc, tôi đã yên trí hai
ông này thế nào cũng tiết sự thù hận, chửi rủa mình
thật tàn tệ… và tôi không đọc. Nhưng hôm sau, Vũ
Trọng Phụng, sau khi rít một hơi thuốc lào, lấy xe điếu
đập vào đầu bảo: “Này, Bằng! Cái bài chúng nó viết
về cuốn sách của toa đứng đắn lắm, tớ cho là được
đấy. Đọc xem!”.
Tôi
đọc. Phải nói ngay rằng đọc xong, tôi ngạc nhiên hết
sức, về phần Khái Hưng, tôi không nói làm gì. Tôi ngạc
nhiên nhất là về Thạch Lam. Vì lúc đó Thạch Làm quản
nhiệm tờ Ngày nay, toàn quyền trong tay anh, anh muốn hạ
tôi thế nào mà chẳng được, vậy mà trái lại, Thạch
Lam lại viết một bài rất lịch sự, khen cuốn tiểu
thuyết của tôi có những luận cứ làm cho tôi cảm động
và đôi chỗ cũng chê, nhưng chê một cách nhẹ nhàng,
thân mến và xây dựng. Phải đặt vào cá nhân tôi lúc
đó mới có thể biết được sự xúc cảm của tôi thế
nào: tôi không hiểu! Tôi không hiểu Thạch Lam định chơi
trò gì đây, vì cái óc tồi tệ của tôi lúc đó tin rằng
một người bị tôi đả kích dữ dội hàng nửa năm trời
như thế, đả kích một cách nhơ bẩn như thế, không thể
nào viết một bài khen kẻ địch của mình như Thạch Lam
đã làm. Tôi sợ – sợ rằng trong vụ này có một âm
mưu gì nguy hiểm, nhất là tôi biết rằng Thạch Lam là
một người lạnh lẽo, ít nói ít cười, mà đối với
nhãn quan của tôi lúc bấy giờ một người như thế, là
một người thâm hiểm.
Hóa
ra tôi lầm. Lầm một cách khốn nạn!
Biết
là Thạch Lam, Thế Lữ, Nguyễn Kim Hoàn hay ra vào tiệm
OXN, một hôm tôi tìm đến cảm ơn Thạch Lam về việc
anh phê bình cuốn truyện dài của tôi và cũng nhân đó
anh em trò chuyện một đôi câu hầu đánh tan những gay
cấn có thể có giữa hai người.
Đêm
ấy, Thạch Lam nằm một mình không có bạn. Trò chuyện
với anh chừng năm phút, tôi lại gặp sự ngạc nhiên
nữa: anh nói chúng tôi chưa trò chuyện với nhau bao giờ
nhưng anh biết tôi lâu rồi, biết từ hồi còn học ở
Lycée. Và anh nói chuyện bình thản, tự nhiên y như là từ
trước giữa chúng tôi không hề xảy ra chuyện gì tàn
tệ.
Thấy
giọng nói và cử chỉ của Thạch Lam như thế. Tôi không
tin liền. Mãi sau này, ngồi trên những cái ghế thấp
trước cửa chợ Đồng Xuân, uống nước chè tươi với
kẹo vừng, nói chuyện về những người buôn gánh bán
bưng, về những đứa trẻ ngủ đường ngủ xá dưới
trời đông rét mướt, về những cô gái nhà nghèo ở phố
huyện xa xôi, tôi mới dần nhận thấy anh quả là người
quân tử, không có một ý tưởng gì thấp kém, quý trọng
sự sống hơn cả tròng con mắt mình, hơn thế lại yêu
mọi người một cách chân tình, tuyệt nhiên không biết
nói xấu ai, thù hận ai, không biết ghét ghen hay ganh tị
với ai.
Nếu
sống đến bây giờ, anh hơn tôi hai tuổi. Anh mất lúc
hãy còn quá trẻ. Chẳng biết có phải là thiên mệnh hay
không, nhưng nhớ lại những lời anh nói trong những lúc
đi chơi la cà ban đêm với nhau ở ngoài đường, tôi thấy
anh hay nói một câu đại khái là: “Xét cho cùng ở đời
ai cũng khổ, người khổ cách này, người khổ cách khác.
Bí quyết là tìm cái vui trong cái khổ. Vì sống, chỉ
sống thôi cũng đã quý lắm rồi. Người ta không bao giờ
nên phí phạm cái sống, coi thường sự sống”.
Ngay
lúc đó, nghe anh nói, tôi không mấy lưu ý, và tôi nghĩ
rằng Dostoievsky đã nhiều lần nói lên cái tư tưởng đó
rồi. Nhưng sau này khi anh mất đi, ngồi nghĩ ngợi thấm
thía về câu nói đó, tôi thấy quả Thạch Lam là người
yêu sự sống hơn cả ai ai. Anh quý từ chén nước chè
tươi nóng, trang trọng đưa lên miệng uống một cách gần
như thành kính, tiếc từ một cái kẹo vừng rơi xuống
đất, nhặt lên phủi bụi rồi cầm lấy ăn một cách
chậm rãi như thể vừa ăn vừa suy ngẫm, cảm ơn trời
đã cho mình sống để thưởng thức một món ăn ngon lành
như vậy, anh cẩn thận từng câu nói với cô bán hàng vì
sợ lỡ lời có câu nào không chu đáo khiến cho người
ta có thể tủi thân mà buồn.
Không.
Trong nhóm Phong hóa Ngày nay, Hoàng Đạo là người lý
thuyết, Nhất Linh là người thực hành, Khái Hưng là
người đả phá vào nếp sống cũ để tiến tới một
đời sống mới. Nhưng muốn nói đến một người tôn
trọng nhân bản thực sự, một người yêu thương đồng
bào xót xa từ tâm can tì phế thương ra thì, người ấy
chính là Thạch Lam. Thạch Lam cao hơn người khác về điểm
đó. Nhưng cái cao đó sẽ không đi đến kết quả như ý
muốn nếu không có một nghệ thuật đặc biệt giúp tay:
những sự việc, những tình tiết, những trạng thái tâm
lý rất bình thường, đối với những cây bút tầm
thường sẽ bị rậm lời và nói lên không hết ý. Với
Thạch Lam, khác hẳn. Anh đã nói lên được cảm tính của
các nhân vật của anh một cách đơn thuần, giản dị và
trong sáng.
Sống
trong đám người đi lại bình thường, hồn nhiên nhưng
quằn quại trong nhọc nhằn đau khổ, Thạch Lam yêu họ
như yêu mình. Một người như thế không thể là một nhà
lý thuyết, cũng không thể là một nhà hành động, mà
chỉ có thể là một nhà tư tưởng, như chim đường nga
kia đêm tăm bay mỏi, lấy mỏ rút ruột mình để nuôi
một đàn con đói.
Tôi
nhớ có một đêm cùng anh đi thơ thẩn ở đường Hàng
Bông, Thợ Nhuộm trông sang nhà pha Hỏa Lò. Xa xa, có tiếng
khóc tỉ tê vọng lại. Chúng tôi đi đến chỗ tiếng
khóc đó xem sao thì thấy một đứa bé đeo một cái hộp
thiếc ngồi co ro ở trong xó tối. Hỏi tại sao, thằng bé
nói: “Cháu đi bán phá sa (đậu lạc rang), được hơn
hai hào cả thảy, vừa định về nhà thì có đứa đến
đánh cháu và cướp hết cả tiền của cháu” – “Nhà
cháu ở đâu?” – “Nhà cháu xa lắm, ở tận đường
Hàng Bột. Nhưng dù gần cháu cũng không dám về, vì cha
cháu mất sớm, mẹ cháu đi lấy chồng, bố ghẻ cháu ác
lắm, cháu mà về ông ấy giết cháu chết!”. Móc trong
túi còn hơn hai hào, Thạch Lam đưa cả cho thằng bé và
ân cần bảo nó về ngay kẻo ở nhà mẹ đợi. Đi một
quãng đến Hội chợ, tôi nói với Thạch Lam: “Tôi ngờ
thằng bé này nói láo. Hình như đã có một đêm đi hát
ở Khâm Thiên về, tôi cũng thấy nó khóc và nói y như
thế – và người bạn cùng đi với tôi bị lừa” –
“Vậy ư? Nhưng bị lừa hay không, theo tôi, cái đó không
quan hệ lắm. Điều cần là mình làm một việc xét ra
phải làm, theo ý của mình, còn người thụ hưởng việc
phải đó muốn thực thi việc phải đó ra thế nào, tùy
họ. Nghĩa là khi nào mình thấy việc gì phải làm thì cứ
làm, kết quả ra sao không cần lắm. Rất có thể nhiều
người cho tôi hành động như thế là “nối giáo cho
giặc”, nói một cách khác là lòng tốt, ở vào trường
hợp đó, không ích gì, hành động của tôi không giải
quyết được vấn đề gì dứt khoát. Có thể quan niệm
như thế là phải, nhưng tôi có quan niệm về sự sống
của tôi. Đúng hay không, tôi không biết. Nhưng óc tôi
nghĩ như thế, tôi cứ nói thực với anh như thế”.
Nghe
Thạch Lam nói, tôi không trả lời. Nhưng vừa bước chậm
rãi trong đêm vừa suy nghĩ, tôi chợt nhớ một lần một
bạn văn đã nói cho tôi biết tại sao Thạch Lam thất bại
trong việc quản trị báo Ngày nay lúc đầu.
Thạch
Lam có nhiều sáng kiến trong ngành báo. Có thể bảo rằng
anh chính là bộ óc của Tự lực Văn Đoàn, nhưng quản
trị tờ Ngày nay mà thất bại, ấy chính vì anh là một
nhà văn, một ký giả thượng thặng nhưng lại nuôi một
tâm hồn nghệ sĩ theo đúng nghĩa của hai tiếng đó,
không cần giới ý đến sự thành bại về khía cạnh
thương mại và tài chính.
Nhớ
lại câu nói của anh bạn, tôi lại dần nhớ lại có một
lần trước đó, một bạn thơ đã nói công khai trước
anh em trên một bàn rượu ở chợ Tân Định:
“Tôi
nợ Thạch Lam rất nhiều về tinh thần. Đối với tôi,
anh tốt quá, tốt không thể nào tưởng được: bao nhiêu
lần tôi ký bông vay tiền của báo Ngày nay, Thạch Lam đều
chuẩn nhận hết, không từ chối một lần nào. Mà phải
nói thực rằng, mười lần nhận trước tiền ứng bài
như thế thì, họa hoằn có hai ba lần tôi viết bài cho
báo Ngày nay, còn những lần khác thì cứ tiêu đại đi
rồi quên mất không viết trừ…”.
Thì
ra, Thạch Lam trong văn chương cũng như ngoài đời, lúc
nào cũng thuần nhất trong ý niệm về cái sống: đời
người khổ cực đủ trăm đường, nếu không tự tạo
cho mình hay tạo cho những người ở xung quanh một phút
vui thì chằng còn gì đáng kể.
Hồi
còn mồ ma Đinh Hùng, tôi thấy anh hay kể lại câu chuyện
này giữa hai ngụm rượu mạnh:
“Tôi
không bao giờ quên cái dáng điệu rất đẹp của anh
(Thạch Lam), khi anh nâng chén; cái đầu nghiêng nghiêng,
cặp mắt lim dim, anh rung đùi nhắc một câu mà anh viết
trong Hà Nội với tôi rằng anh đi nhẹ nhàng, lặng lẽ
không tưởng được, dường như nếu bước mạnh thì đất
nó đau. Có người lại cho rằng anh lặng lẽ âm thầm
như vậy chính là vì anh là người rất mực khiêm nhường
lúc nào cũng tự coi mình là bé nhỏ, không muốn để cho
ai thấy sự hiện diện của mình, không muốn để cho ai
phải lưu ý tới mình”.
Không.
Về phương diện văn chương cũng như về phẩm cách ta
phải nhận là, trong làng văn, Thạch Lam quả là một
người độc đáo. Có tài lại khiêm nhường, người nhỏ
mà lòng nhân ái lớn, Thạch Lam mất đi để lại sự
nuối tiếc khôn nguôi cho nhiều bạn bè. Người ta tiếc
Thạch Lam mất quá sớm, thành ra tác phẩm anh để lại
chẳng bao nhiêu. Nhưng nghĩ cho cùng thì, trong cái nghiệp
văn chương cũng như thiên hạ sự nói chung, giai nhân danh
tướng không để cho ai trông thấy bạc đầu, sự đó
không có gì là lạ.
12
-1971
Vũ
Bằng
Triệu
Xuân sưu tầm, tuyển chọn