
Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp
Nguyễn Nhược Pháp là kết quả
mối tình sét đánh giữa học giả Nguyễn Văn Vĩnh, một
người đa tài, đa tình đất Hà thành và cô gái Lạng
Sơn, Phan Thị Lựu.
Năm 1913 ông Vĩnh có khách sạn
Trung Bắc ở nhà 50 phố Hàng Trống, gần hồ Gươm - Hà
Nội… Cô Lựu thường qua lại trọ ở khách sạn, nên
quen biết ông Vĩnh. Rồi do duyên số, họ nên vợ nên
chồng.
Khách sạn Trung Bắc nằm trong
khuôn viên rộng mấy nghìn mét vuông. Mặt trước quay
chính phố Hàng Trống, mặt sau quay ra phố Lý Quốc Sư.
Cả hai mặt đều có cổng lớn, bên trong xung quanh có
vườn, cây cối xanh tươi và cổ thụ. Giữa khuôn viên
này là một biệt thự ba tầng, trang bị hiện đại để
làm nhà khách sạn.
Bà Phan Thị Lựu ở tầng hai.
Tại mảnh đất thơ mộng này, ngày 12-12-1914, Nguyễn
Nhược Pháp ra đời, sau này tên tuổi in đậm trong “Thi
nhân Việt Nam”.
Ông Vĩnh đi làm, đến trưa thì
nghỉ lại khách sạn với người vợ hai, tối mới về
phố Mã Mây với vợ cả và các con. Tưởng thế cũng là
yên ổn, nhưng số phận con người đa tài, đa tình lại
vướng bận thêm nhiều và không thể dừng ở đó.
Vừa tuổi lên 2 (năm 1916), Nguyễn
Nhược Pháp mồ côi mẹ. Khi biết tin ông Vĩnh có thêm
một người đàn bà khác, mà là một cô đầm lai đẹp
như thiên thần, thì Phan Thị Lựu không làm chủ được
tình cảm của mình. Nỗi ghen tuông đã trào lên và bà đã
tìm cái chết để giải thoát.
Chập chững những bước chân
trên đường đời, Nguyễn Nhược Pháp được bà Đinh
Thị Tính - vợ cả ông Vĩnh - mẹ cả đón về nuôi như
con đẻ, với một câu thở than: Cái bà Lựu ghen ngược.
Người ghen phải là tôi…
Từ đó cho đến lúc lìa đời,
suốt 22 năm (1916- 1938), Nguyễn Nhược Pháp đều sống
với những người anh em cùng cha khác mẹ, trong một đại
gia đình, thật vui vẻ và nhiều kỷ niệm sâu sắc.
Đọc những trang hồi ức của
những người thân trong gia đình phần nói về tuổi thơ
Nguyễn Nhược Pháp, mới thấy rằng đây là một con
người có nhiều phẩm chất cao quý, khi còn ấu thơ.
Năm 1923, gia đình Nguyễn Văn
Vĩnh đã chuyển từ phố Mã Mây về phố Thụy Khuê,
trước trường Bưởi (trường Chu Văn An bây giờ) gần
hồ Tây.
Đây là một trong những tài sản
lớn của ông F.H Schneider- một người Pháp, vốn là đồng
nghiệp làm nhà in, xuất bản báo, vì yêu mến ông Vĩnh
đã chuyển nhượng cho trước khi ông này về hưu ở cố
quốc.
Nhà ông Vĩnh đông người, nhiều
con, lại thêm bạn các con ở tỉnh lẻ về ở nhờ để
tiện bề ăn học… vậy mà vẫn rất thoải mái.
Gia sản đất đai của Schneider
là một khu đất rộng hơn ba nghìn mét vuông. Trong này có
biệt thự hai tầng, có xưởng máy giấy mái vòm, bê tông
cốt thép, không cột. Ông Vĩnh sửa lại thành nhà thờ
và nhiều phòng để ở. Có mười gian nhà ngang, có bếp,
nhà để xe, các phòng cho người nhà sinh hoạt…
Bấy giờ hai người con lớn của
bà Vĩnh là Nguyễn Hải và Nguyễn Giang đang đi học ở
nước ngoài. Còn ba người con gái: Nguyễn Thị Loan,
Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Thị Vân đã lớn, được ở
khu biệt thự với bà Vĩnh và một người cô ruột là bà
Nguyễn Thị Tý, làm dược sỹ ở nhà thương Phủ Doãn…
Nguyễn Nhược Pháp được ở chung với 7 anh chị em còn
nhỏ tuổi ở khu nhà ngang.
Trong đó có Nguyễn Thị Mười,
Nguyễn Dực, Nguyễn Hồ còn quá nhỏ, không tự lực được
trong sinh hoạt, nên có một u già trông nom… Họ sống
rất thoải mái, tự do và khép kín, tự quản, dường như
người lớn không ai để ý đến…
Buổi sáng hằng ngày, Nhược
Pháp cùng anh chị em học chữ nho khoảng nửa giờ do ông
tú tài Phùng Năng Tĩnh người Bát Tràng làm gia sư, dạy
dỗ. Rồi họ đạp xe đi học trường tư. Mọi sinh hoạt
khác như giặt quần áo, cơm nước đã có người lo hết.
Trong số 7 anh em, Nhược Pháp là
con bà hai, được coi là anh, mặc dù sinh sau Nguyễn Dương
(con mẹ cả) mấy tháng. Thời xưa xã hội coi những người
con vợ bé, chỉ là con thêm vợ nhặt. Nhưng nhà ông Vĩnh
không hành xử theo lối ấy.
Theo kể lại, Nguyễn Nhược Pháp
thông minh, đẹp trai, học giỏi có đầu óc tổ chức,
nhiều sáng kiến, làm đầu tầu cho các em trong các hoạt
động, sinh hoạt thể thao, vui chơi rất văn hóa.
Nhược Pháp có sáng kiến làm
một bản hợp đồng nội bộ, cấm nói nhảm nhí. Cậu
soạn ra khoảng 50 câu thông dụng hằng ngày mọi người
cần tránh, ví như những từ ngữ: đếch, bỏ mẹ, bỏ
xừ…, hoặc những câu chửi thề không ai được nói…
Ai lỡ lời nói, người nào nghe thấy, có quyền cốc vào
đầu, véo tai, coi như một hình thức phạt.
Nhược Pháp có sáng kiến làm
một bản hợp đồng nội bộ, cấm nói nhảm nhí. Cậu
soạn ra khoảng 50 câu thông dụng hằng ngày mọi người
cần tránh, ví như những từ ngữ: đếch, bỏ mẹ, bỏ
xừ…, hoặc những câu chửi thề không ai được nói…
Ai lỡ lời nói, người nào nghe thấy, có quyền cốc vào
đầu, véo tai, coi như một hình thức phạt.
Nhược Pháp bày trò tập bơi.
Khi thì hồ Tây, khi thì ra ao đình làng Thụy Khuê, lúc
đến hồ Trúc Bạch. Bảy anh em đều biết bơi kể cả
con gái. Nhược Pháp yêu môn bơi lội nhất. Cho tới những
ngày mới bị bệnh, anh vẫn chưa chịu bỏ bơi.
Ngày chủ nhật, Nhược Pháp tổ
chức đua xe quanh Hồ Tây, có giải thưởng, thu hút các
bạn học cùng tham gia. Lại tổ chức trượt pa-tanh. Ban
đầu chơi trên đường Hoàng Hoa Thám, sau đường đua dài
đến Quần Ngựa, vòng trở về lối Thụy Khuê… Rồi tổ
chức tham quan du lịch bằng xe đạp, quanh Hồ Tây, rồi
quanh Hà Nội và đi xa hơn.
Mỗi tuần, cha thường cho các
con tiền đi xem chiếu bóng, Nhược Pháp rủ rê mấy anh
chị lớn hơn, để dành tiền ấy, làm vốn in báo Tuổi
Cười. Nhược Pháp làm chủ nhiệm, Nguyễn Phổ làm chủ
bút, Nguyễn Kỳ quản lý nhà in. Báo in thạch, hai màu đỏ
và tím.
Mỗi tháng một số, có 16 trang,
khổ 15x20 cm. Nội dung tờ báo là thông báo những tin tức
gia đình, nêu tên ai học giỏi, phê phán những việc xấu.
Lại có trang thể thao, biểu dương kỷ lục mới( trong
gia đình ), có quảng cáo các buổi diễn kịch, diễn xiếc
do anh chị em tổ chức trong nhà. Trang cuối có in thơ của
Nhược Pháp sáng tác.
Mỗi số ra 10 tờ, bán 5 xu cho
người lớn và các anh chị lớn. Báo phát hành được
mấy năm. Sau này lớn lên, Nhược Pháp đã chọn những
bài thơ trong báo Tuổi Cười, thành tập thơ Ngày Xanh.
Nhược Pháp còn tổ chức một
đội kịch gia đình, mà chính anh viết kịch bản và đạo
diễn… Các anh chị em làm diễn viên.
Nhà có xưởng in rộng, họ kê
bàn ghế thành sân khấu, tạm dùng câu đối nhà thờ
trang trí, lại làm phông màn, chăng điện… nghĩa là như
sân khấu thật. Giá vé 5 xu một chỗ ngồi.
Những người lớn trong nhà cũng
mua vé và ngồi xem cổ vũ con em mình… Có buổi ông Vĩnh
cũng ngồi xem các con diễn, ông thấy lòng tràn ngập niềm
vui… Nhược Pháp còn hướng dẫn thành lập đội xiếc,
phân vai diễn: Người diễn xiếc xe đạp, người làm ảo
thuật,, người dậy thú, người thổi kèn.
Nguyễn Nhược Pháp có những thú
vui thật giản dị, không giống bất cứ một thiếu gia
nào thời bấy giờ. Chăm chỉ học hành, yêu quý mọi
người, và biết tự lập. Viết xong một bài thơ, một
truyện ngắn, vở kịch…khi có tiền nhuận bút thì rủ
một hai em, hay vài bạn bè đi ăn phở xách Nghi Xuân bang
thất ở phố Hàng Đàn, giá 5 xu một bát…
Nhược Pháp đã viết được một
số vở kịch, và có một ước mơ, là cùng với Phạm
Huy Thông, bạn học thời ở Trung học Albert Saraut, tri kỷ
văn chương, cùng nhau tổ chức một Đoàn kịch không
chuyên, đưa lên sân khấu vở kịch Người học vẽ của
mình.
Nhược Pháp như một trang giấy
trắng thơm, một bông hoa thanh khiết. Vào những năm cuối
đời, trái tim chàng thi sỹ, tác giả bài thơ Chùa Hương
đã xôn xang trước một cô gái áo đen, phố Hàng Đẫy,
như một lời tỏ tình.
Đó là một tiểu thư, một trong
tứ mỹ Hà thành bấy giờ. Hằng ngày đạp xe qua nhà,
đứng bên này đường nhìn vào vườn nhà em, ngắm nhìn
bóng em thấp thoáng. Rồi hình ảnh cô gái áo đen trong
vườn của nhà họ Đỗ ở phố Hàng Đẫy, cứ sống mãi
trong tim Nhược Pháp...
Nhược Pháp chưa tường mặt
thân mẫu của mình, nhưng được mẹ cả hết lòng yêu
thương, như con đẻ. Trước khi nhắm mắt ra đi về cõi
vĩnh hằng, bà dặn lại Hãy đặt mộ của tôi nằm bên
cạnh Nhược Pháp.
Nguyễn Nhược Pháp sinh ra là
hoạt động, cả đến khi nhuốm bệnh vẫn không ngừng ý
chí vươn lên vượt qua số mệnh.
Từ 2 tuổi Nhược pháp sống với
mẹ cả ở Mã Mây rồi đi học vỡ lòng. 6 năm tiếp theo
học phổ thông trường Trí Tri (phố Hàng Đàn và Trung
Bắc học hiệu- phố Lý Quốc Sư). 14 tuổi thi đỗ lớp
6 Trường trung học Albert Saraut. 20 tuổi đỗ tú tài phần
nhất, 1935 đỗ tú tài phần hai, vào Đại học luật.
Nhược Pháp luôn học giỏi, xứng đáng cho các em noi
theo.
Từ năm 1930 trở đi, kinh tế gia
đình Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu khó khăn trầm trọng.
Nguyễn Nhược Pháp vừa đi học để thi tú tài, thi đại
học Luật, vừa làm ở tòa báo An Nam mới, viết thơ…
để có tiền nhuận bút, giảm bớt chi tiêu của gia đình
cho mình…
Từ sau khi chị Nội đang đi học
Luật năm thứ ba mắc bệnh mất (1933), rồi cha mất(
1936), chị Vân mất( 1938), và tin anh Hải mất trong Nam…
Nhược Pháp buồn đau, nhuốm bệnh lao hạch…
Ngày 19-11-1938 ông trút hơi thở
cuối cùng tại Bệnh viện Đồn Thủy, hưởng dương 24
tuổi.
Ông để lại ba bức thư. Một
bức viết bằng chữ Pháp, cám ơn các thầy thuốc đã
hết lòng cứu chữa. Một bức thư vĩnh biệt mẹ cả và
gia đình( khi ấy ông Vĩnh mất được
hai năm).
Một bức gửi cho người anh là
nhà thơ Nguyễn Giang, với tâm nguyện, hãy chăm sóc mẹ
cả và các em nhỏ tốt hơn nữa.
Ban đầu, thi hài Nhược Pháp
được mai táng ở nghĩa trang Hợp Thiện, Quỳnh Lôi, Mai
Động, Hà Nội, sau được bốc mộ về làng Phượng Dực,
quê cha.
Khúc Hà Linh
(Bài viết lấy tư liệu từ gia
đình nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp.)