
Trong
Thi nhân Việt Nam (của Hoài Thanh, Hoài Chân), Lưu Trọng
Lư được đánh giá cao với những bài thơ nổi tiếng
như: Nắng mới, Tiếng thu, Thơ sầu rụng, Một mùa đông,
Giang hồ, Còn chi nữa, Thú đau thương, Chiều cổ… Bài
thơ Một mùa đông kể lại một câu chuyện tình thơ mộng
nhưng dang dở của thi sĩ với nhà điêu khắc Điềm Phùng
Thị.
Lưu
Trọng Lư thuộc thế hệ mở đầu của phong trào Thơ
Mới. Những bài thơ mang âm hưởng trữ tình lãng mạn,
thanh thoát, giàu nhạc điệu của ông, được công chúng
đương thời nồng nhiệt chào đón, đã góp phần đem lại
sự chiến thắng cho Thơ Mới trong buổi ban đầu.
Điềm
Phùng Thị tên thật là Phùng Thị Cúc. Bà là nhà điêu
khắc nổi tiếng trên thế giới, được bầu là Viện sĩ
Thông tấn Viện Hàn lâm khoa học, văn học và nghệ thuật
châu Âu. Bà được đưa vào danh sách những tài năng lớn
của nghệ thuật thế kỷ XX trong từ điển Larousse.
Phùng
Thị Cúc sinh ngày 18/8/1920 tại làng Châu Ê, xã Thủy
Bằng, ven đô Huế, quê nội ở xã Bùi Xá, huyện Đức
Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Bà là con ông Phùng Duy Cẩn từng làm
quan triều Nguyễn, có thời làm tham công chỉ huy việc
xây lăng Khải Định. Mồ côi mẹ từ lúc 3 tuổi, bà
theo cha sống ở Tây Nguyên. 6 tuổi đã theo cha sống khắp
các tỉnh vùng cao nguyên trung phần ròng rã 9 năm, rồi
mới về Huế học Trường Đồng Khánh.
Năm
1946, bà tốt nghiệp nha khoa tại Trường Đại học Y khoa
Hà Nội khóa đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa. Toàn quốc kháng chiến, bà ra vùng tự do phục
vụ cho cách mạng. Vì một cơn bạo bệnh, Phùng Thị Cúc
được đưa sang Pháp điều trị. Tại Pháp sau khi khỏi
bệnh, Phùng Thị Cúc tiếp tục theo học và tốt nghiệp
bác sĩ nha khoa. Sau đó Phùng Thị Cúc đã kết hôn với
bác sĩ Bửu Điềm. Tên Điềm Phùng Thị ra đời từ đó.
Mãi đến năm 30 tuổi, bà mới đến với nghệ thuật
điêu khắc. Vào năm 46 tuổi, bà có cuộc triển lãm đầu
tiên và được công chúng Pháp chào đón nồng hậu. 36
tác phẩm điêu khắc của bà được đặt khắp lãnh thổ
nước Pháp. Tên tuổi của Điềm Phùng Thị đã nổi danh
khắp châu Âu. Những năm cuối đời bà quay về sống ở
quê hương và đã mất ở Huế năm 2002.
Trở
lại với thời điểm và nguyên cớ ra đời của bài thơ
Một mùa đông. Khi đó Cúc mới là một cô nữ sinh, từ
Huế ra Hà Nội học Trường Thăng Long. Trên chuyến tàu
tốc hành Huế – Hà Nội, cô được người chị là bạn
của Lưu Trọng Lư gửi gắm nhà thơ trông nom giùm em gái,
với lời dặn thân tình “Dọc đường giúp em một
chút”.
Cúc
là một cô gái Huế sang trọng, đài các, hoa khôi của
Trường Đồng Khánh. Gương mặt kiều diễm với đôi mắt
đẹp mang nét buồn vời vợi cùng nụ cười thiên thần
có má lúm đồng tiền đã hút hồn nhà thơ đa tình của
chúng ta ngay từ phút đầu gặp gỡ. Suốt chặng đường
dài hai người cũng chẳng có chuyện gì nhiều để nói
với nhau. Cúc im lặng ngắm cảnh dọc đường. Và nhà
thơ thì lẳng lặng nhìn ngắm giai nhân.
Khi
tàu về đến ga Hà Nội, nhìn thấy trên gương mặt người
đẹp thoáng chút lo lắng, vì đây là lần đầu tiên cô
tới Thủ đô, nhà thơ đã hỏi địa chỉ và tình nguyện
đưa cô đến tận nơi. Thi sĩ đã thực hiện đúng lời
bạn dặn dò và chắc hẳn đó cũng là “mệnh lệnh của
trái tim” chàng.
Tìm
đến đúng địa chỉ, Lưu Trọng Lư đưa Cúc lên tận
căn gác nhỏ, nơi có căn phòng của những người bạn,
người chị của cô đang ở. Chào hỏi, dặn dò rồi bịn
rịn chia tay. Khi vừa xuống gác, ra đến đường thì tình
cờ Lưu Trọng Lư gặp thi sĩ Phạm Hầu – người bạn
nhỏ của nhà thơ khi đó đang học Cao Đẳng Mỹ thuật ở
Hà Nội. Phạm Hầu mời Lư vào nhà chơi. Khi lên gác,
bước vào một căn phòng, mở cửa sổ ra, nhà thơ giật
mình khi nhìn thấy người bạn đường xinh đẹp mà mình
vừa chia tay ít phút trước đây đang ở ngay bên khung cửa
sổ của căn phòng đối diện. Vậy là không một chút
đắn đo, Lư quay sang nói ngay với bạn: “Mình ở luôn
đây với cậu được không?”. Phạm Hầu nhiệt tình vui
vẻ đồng ý ngay. Lưu Trọng Lư vui sướng ngây ngất. Nhà
thơ chỉ còn biết cảm ơn trời đất đã run rủi cho
mình được gặp mối duyên may mắn kỳ lạ này. Suốt
mùa đông năm đó, giữa cái giá lạnh của tiết trời Hà
Nội nhà thơ đã được sống trong sự ấm áp dịu nhẹ
của một mối tình sáng trong, thơ mộng.
Ở
căn phòng bên này cô gái cũng không thể vô tình. Bởi
ngay lần đầu tiên, khi nhà thơ nhìn qua cửa sổ đã bắt
gặp đôi mắt Cúc mở to, sững sờ nhìn người anh “dẫn
đường” rồi sau đó bối rối mỉm cười rời khỏi
khung cửa. Sau này, thật lạ lùng mỗi khi nhà thơ bất
thần mở cửa sổ lại nhìn thấy Cúc: khi thì đang ngồi
đọc sách ôn bài, khi thì đang cắm một lọ hoa. Cũng có
khi Cúc chẳng làm gì, ngồi suy tư mơ mộng. Cũng có khi
nghe một tiếng ho nhẹ, nhà thơ mở hé cửa nhìn sang lại
bắt gặp nụ cười bối rối, e thẹn của người đẹp.
Cũng có lần khi mở cửa sổ, nàng không hề ngước lên
nhìn, cho đến lúc cánh cửa như tự nó khép lại. Lại
có lần không biết vì chuyện gì, Cúc ném sang bên này
một cái nhìn hờn giận, trách móc khiến nhà thơ ngơ
ngẩn suốt một buổi chiều.
Mọi
việc dường như chẳng có gì khác lạ: Cửa sổ mở rồi
lại đóng, đóng rồi lại mở. Thế nhưng sự trông đợi
nhớ nhung đã thấm vào gan ruột từng ngày từng ngày
một. Làm sao có thể nhớ hết được biết bao lần Cúc
đã vào trong giấc mơ của thi sĩ đa tình, đã trở thành
nguồn cảm hứng cho bài thơ Một mùa đông ra đời. Bài
thơ gồm 4 đoạn kể lại một “love story” trong mộng
ảo mà thấm đẫm những nỗi đau có thật.
Đôi
mắt em lặng buồn
Nhìn
thôi mà chẳng nói,
Tình
đôi ta vời vợi
Có
nói cũng không cùng.
Yêu
hết một mùa đông
Không
một lần đã nói,
Nhìn
nhau buồn vời vợi
Có
nói cũng không cùng.
Trời
hết một mùa đông
Gió
bên thềm thổi mãi,
Qua
rồi mùa ân ái:
Đàn
sếu đã sang sông.
Em
ngồi trong song cửa
Anh
đứng dựa tường hoa,
Nhìn
nhau mà lệ ứa,
Một
ngày một cách xa.
Đây
là dải Ngân Hà,
Anh
là chim Ô thước
Sẽ
bắc cầu nguyện ước
Một
đêm một lần qua.
Để
mặc anh đau khổ,
Ái
ân giờ tận số,
Khép
chặt đôi cánh song!
Khép
cả một tấm lòng!
Nhà
thơ đã lí giải thật tài tình tâm trạng và nỗi lòng
của mình. Có lẽ đây là đoạn thơ có những câu thơ ấn
tượng hơn cả:
…Em
chỉ là người em gái thôi,
Người
em sầu mộng của muôn đời,
Tình
em như tuyết giăng đầu núi,
Vằng
vặc muôn thu nét tuyệt vời.
Ai
bảo em là giai nhân
Cho
đời anh đau khổ?
Ai
bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho
vướng víu nợ thi nhân?
Ai
bảo em là giai nhân
Cho
lệ tràn đêm xuân?
Cho
tình tràn trước ngõ?
Cho
mộng tràn gối chăn?
Thật
thú vị khi được biết rằng trong bài thơ lãng mạn này
lại chứa đựng những câu chuyện hoàn toàn có thực.
Nhà thơ Lưu Trọng Lư kể rằng, sau một thời gian sống
cạnh nhau, tình cảm của hai người cũng có “bước phát
triển” mới. Theo sự sắp đặt của những người bạn,
có lần hai người đã đi chơi chùa Thầy cùng với một
nhóm bạn. Sau một hồi leo núi, nhìn chung quanh chẳng thấy
ai, chàng và nàng ngượng ngập đi bên nhau. Đến trưa cả
nhóm mới trở lại sân chùa cùng ăn trưa. Bữa trưa có
gà quay và rượu vang Pháp. Bắt chước mọi người, Cúc
cũng uống vài li rượu nho. Đôi má ửng hồng và cặp
môi nhuốm màu nho chín, rơi trên trán vài lọn tóc đen
nhánh… Tất cả đã tạo thành một hình tượng nghệ
thuật có sức ám ảnh lớn:
… Ngày
hôm tiễn biệt buồn say đắm
Em
vẫn đùa nô uống rượu say.
Em
có biết đâu đời vắng lạnh,
Lạnh
buồn như ngọn gió heo may.
Môi
em đượm sặc mùi nho tươi,
Đôi
má em hồng chúm nụ cười,
Đôi
mắt em say màu sáng lạn,
Trán
em để lỏng làn tóc rơi.
Tuy
môi em uống, lòng anh say,
Lời
em càng nói càng chua cay
Anh
muốn van em đừng nói nữa,
Lệ
buồn sẽ nhỏ trong đêm nay.
Hãy
xếp lại muôn vàn ân ái
Đừng
trách nhau, đừng ái ngại nhau,
Thuyền
yêu không ghé bến sầu
Như
đêm thiếu phụ bên lầu không trăng.
Hãy
như chiếc sao băng băng mãi
Để
lòng buồn, buồn mãi không thôi.
Câu
chuyện tình thơ mộng đã không dẫn đến một kết thúc
có hậu. Họ mãi mãi là một đôi tình thân giữa một
nghìn trùng xa cách. Đến năm 1975 họ mới có dịp gặp
lại nhau. Cúc từ Pari về Hà Nội. Người em gái bé bỏng
ngây thơ hôm nào đã là bà Điềm Phùng Thị – một điêu
khắc gia nổi tiếng thế giới. Hôm đó Hội Nhà văn mở
tiệc mừng các trí thức, nghệ sĩ ở nước ngoài về,
trong đó có Điềm Phùng Thị và họa sĩ Mai Trung Thứ là
người đã say mê vẽ bức chân dung Tôn Nữ Lệ Minh (vợ
nhà thơ Lưu Trọng Lư) năm 17 tuổi. Nhà văn Nguyễn Tuân
đã dắt tay Điềm Phùng Thị đến chỗ vợ chồng nhà
thơ Lưu Trọng Lư đang ngồi và nói: “Đối mặt nhau
rồi, ngâm lại bài thơ ngày xưa đi.” Tên tuổi của nhà
điêu khắc Điềm Phùng Thị được lưu danh trong từ điển
Larousse, đó là một niềm tự hào đáng kể. Nhưng cũng
là một niềm vinh hạnh lớn khi bà trở thành nhân vật
chính trong một bài thơ nổi tiếng của thi sĩ Lưu Trọng
Lư
BTV.Vũ
Thanh Nhàn
Theo
nguồn PGS.TS Lưu Khánh Thơ