
Hắn tự hào là người Việt. Bao giờ
hắn cũng cải chính khi được nhận diện là người Tàu, Nhật hay Triều Tiên. Dù đã
đặt đơn tỵ nạn. Tỵ nạn chính trị hẳn hoi. Một cách chối bỏ Tổ quốc Xã hội chủ
nghĩa phổ biến và bắt buộc của những người như hắn ở đất này.
Nghĩ về điều
đó, hắn lại buồn cười. Rồi cười buồn. Chính chị với chả chính em. Nước không
chính được pháp. Dân không chính được danh. Đành thoát thân bằng cách vượt biên
hợp pháp. Bằng đường không. Không sợ chết vì vượt biển.
Hắn ba mươi tuổi.
Hơn một chút. Nào hắn có định thế đâu. Các cụ xưa bảo "tam thập nhi lập". Có
thêm một chút gì khác thường trong óc, khéo ra có thể thành anh hùng. Như Nguyễn
Huệ?!
Nhưng làm gì cũng phải có thời có thế. Thời thì dễ gì đổi được. Thì
phải có thế. Thế là gì? Như hắn tự nghiệm suốt thời sống cuộc đời trí thức xã
hội chủ nghĩa ở nhà, thế là ghế của bố, là tiền của mẹ. Hắn làm gì có.
Cha
mẹ hắn, (mà hắn gọi là thầy u), chừng hơn mười năm trở lại đây mới dám ngày hai
bữa, để nuôi hắn học thành tài, rồi thành người thất nghiệp không chính thức.
Hàng tháng, hắn nhảy xe khách về thăm các cụ, tiện thể cõng ra Hà nội ít gạo
ngon. Gạo quê mới xay lắm chất, không cần thịt cá, ăn ngọt lắm. Ăn thế, hắn đủ
sức mang danh "viện sỹ" của một viện nghiên cứu thuộc Bộ văn hóa đang ngắc ngoải
vì phải tự hạch toán, hàng đêm cắp sách đi học ngoại ngữ, chờ một dịp may xuất
ngoại.
Xuất được rồi, hắn ở lại luôn. Nước này đủ rộng để hắn kiếm được một
phòng thuộc quản lý của xã hội. Cũng phải chung đụng với nhiều dân tộc thuộc năm
châu. Song quả thực rộng hơn hẳn căn phòng tập thể cấp bốn ngày trước hắn được
phân ở với ba ông độc thân làm cùng viện. Nước này cũng đủ giàu để hắn chép
miệng chịu nhục cho một tương lai năm năm, mười năm, hai mươi năm nữa của gia
đình. May ra, hắn có thể gửi tiền về để ở nhà xoay xở cho một mảnh đất, xây lấy
cái nhà, rồi tùng rinh rinh cả nhà ra Hà Nội, và thu xếp cho một đứa em chậm mồm
chậm miệng đi lao động xuất khẩu ở đâu đó.
Vậy mà cũng chẳng dễ. Đồng bạn tỵ
nạn của hắn người ta đi làm ầm ầm. Làm chui thôi. Vẫn ăn tiền xã hội. Lâu lâu
bao gái một lần. Xấu đẹp miễn bàn. Miễn là đàn bà thật. Việc cũng tầm thường,
nói giản dị và cao qúy là lao động giản đơn. Chẳng cần một mồm tiếng cũng làm
được. Vì họ khoẻ. Lại bạo.
Còn hắn, mang tầm vóc phổ biến của con dân châu
á, đúng hơn là của một dân tộc anh hùng đói ăn nhiều thế kỷ, lại ác hại là hắn
cận, thành thử mặt hắn, với cái kính chồm chỗm trên mũi, tuy có phồng ra nhờ bơ
sữa vẫn thiểu não làm sao ấy. Hắn đầy một đầu ngoại ngữ, trừ tiếng nước này,
sang đây đi xin việc chẳng khác người ngọng. Lại mắc tật của bọn trót học hành,
mở miệng là tính ngay đến chuyện chia động từ và biến đổi cách, thành thử lại
không bằng kẻ tập mãi vẫn lắp bắp "Việt Lam muôn lăm". Đi xin việc, người ta
nhìn hắn nghi ngại. Đến lúc hắn mở miệng thì tử tế nhất hắn nhận được câu " Es
tut mir leid...", "Đáng tiếc là...". Mà nhiều khi cũng không phải mất thời gian
hỏi người ta đã "nain" "nain" rồi.
Dù sao, trong huyết quan hắn vẫn chảy
dòng máu quật cường của con cháu vua Hùng. Túng. Thì tính. Hắn ngọ nguậy. Rồi
vùng. Sang phía đông, nguyên là cả một nước xã hội chủ nghĩa khi xưa. Đông
Berlin bây giờ là Mechca của những người phụng thờ khói thuốc (lá). Tất nhiên là
khói thuốc người Đức hút.
Hắn sẵn một bụng tiếng Nga. Hồng quân Liên xô (cũ)
đang chờ về nước là bạn buôn lý tưởng. Hắn nhận thuốc. Rồi giao cho các cựu vici
Việt Nam, những đồng hương khốn khổ. Hắn chỉ đủ liều đến thế.
***
Bây
giờ, hắn đã giàu, khá giàu. Nhưng hắn vẫn vẫn là hắn. Soi gương, hắn thở dài.
Hàng ria con kiến trồi ra trên cặp môi mềm, (theo lời cô bạn gái khoa văn ngày
xưa hắn theo đuổi thì nét môi đó thường chỉ có ở những người vất vả, dễ bị tổn
thương), không đủ làm cho hắn có cái vẻ lì lợm cần thiết trong nghề nghiệp mới.
Đôi mắt hắn vẫn ngơ ngác sau cặp kính. Nhìn hắn, không còn vẻ tội nghiệp nữa, mà
buồn cười.
Nhưng mà hắn không cười được. Lính Nga rút về, đi có đội ngũ hẳn
hoi, sau ảnh Lenin và cờ đỏ(!?) để lại đằng sau đội ngũ những người bán thuốc
Việt Nam thất nghiệp, lo quắt ruột vì tiền nộp thuế cho maphia và đủ thứ tiền
khác đang làm lẹm đi số vốn đã gom góp được nhờ tận tình phục vụ dân bản xứ
nghiền thuốc ít tiền.
Hắn muốn về. Về làm trọc phú Việt Nam thôi. Đường công
danh của hắn đoạn rồi. Có điều hắn không về được. Chẳng hiểu từ bao giờ hắn
nhiễm cái tính "nước tới đâu bắc cầu tới đó". Ngày đi, tưởng sang tới đất này là
khó. ai ngờ trở về Việt nam quê hương ta còn khó hơn.
... Hắn vẫn sống,
trong tình nhân đạo của dân bản xứ, ung dung hơn bà con ở nhà sống trong tình
hữu nghị với nhân dân các nước Lào và Campuchia. Hắn vẫn chưa có vợ. Và năm nay
xấp xỉ cái tuổi nhi bất hoặc rồi.
Giờ hắn càng ít nói. Thi thoảng hắn đến
nhà tôi, lừ lừ uống bia - thứ đồ uống ngày xưa hắn không biết uống, vì nhiều lý
do, mà hắn thường chỉ nhấn mạnh một lý do rằng hắn không muốn mang danh bét nhè.
8. 1994
Lê Minh Hà