“Anh,
gieo hạt, từ tâm trong giọt máu
Hạt
nảy mầm thành từng búp ưu tư
Em,
cất giữ, ngại ngần cho tháng Sáu
Giọt máu, buồn,
bỗng hoá vô gia cư”
H.Q.M
Tôi nằm dài trong
phòng khách sạn một buổi sáng sớm, giữa phố cổ Hà
Nội, nơi mà thật ra tôi không còn thấy cổ, hay cũ, như
người ta vẫn thường nói nữa. Nhưng có sao. Hà Nội,
với tôi, ở định dạng nào vẫn là Hà Nội; để yêu
và để nhớ.
Tôi ở Hà Nội đã
được tròn 1 tuần. Chuyến công tác này tôi dự định ở
lại trọn 1 tháng và nó là chuyến trở về Hà Nội kéo
dài nhất kể từ khi tôi rời đất kinh kỳ mà đi. 12 năm
rồi, chưa bao giờ tôi về Hà Nội lâu thế, và tôi cũng
chưa bao giờ xa Sài Gòn lâu thế.
Chưa bao giờ tôi vượt
qua nổi cảm giác bứt rứt vì phải xa Sài Gòn. Tôi không
thể xa thành phố ấy quá 1 tuần, không thể xa nổi cái
cảm thức của sự tự do cô đơn trong một thành phố
lộng gió. Hôm tôi đi, Sài Gòn đã bắt đầu vào mùa
mưa. Không biết lúc này, khi tôi nằm đây, thành phố có
mưa không?
Tôi sẽ chịu đựng
được thêm bao lâu đây? Không ngày nào tôi không nghĩ về
Sài Gòn dù lần ra Hà Nội này, tôi bắt đầu cảm thấy
vấn vương một đôi mắt ươn ướt qua cặp kính cận
của một người con gái mang tên hoa sen. Tôi luôn ấn
tượng mạnh với những người con gái đeo kính cận, và,
tôi nhớ, có lần tôi đã nhắn tin cho nàng rằng “đừng
bao giờ bỏ cặp kính ra khi ở bên cạnh anh nhé”. Nàng
đã hỏi vì sao nhưng tôi không trả lời. Điều gì cần
biết, sẽ có lúc nàng biết…
Và tôi bỗng nhớ lại
một cặp kính cận như thế, cách đây 15 năm, giữa Hà
Nội này, ngày tôi còn là cậu sinh viên năm cuối. Ngày
tôi đi khỏi Hà Nội, điều thứ hai tôi nghĩ, sau gia đình
mình, chính là cặp kính cận của người bạn gái học
chung ấy, cặp kính đã cùng tôi bao nhiêu kỷ niệm…
12 năm trước, trong
một ngày chớm Hạ, tôi đi khỏi Hà Nội, dứt khoát và
kiên định. Tôi đã để lại vài dòng cho một người
rằng “mảnh đất, cũng như con người, khi mình xa nó,
chắc chắn mình sẽ nhớ rất nhiều về nó, bằng một
thứ tình cảm lớn hơn rất nhiều tình yêu, một thứ
tình cảm không thể nào định nghĩa nổi”. Tôi yêu Hà
Nội đến vặn xoắn cả lòng mình nhưng tôi vẫn phải
ra đi, vì tôi biết, như một cảm thức déjà vu rằng tôi
thuộc về Sài Gòn và tôi cũng sẽ yêu Sài Gòn không khác
gì đã yêu Hà Nội nhưng bằng một thứ tình cảm không
thể đồng nhất, không thể trộn lẫn với những gì tôi
dành cho quê hương.
12 năm trước, trong
một ngày chớm Hạ, trên con đường tôi ra sân bay Nội
Bài, đi ngang qua đường Kim Mã, con đường đến trường
của tôi một thời rất xa, Hà Nội mới qua cơn mưa đêm
và nắng sớm cũng mới vừa lên. Qua cánh cửa taxi vùn
vụt trôi, tôi thấy hai bên đường là những dải bằng
lăng tím ngát lướt qua, lướt qua… Màu bằng lăng hôm
ấy, trong mắt tôi, in lên nền trời, đan xen vào những
bóng người lặng im ngược xuôi, đan xen vào kỷ niệm
của những ngày đi học và đã khiến tôi bật lên trong
lòng mình một nghĩ suy gần như nức nở “tại sao mình
lại bỏ một thành phố đẹp thế này mà ra đi?”. Cảm
thức đó, câu hỏi đó, đến bây giờ vẫn còn dằn vặt
tôi dù rằng tôi không thể nào xa nổi Sài Gòn. Ký ức,
hình như, luôn có chút gì đó níu chân nhau; có chút gì
đó quyến luyến nhau mà không thể nói ra. Với tôi, màu
bằng lăng tím đã trở thành thứ níu chân, thứ quyến
luyến không thể nói ra ấy.
Tôi còn nhớ, những
ngày còn nhỏ, những anh chị lớn, rồi cả ba và mẹ
cũng vẫn thường nói với tôi rằng “màu đỏ là màu
của tình yêu, của niềm tin; màu xanh là của hi vọng và
màu tím, là của thủy chung”. Tôi mang cái mặc định về
màu tím của thủy chung ấy cho đến tận hôm nay, cho đến
tận mãi sau này, cho đến tận khi nào mặt đất này
không còn màu tím nữa. Phải chăng, chính cái mặc định
ấy, cùng với sự ngẫu nhĩ của dải bằng lăng tím đang
độ ra hoa trên đường Kim Mã đúng ngày tôi ra đi, đã
khiến tôi luôn nghĩ về Hà Nội, luôn nhớ về Hà Nội,
luôn yêu Hà Nội bằng một tâm thức rất riêng, dù rằng
tôi có sống ở đâu, gắn bó với nơi đâu nữa. Hà Nội,
đã giống như kiểu một mối tình đầu, của tình yêu
thực sự chứ không phải của những cảm nhận thinh
thích tuổi học trò. Và mối tình đầu thì bao giờ cũng
sâu đậm, bao giờ cũng theo-mang cho dù con người ta sau
này đã có gia đình, có tình yêu mới, có những niềm hi
vọng mới…
Trước ngày tôi xách
ba lô từ Sài Gòn về Hà Nội công tác, tôi cũng ngồi
trong taxi và đi lướt qua một con đường Sài Gòn sau cơn
mưa có nắng mới lên. Hôm ấy, tôi đi làm ở tận Bình
Thạnh và xuyên qua con đường Nơ Trang Long, qua Lê Quang
Định, tôi đã gặp một dải bằng lăng tím trải dài.
Tôi còn nhớ như in cảm giác của mình khi ấy. Ừ nhỉ,
12 năm sống ở Sài Gòn, quan sát nhiều, cảm nhận nhiều
mà tại sao tôi lại quên mất rằng Sài Gòn cũng rất
nhiều bằng lăng trổ hoa tím mướt mỗi độ Hè về.
Trên taxi hôm ấy, tất cả những hình ảnh của ngày tôi
rời khỏi Hà Nội bỗng hiện về rõ mồn một, như một
cuốn phim chạy mê mải trong ký ức. Và cũng bật ra trong
trái tim của tôi một câu hỏi tương tự như 12 năm trước
“2 tuần nữa, mình cũng sẽ rời Sài Gòn cho một chuyến
công tác dài ngày. Chắc là dải bằng lăng Sài Gòn này
sẽ làm mình nhớ về Sài Gòn, nhớ về cảm giác chia tay
một thành phố mình yêu lắm lắm?”.
Màu tím của bằng
lăng, ở Sài Gòn và ở Hà Nội, nơi nào cũng có. Thực
ra, đó là thứ hoa không phải đặc trưng của một vùng
miền nào cả nhưng không hiểu vì sao tôi lại nghĩ về
nó nhiều đến thế. Hà Nội, bằng lăng nhiều nhất ở
khu Kim Mã, khu Hồ Tây, dọc đường Phùng Hưng và xen lẫn
đó đây trong nhiều phố cổ. Sài Gòn, bằng lăng cũng
được trồng ở nhiều nơi mà có lẽ, quận Bình Thạnh
là nơi tập trung nhiều loài hoa ấy nhất. Và tôi thoáng
nhớ lại cây bằng lăng ở góc vườn hoa bé xíu trước
mặt khu chung cư nhà tôi ở ngày tôi còn là một cậu bé
con 5-6 tuổi. Cây bằng lăng ấy rất cao, rất lớn và nó
thường thả những quả hạt khô để chúng tôi nhặt
chơi, nhặt chơi mà không biết để làm gì. Chỉ biết,
hình dáng nó là lạ, không hẳn như một quả chuông nho
nhỏ mà cũng chẳng hẳn như hình một trái châu treo trên
cây thông Noel mà chúng tôi vẫn được nhìn thấy qua các
cuốn tạp chí Liên Xô cũ.
Đã từng có lúc tôi
mặc định suy nghĩ một cách rất ngớ ngẩn rằng bằng
lăng là loài hoa đặc trưng ở miền Bắc nhưng sau này
tôi mới hiểu là mình đã lầm. Nhưng đến bây giờ,
không hiểu sao, tôi vẫn cứ nhớ mãi về bằng lăng mỗi
khi tôi nhớ về Hà Nội. Và quan sát kỹ những cánh bằng
lăng, tôi thấy thật tội nghiệp cho loài hoa bình dị ấy.
Những chùm hoa tím ấy, sẽ bạc phếch màu nếu như phải
chịu nắng nhiều quá và sẽ rã cánh rất nhanh nếu gặp
mưa rào. Vậy mà ông Trời lại quá bất công khi bắt
bằng lăng phải nở vào mùa Hè, mùa rực rỡ của nắng
và cũng bất thần nghiêng ngả bởi những cơn mưa rào
mãnh liệt. Bằng lăng bỗng nhiên như một người con gái
đẹp mà yếu đuối phải cố vươn mình ra chống chọi
lại với thiên nhiên. Cái đẹp của bằng lăng bỗng
thành cái đẹp đúng kiểu của một người phụ nữ, tức
là chỉ có thì mà thôi. Qua đi cái thời rực rỡ ấy,
còn lại gì ngoài sự xơ xác, rã rời. Hứng nắng, chịu
mưa, hình ảnh của bằng lăng không khác gì hình ảnh của
một cô gái đương thì bỗng nhiên sang ngang lấy chồng
rồi tảo tần hôm sớm đã làm cho nhan sắc kia phải tàn
phai oan uổng… Nhưng những tảo tần ấy, phải chăng,
chính là điều giữ chân quân tử, như các cụ xưa vẫn
dạy rằng vợ chồng là cái nghĩa nhiều hơn cái tình???
Lần ra Hà Nội này,
tôi không chỉ gặp lại bằng lăng mà tôi còn gặp lại
nhiều thứ tôi đã từng rất nhớ khi ở Sài Gòn. Đó
là vị thơm của tô phở ngon buổi sáng sớm. Đã bao
nhiêu năm rồi tôi không dậy sớm. Nhưng ở Hà Nội hôm
nay, tôi quyết tâm dù gì đi nữa cũng phải dậy sớm đi
ăn sáng như thói quen đã có của 12 năm trước. Tôi thích
cảm giác phố xá vội vàng cho một ngày mới, kéo chiếc
ghế con bên lề đường và đợi chờ một tô phở ngan
ngát trên đường Hàng Vải. Hồi tôi đi, hàng phở ấy
còn chưa nổi tiếng. Bây giờ, phở Hàng Vải đã thành
một thương hiệu đến mức khi tôi nhắc đến cái ngon
của nó, có những người anh em ở Hà Nội đã trêu chọc
tôi rằng “Anh đi khỏi Hà Nội lâu mà về đây ăn vẫn
khôn mồm thế”. Ôi, tôi yêu cái chữ “khôn mồm” ấy
biết bao nhiêu. Người Hà Nội, xét ở khía cạnh ngôn
ngữ, rất sáng tạo và rất thú vị. Tôi thích những
ngôn từ mới phát xuất từ đời sống của Hà thành. Nó
lắt léo, dí dỏm, gần gũi và thông minh vô ngần. Những
ngôn từ ấy, tôi nghĩ, lẽ ra cần phải được những
nhà ngôn ngữ học cân nhắc đưa vào tự điển sau một
thời gian dài đã sống trong công chúng. Tiếc là vẫn
chưa ai nghĩ đến việc đó một cách nghiêm túc. Và vì
thế, tôi cứ mải miết thôi, để kiếm tìm, và “tra
vấn” từ trong một cuốn tự điển vô hình khác, tự
điển vô hình của đời sống…
Lần ra Hà Nội này,
tôi không chỉ gặp lại bằng lăng mà tôi còn gặp lại
một màu hoa khác nữa để khiến cho nỗi nhớ cứa vào
lòng thêm. Đó là trên đường đi làm, tôi đã gặp, ở
đây đó và tập trung khá nhiều ở khu đường Bưởi,
màu hoa điệp vàng rực rỡ. Tôi sực nhớ đến những
cây điệp ở Sài Gòn, những cây điệp ở khu quận Nhất,
quận 3 và cả ở ngay con đường dẫn vào nhà tôi. Ngày
xưa, tôi đã từng mơ ước làm sao có thể có được một
căn nhà nho nhỏ, với một mảnh sân nho nhỏ mà trong mảnh
sân con ấy, tôi dứt khoát sẽ trồng một cây điệp
vàng. 24 năm sống ở Hà Nội, tôi chưa bao giờ để ý
đến màu hoa điệp. Có lẽ, với cái mặc định nghĩ về
Hà Nội là nghĩ đến sấu, bàng, cơm nguội, vô ưu và
bằng lăng, tôi đã quên mất rằng trong lòng Hà Nội cũng
có một chút Sài Gòn, giống như trong lòng Sài Gòn, mà
tôi mới nhận ra thôi, cũng có một chút Hà Nội với dải
bằng lăng tím đường Nơ Trang Long…
Và không chỉ ở khu
vực Bưởi, Cầu Giấy… tôi mới gặp điệp vàng. Ngay
đối diện quán café của cơ quan tôi, ở góc Phùng
Hưng-Lê Văn Linh, cũng có những gốc điệp vàng trổ
bông. Cái màu vàng rộn ràng ấy dường như làm cho mùa
Hạ thêm nồng nàn hơn và làm cho tôi nhớ thêm về Sài
Gòn, một nỗi nhớ vặn xoắn trong từng dòng máu chảy
qua tim…
Tôi nhớ đêm Sài Gòn
đèn đường vàng loang loáng mưa bay và tôi ngồi dưới
cánh dù nhỏ ăn tô phở đêm đượm mùi nhớ miền Bắc.
Tôi nhớ những tiếng nói cười bạn bè; tiếng người
con gái hờn dỗi trách móc; tiếng cười khúc khích của
ai sau lưng. Tôi nhớ những cơn gió lộng mỗi chiều đổ
về từ sông Sài Gòn khiến thành phố dịu lại nhiều
thật nhiều dưới cái nắng mùa Hạ. Hà Nội cũng có một
dòng sông uốn quanh nhưng dường như sự đô thị hóa
mạnh mẽ của bờ bên kia con sông ấy đã khiến gió từ
sông không về lòng thành phố nữa. Tôi nhớ những chiều
trên đường Nguyễn Huệ, ngồi từ góc café quen thuộc,
tôi nhìn cơn mưa bất chợt đi qua và để lại những vệt
màu vàng của từng lớp cánh hoa điệp. Sài Gòn ơi, tôi
chưa bao giờ nhớ em đến thế, chưa bao giờ muốn về
gần em đến thế…
Nằm miên man nghĩ và
hối hả viết đến đây, tôi đã không thể kìm lòng cho
nỗi nhớ của mình được thêm nữa. Và tôi đã quyết
định rồi, mai tôi sẽ bay về với Sài Gòn, chỉ một
đêm thôi cũng được, để được nhìn dòng ánh sáng
chảy dài của thành phố qua cửa sổ căn hộ nhỏ của
mình. Mai tôi sẽ về Sài Gòn, để được sống lại cả
cảm thức của 12 năm trước, trên đường Kim Mã, khi dải
bằng lăng chảy lướt lướt ở lại sau lưng và tôi bật
ra niềm băn khoăn của chia xa. Mai tôi sẽ về Sài Gòn, để
được nhìn lại những cánh bằng lăng trong lòng phương
Nam và vọng về những cánh điệp vàng đơn lẻ đó đây
giữa phố phường Hà Nội; để thấy, giữa Hà Nội với
Sài Gòn có gì đó rất gần với nhau, như tôi, như một
gạch nối…
Sài Gòn ơi, mai tôi
về, với em, dù chỉ một đêm thôi, rồi tôi sẽ quay lại
với Hà Nội để tiếp tục hình dung về em, và nhớ…
Hà Quang Minh
Hà Nội June 2012