Từng nhịp thở, xa dần, không thành tiếng
Tôi cũng như ngày, tôi phải trôi…
(HQM)
Tôi
đứng đó, lặng lẽ, nhìn qua ô cửa sổ căn hộ nhỏ ở Place d’Italie, quận 13,
Paris. Lúc này là 7g sáng. Thành phố còn chìm trong giấc ngủ nhưng những ló rạng
của một bình minh mới đã mấp mé, ở đâu đó, cuối đường chân trời. Ly café mới
pha nồng thơm trong không khí trong lành buổi sớm. Tôi mở cửa sổ, mồi một điếu
thuốc và cảm nhận cái se se lạnh của Paris, một lần cuối, trước khi tôi ra phi
trường trở về Việt nam. Những cơn gió nhẹ nhẹ táp lên gương mặt tôi, tê tê,
nhưng không buốt giá. Những vòm cây ngoài kia xao xác như tiếng xao xác nào đó
mà tôi đã từng nghe, từng sống, từng nếm trải. Phải, đó là cái xao xác của buổi
chuyển mùa ở Hà nội, buổi chuyển mùa giữa cuối thu sang chớm đầu đông hân hoan
mới lạnh, cái hân hoan của chăn mới, mền mới, áo mới; của một đổi thay định kỳ,
một đổi thay từ cách ăn mặc cho tới cách sống của một Hà nội rất xa…
Bây
giờ đã là cuối thu ở Hà Nội rồi. Dường như thời điểm rằm trung thu đánh dấu một
mốc thời gian kỳ lạ nhất ở xứ bắc. Sau rằm trung thu ấy sẽ là lúc bắt đầu những
đợt lạnh, nhẹ nhàng thôi, mơn man về quanh thành phố. Cái dấu ấn thời gian thường
niên ấy đậm nét không khác gì dấu ấn của buổi giáng sinh. Bắt đầu từ giáng
sinh, Hà nội sẽ trở nên lạnh cực điểm, cái lạnh mà nhiều người sẽ phải rên lên
rằng “Sao mà rét thế” với cảm thức thấy quá phiền toái bởi thời tiết. Lúc ấy,
niềm hân hoan của buổi mới đón mùa đông đã biến tan đâu hết, để cho cái thái độ
thường nhật bắt đầu lấn át. Mà thường nhật thì gắn với mưu sinh, người ta không
thích sự mưu sinh ấy bị làm phiền bởi bất kỳ lẽ gì, nhất là thời tiết.
Trong
thoáng giây, đột nhiên tất cả những hình ảnh cũ bỗng lướt qua mắt tôi thật
nhanh, như thể một đoạn phim flash-back lại tất cả những gì đã trải qua, từ mới
đây nhất cho tới xa xôi nhất. Tôi sẽ không bao giờ quên được cái dáng lao đi về
phía trước trong đêm muộn hôm qua của Long, người bạn học đã định cư tại Pháp
14 năm nay, cái dáng đi của một Parisien bình thường như muôn vàn Parisien
khác. Không còn là một thằng Long bất cần của ngày đại học nữa mà thay vào đó
đã là một người đàn ông mực thước, tảo tần. Guồng máy vận động của cuộc sống;
áp lực của một gia đình và cương vị là cha của hai đứa trẻ đã bắt thằng Long ấy
phải thay đổi. Tôi còn nhớ, đêm qua, khi ôm lấy nó nói lời chia tay, nó thẳng
bước đi về phía chỗ đậu xe còn tôi quay lưng trở lại căn hộ của chị Sương, tôi
còn cố quay lại nhìn nó một lần nữa. Hình như mắt tôi lúc đó hơi cay cay nhưng
rồi tôi cũng quyết quay lưng đi, thật nhanh, để không phải thấy những điều phải
thấy. Tôi và nó, ngày đi học, không quá thân nhưng cuộc tái ngộ sau 15 năm ở đất
khách quê người đã kéo hai thằng xích lại gần nhau hơn, và tôi thấy thương nó
hơn…
Tôi
nhớ hình ảnh của “chế Sương” (tôi gọi chế theo cách của người Hoa kiều thay cho
chữ chị) lật đật môi sớm lao ra ga xe điện ngầm để đến sở làm việc. Chế đã sống
như thế 5 năm nay, kể từ phi Philip ra đi. Người đàn ông của đời chế, người mà
chế cho rằng là một Parisien cực bolshevich đã ra đi mãi mãi từ năm 2007 để chế
lủi thủi một thân giữa đô thị phồn hoa bậc nhất thế giới này. Mấy chục năm ở
Pháp, chế cũng đã là một parisien thực thụ nhưng cảm giác lạc lõng của chế tôi
vẫn nhận ra, một cảm giác có thực mà đôi khi chính chế có khi cũng không nhìn
thấy. Nhưng nó cứ hiện ra mồn một, nhất là trong những buổi café chiều giữa tôi
và chế mấy ngày cuối tuần vừa rồi, trên đường phố khu trung tâm Paris, khi chế
cứ hồn nhiên hồi tưởng lại “Chế thích ngồi café bistro thế này. Ngày xưa Philip
biết gần như hết tất cả những bistro ở đất Paris này. Chỉ cần hẹn ông ấy ở đâu
đó, đi xem phim hay đi concert chẳng hạn, ông ấy sẽ nói ngay ‘tại đó có cái
café này, tiệm bistro kia…’ như thể ông ấy lưu trữ cả cái bản đồ café Paris trong
đầu mình”. Lát nữa tôi về rồi. Chế sẽ lại một mình, như rất nhiều người Việt
khác ở Paris, cứ một mình, theo một guồng máy đường mòn lập trình sẵn “sáng:
lao ra đường đến sở làm; tối: lao về nhà ngủ vùi mệt mỏi”. Có thể Paris không
chỉ có thế nhưng cuộc sống của chế Sương là thế, tôi biết, và tôi hình dung ra
nhiều Parisien gốc Việt cũng thế…
Tôi
quay lại với cái chớm lạnh kiểu đầu đông Hà nội khi bắt đầu thấy hừng đông lấp
ló cuối đường chân trời. Cái lạnh lướt ngang qua tôi kéo theo cả những hình ảnh
cũ sắp xếp không theo một thứ tự nào nhưng lại nối mạch với nhau như những toa
tàu lướt vội qua một cái ga xép. Ga-xép-tôi, ngẩn ngơ, đứng nhìn từng toa tàu một,
có chút hồi hộp, có chút bâng khuâng, có chút nuối tiếc và có cả chút thỏa mãn.
Và rất lạ, tôi thấy, tất cả các toa tàu, đều cùng mang một cặp mắt kính, những
cặp mắt kính mùa đông…
Tôi đặc biệt ấn tượng với những cô gái với những
cặp mắt kính cận. Đối với tôi, nó hấp dẫn và cuốn hút vô ngần. Cặp mắt kính cận
đầu tiên trong đời, là P., cô gái học dưới tôi một khóa thời đại học. P. của cặp
mắt kính cận ngày ấy đã khác với P. hôm nay rất nhiều. Trước khi tôi tới Paris,
P. cũng rời Paris về Sài gòn. P. bây giờ thực tế hơn, khéo một cách “giả nai”
hơn và đôi khi khiến tôi bực bội khi tiếp xúc. Tôi biết, cặp mắt kính mùa đông
năm nào, cặp mắt kính đưa đón tôi về những đêm tôi “bỏ nhà ra đi” ở Hà nội đã
không còn nữa. P. hình như cũng đã đi chữa mắt, để không đeo kính nữa. Hình ảnh
ấy có khi trong mắt P. và nhiều người sẽ đẹp hơn nhưng đối với tôi, không còn cặp
mắt kính cận nữa P. cũng trở nên vô hồn.
Rồi
P. trôi tuột đi để một cặp mắt kính cận mùa đông khác lướt ngang qua tôi. Đó là
L., cặp mắt kính cận chẳng có một kỷ niệm mùa đông nào với tôi cả. Tôi mới biết
L. chưa lâu và tôi không thể quên nổi một đêm mùa Hè Hà nội, tôi và L. đi bên
nhau với những câu chuyện riêng chung như thể cả hai cùng chạm vào nhau ở một
điểm nào đó của cảm xúc. Đêm mùa Hè đó Hà nội mới qua cơn bão, trời còn mưa rả
rích và bỗng dưng se se lạnh. L. quàng chiếc khăn mỏng nhẹ nhàng, xoã tóc ngồi
đó bên tách trà nóng nghi ngút khói. Chúng tôi đã suýt chút nữa dựa vào nhau,
không chỉ là đêm ấy mà có lẽ sẽ còn lâu dài đến mãi tận sau này nhưng rồi những
ngại ngần nào đó khiến cả hai dừng lại. Mà thật ra không phải là sự ngại ngần
đã ngăn tôi và L. lại. Đó chính là nỗi sợ hãi đời thường, nỗi sợ hãi của những
hệ lụy đã qua, những mường tượng sẽ tới đã ngăn tôi chạm vào em, ngăn em dựa
vào tôi dù rằng đã có lúc hai bàn tay đan vào nhau, xiết chặt. Bữa đó, với tôi,
ấm như một mùa đông có hai người cần thương-yêu thấy được nhau trong đời. Nhưng
cặp mắt kính ấy bây giờ đã xa rồi. Thỉnh thoảng nhắn nhau hỏi thăm, chỉ để biết
nhau còn ở đó chứ không dám chạm vào nhau nữa. L., với
tôi, như một đài sen nở muộn mà tôi ngẫu nhĩ được gặp buổi trái mùa, muốn chìa
tay ra hái về mà lại không nỡ. Cuộc hạnh ngộ ấy hoang đường như chuyện nàng ba
hoa sen của Bồ Tùng Linh; mơ hồ, ẩn hiện, không có gì là rõ rệt mà lại như tất
cả được dàn trải ra đó rất cụ thể. L. bây giờ đang làm gì, ở đâu, ra sao? Hôm
nay, tôi biết, chính là sinh nhật em, ngày mà cặp mắt kính ấy xuất hiện và
thành một toa tàu-ký ức đi lướt qua ga-xép-tôi lúc này, buốt ruột…
Rồi
cả cặp mắt kính mùa đông Hà nội cách đây 10 năm của U. nữa. Tôi đã cõng em đi
trong đêm Hà nội giáng sinh với niềm hân hoan của một tình yêu mới bắt đầu. Và
tôi đã mơ ước được cõng em đi suốt cả những quãng đời còn lại của mình, ở Sài
Gòn, ở Đà nẵng, ở Nha Trang, ở Đà Lạt… như đêm giáng sinh Hà nội ấy. Nhưng rồi
những va đập của cuộc đời đã khiến tôi và cặp mắt kính ấy rời xa nhau. U. bây
giờ cũng không còn đeo kính nữa, giống như P.. Và U. cũng đã thay đổi nhiều, giống
như P.. Nhưng tôi sẽ không bao giờ quên cặp mắt kính trắng có cái gọng màu xanh
thẫm của nàng. Nó nhìn xuyên suốt một thời trẻ trai của tôi, buồn tê tái và thấm
đẫm những dằn vặt đeo mang.
Tôi
đứng lặng nhìn tàn thuốc rơi vào không trung. Paris sắp bắt đầu một ngày hối hả
và tôi cũng chuẩn bị trở về Sài Gòn để hối hả mỗi ngày. Những toa tàu kia lướt
nhanh qua, có bao giờ sẽ trở lại, trong một ngày nào đó, ở một ô cửa sổ nào đó,
giữa một bình minh nào đó hay không? Ở Sài Gòn không có mùa đông, không có cái
lạnh như Paris hôm nay, lấy gì cho những cặp mắt kính mùa đông lướt ngang qua
tôi như lúc này? Tôi khẽ mỉm cười vì câu hỏi của chính mình, sao ngớ ngẩn quá.
Những toa tàu chỉ có nhiệm vụ là phải lướt qua, chiếc ga xép hà cớ gì mỏi mong
quay lại. Chỉ có điều, những cặp mắt kính trắng, mãi mãi vẫn là nỗi ám ảnh tôi
một cách vô tình, như một cảm thức đeo mang từ thiên mệnh.
Chế
Sương đã khẽ gọi phía sau “trễ rồi đó Minh ơi” để tôi giật mình quay lại. Thôi,
trở về thôi, để nhận ra rằng tôi cũng như ngày, tôi phải trôi. Mùa đông không
còn ở gần tôi nữa kể từ ngày tôi trôi vào phương Nam ấm nắng. Chỉ biết giữ lại
cho mình, một khoảng chi chít những hình ảnh lộn xộn của từng địa tầng ký ức;
hình ảnh của những cái tên; những tấm khăn choàng kiêu hãnh bay trong gió; những
mái tóc xoã gợi mở; những mùi da thơm đã ngả đầu vào ngực tôi; những đôi má se
lại vì cái lạnh của gió bấc; những cặp mắt kính trắng của mùa đông, nhìn tôi,
soi tôi, ngẩn ngơ đứng giữa chiều, lồng lộng…
Paris October 2012