Làng Chùa đang chuẩn bị cho lễ trao giải cuộc thi "Thơ ca & Nguồn cội" lần thứ 3. Vì vậy tôi đưa một vài chân dung người làng Chùa lên để những ai quan tâm hiểu thêm một chút về ngôi làng này. Những chân dung này rút từ bản thảo cuốn HỒI TƯỞNG VỀ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ KHUẤT)
.
Năm mười hai tuổi, tôi ốm thập tử nhất sinh. Tôi chỉ còn đủ sức bò lẩy bẩy trên giường và thích nhai những sợi chiếu cũ. Một buổi tối, sân nhà tôi rực rỡ những ngọn đèn dầu của họ hàng, làng xóm đến thăm. Tôi nằm bệt trên giường không đủ sức ngồi dậy. Nhưng tôi vẫn nghe mơ hồ có tiếng cưa, tiếng đục và tiếng nức nở của ai đó. Sau này tôi mới biết, đêm ấy cha tôi và một vài người đàn ông họ Nguyễn quyết định đóng áo quan cho tôi. Không ai nghĩ tôi có thể sống quá ba ngày nữa. Nhưng tôi đã sống dài hơn ba ngày cho đến tận bây giờ.
Một người đàn bà hàng xóm của tôi thi thoảng đi đò qua sông Đáy vào những bản người Mường giáp tỉnh Hoà Bình buôn bán lặt vặt đã mang về cho mẹ tôi hai nắm lá thuốc của người Mường. Bà đã nói với một bà Lang Mường về tôi. Bà Lang Mường nhìn bà rất lâu với đôi mắt ái ngại. Nhưng người đàn bà hàng xóm của tôi tha thiết xin bà cắt cho cậu bé hàng xóm đang ốm sắp chết mấy thang thuốc. Bà Lang Mường thở dài kín đáo và lấy hai nắm lá đưa cho người đàn bà hàng xóm. Mẹ tôi xao vàng rồi hạ thổ hai nắm lá cho tôi uống. Và như một phép lạ, uống hết hai nắm lá, tôi ngồi dậy và bắt đầu đòi ăn. Mẹ tôi khóc vì mừng. Người đàn bà hàng xóm vội qua sông lấy thêm ba nắm lá thuốc nữa cho tôi. Uống hết ba nắm lá thuốc ấy, tôi ra ngõ chơi. Tôi thoát chết và sống đến bây giờ. Người đàn bà ấy tôi gọi là mợ Các.
Một năm sau, mợ Các đổ bệnh, da vàng như nghệ, tóc rụng hết. Cho đến gìờ tôi cũng không biết mợ bị bệnh gì. Thi thoảng tôi ghé qua nhà mợ xem mợ có nhờ tôi giúp gì không. Trong ngôi nhà vách đất, lợp rạ tan hoang như một túp lều, mợ mở đôi mắt bàng bạc trên khuôn mặt vàng như nghệ nhìn tôi. Không phải mợ nhìn tôi mà mợ đang quan sát tôi. Rồi mợ Các ra đi vĩnh viễn. Lúc ấy tôi còn nhỏ, cho nên việc mợ Các ra đi chỉ làm tôi chông chênh một thời gian ngắn. Nhưng bây giờ, những buổi tối về quê ngồi một mình trong tiếng chó sủa, tôi không lúc nào không nghĩ về mợ.
Mợ chỉ có một người con trai tên là Các nên gọi là mợ Các. Tên của mợ là gì tôi không biết. Năm 1954, chồng mợ di cư vào Nam. Ông là lính của quân đội Pháp. Lúc ấy mợ còn rất trẻ, nhưng ở vậy và không đi bước nữa. Bao nhiêu người đàn ông đến xin cưới mợ. Lần nào mợ cũng chỉ nói: “Tôi là gái có chồng. Chồng tôi đi vắng. Chồng tôi sẽ trở về. Sao lại dám hỏi tôi làm vợ.” Nói có vẻ cứng rắn vậy nhưng khi những người đàn ông quay đi thì mợ khóc. Mợ cứ vừa cứng rắn vừa khóc âm thầm như thế và biến mất trên cõi đời này. Sau khi mợ mất thì anh Các bỏ nhà đi làm công nhân cầu đường. Ba năm sau anh Các trở về làng lấy vợ và ở lại làng làm ruộng và sinh sống. Rồi anh bị bệnh tâm thần. Họ hàng anh phải xích chân anh lại vì sợ anh bỏ đi không biết đường về. Nhưng một ngày vợ anh cởi xích để tắm cho anh. Anh bỏ trốn và từ đó đến giờ không ai còn thấy anh nữa. Vợ con và họ hàng anh đã từng đến nhiều nhà thương điên để tìm anh nhưng anh vẫn biệt tăm. Và sau gần hai mươi năm chiến tranh kết thúc, chồng mợ trở về. Tôi đã ngồi ăn cơm cùng ông với cha mẹ tôi. Ông trở về và gần như chẳng còn gì nữa ở nơi ông sinh ra và lớn lên. Vợ ông đã mất và con trai ông bị bệnh tâm thần bỏ nhà đi. Trong một đêm mùa hạ nhiều muỗi, cha tôi đã kể lại cuộc đời của mợ cho người chồng nghe. Người đàn ông trở về nhưng không hé lộ một chút gì về cuộc đời mình trong mấy chục năm lưu lạc. Ông đi thăm họ hàng làng xóm rồi trở về Nam. Không biết bây giờ ông còn sống hay đã mất.
Những câu chuyện như thế chẳng bao giờ nguôi trong lòng tôi. Những câu chuyện ấy thi thoảng lại vang lên trong căn buồng ẩm tối trong ngôi nhà của ông bà tôi để lại như những tiếng thì thầm không bao giờ dứt.
Những câu chuyện như thế chẳng bao giờ nguôi trong lòng tôi. Những câu chuyện ấy thi thoảng lại vang lên trong căn buồng ẩm tối trong ngôi nhà của ông bà tôi để lại như những tiếng thì thầm không bao giờ dứt.
Trong nhiều năm sau ngày anh Các bỏ nhà, đi đâu thấy một người đàn ông điên bẩn thỉu lang thang trên đường hay trần truồng nằm ngủ dưới một gốc cây, tôi đều đến gần nhìn xem có phải anh Các không. Biết rằng bệnh anh không thể chữa khỏi nhưng trong lòng tôi vẫn khao khát làm một việc gì đó dù rất nhỏ cho anh. Tôi muốn nói với người mẹ sinh ra anh - mợ Các - rằng: Tôi mang ơn bà. Đã có lúc tôi nghĩ, bà cứu mạng tôi và bà phải gánh chịu khổ đau. Tôi không làm được điều bé nhỏ mà tôi khao khát. Nhưng tôi luôn mang trong lòng mình khát vọng ấy. Lúc nào nghĩ vậy, đầu tôi cũng loé lên hình ảnh mợ nhìn tôi cười mãn nguyện. Có một buổi chiều giá lạnh sau ngày mợ mất, anh Các bắt được một con cá diếc ngoài đầm cá của ao Hợp tác xã nông nghiệp. Anh ôm con cá chạy về nhà. Những người bảo nông phát hiện và đuổi theo anh. Họ đạp anh ngã xuống sân và lấy lại con cá. Tôi lẻn vào nhà anh và thấy anh không áo quần đang nằm trong một cái ổ rơm. Quần áo anh bị ướt hết khi lội xuống đầm bắt cá. Người anh gầy dơ xương đang run lên bần bật. Anh nhìn tôi. Đôi mắt của một chàng trai mới mười tám, mười chín tuổi như hai ngọn đèn dầu vừa bị thổi tắt. Tôi đã khóc.
Cho đến lúc này, khi viết những dòng chữ về chiều mùa đông xa xăm ấy, nước mắt tôi lại giàn dụa chảy. Nhưng ngày đó tôi chỉ là một cậu bé. Tôi không làm gì để có thể giúp anh. Mẹ tôi kể trong những ngày anh Các bị bệnh tâm thần thi thoảng lại rú lên, hai tay ôm chặt đầu sợ hãi. Người làng bảo anh nhìn thấy ma doạ đánh anh. Tôi không nghĩ đến ma. Lúc nào nghe chuyện đó tôi cũng thấy trong tôi hiện lên những người bảo nông của Hợp tác xã đạp anh ngã xuống đất và đòi lại con cá. Một con cá diếc dù sống quá lâu trong ao đầm thì cũng không to hơn bàn tay. Những năm tháng đói khát, đau buồn và tội nghiệp đã đi qua làng tôi và bao làng quê khác. Cái đói giờ hầu như không còn. Nhưng hình ảnh bi thương ấy mãi mãi như ngọn gió của những ngày đông giá thổi qua lòng tôi. Và tôi vẫn không làm sao dứt ra khỏi máu thịt mình hình ảnh bi thương đó.
Lần cuối cùng anh Các bỏ nhà ra đi có lẽ đã hơn mười lăm năm. Mọi người tin anh đã mất. Vợ con anh lấy ngày anh ra đi làm ngày giỗ. Nhưng sao tôi vẫn không nghĩ anh đã chết cho dù tôi chẳng có căn cứ nào cho lòng tin ấy. Mặc dù tôi mong anh đừng sống thêm ngày nào nữa. Bởi sống như thế chắc chắn là một sự đày đoạ. Nhưng liệu anh có biết đó là sự đày đoạ không. Hay anh là người thực sự mộng du không thể hồi tỉnh. Hay anh là người được ban cho cơn mộng du vô tận ấy để đi qua những đau buồn của cõi đời này. Bởi đối với những người mang cơn mộng du ấy thì đói không phải là đói, khát không phải là khát và đau không phải là đau. Hay anh là kẻ lạc đường và không bao giờ tìm thấy lối trở về như nhiều người mà họ lại không bao giờ tin rằng họ đã lạc đường.




