(Ban tổ chức cuộc thi THƠ CA & NGUỒN CỘI lần thứ 3 đang gấp rút chuẩn bị để tổ chức Lễ trao giải tại đình làng Chùa dự kiến vào ngày 15/12/2025. Lúc này, tôi lại nhớ đến vị Chủ tịch đầu tiên của Hội thơ làng Chùa sau khi Hội thơ được tái thành lập cách đây hơn 40 năm. Còn người đứng đầu Tao đàn thơ làng Chùa trước đó thì tôi không được biết.
Ông tên là Nguyễn Đức Thịnh. Người làng Chùa quen gọi ông là ông Hàn Thịnh. Bài viết của tôi về ông nằm trong bản thảo cuốn HỒI TƯỞNG VỀ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ KHUẤT. Đây là tập sách tôi viết về một số người làng Chùa đã khuất.
Xin giới thiệu với mọi người.
CHỮ KHÔNG CỦA MỘT NGƯỜI THỢ MAY
CHỮ KHÔNG CỦA MỘT NGƯỜI THỢ MAY
Ông đã giã từ cuộc sống như ngủ một giấc ngủ muộn cuối chiều. Ông khoan thai nằm xuống sập gụ cổ, kê đầu lên gối mây và không bao giờ trở dậy. Những người già làng tôi bảo: ông sống thanh tao nên ra đi cũng nhẹ nhàng. Vậy ông là ai mà có được một cuộc sống và cái chết như vậy? Xin đáp; ông chỉ là một người thợ may.
Thuở nhỏ tôi cũng quen gọi ông là ông Hàn Thịnh. Gọi nhưng chẳng bao giờ hiểu tại sao lại có chữ Hàn. Sau này lớn lên, hỏi một người già có học vấn trong làng mới được biết. Ông là người cùng họ Nguyễn trong làng với tôi. Họ Nguyễn làng Chùa chia làm ba Chi. Ông người Chi nhất còn tôi người Chi ba. Người Chi ba thường đùa gọi là Chi bét. Năm 12 tuổi, ông được một người họ hàng đưa ra Hà Nội học nghề may để sau này kiếm sống. Rồi ông lập nghiệp ở đó. 30 tuổi, ông đã trở thành một người thợ may lừng danh chốn kinh kỳ. Ông giành Huy chương Hội chợ Đông Dương không chỉ một lần cho những sản phẩm may mặc đầy tinh tế và kiêu sa của mình. Vua Bảo Đại đã cho vời ông đến để may quần áo và quốc phục cho Ngài và Hoàng hậu.
Chính vì thế mà một thời gian sau, ông được Bảo Đại phong Hàn lâm Viện sỹ. Chuyện này nghe thấy lạ. Tôi không tìm hiểu kỹ chuyện này. Không biết hư thực ra sao mà chỉ nghe người làng kể. Nghe từ bé cho nên nó thấm vào tôi như chẳng thể nào khác được.
Chính vì thế mà một thời gian sau, ông được Bảo Đại phong Hàn lâm Viện sỹ. Chuyện này nghe thấy lạ. Tôi không tìm hiểu kỹ chuyện này. Không biết hư thực ra sao mà chỉ nghe người làng kể. Nghe từ bé cho nên nó thấm vào tôi như chẳng thể nào khác được.
Năm 1954, hòa bình lập lại. Ông đã hiến tiền vàng và nhà cửa cho Cách mạng rồi quyết định trở về quê sinh sống. Người làng nói ông chỉ mang theo ba thứ khi giã từ chốn đô thị. Một: chiếc xe đạp máy hiệu Solex. Hai: chiếc máy may hiệu Singer. Ba: bộ uống trà sứ cổ Trung Hoa. Người ta nói bộ uống trà sứ của ông trong như ngọc quí, phát sáng trong bóng tối và chỉ cần một hạt vừng rơi chạm vào cũng vang lên như chuông. Tôi cũng nghe một người làng bảo bộ uống trà sứ cổ này là của Vua Bảo Đại tặng. Sáng sáng, ông ngồi uống trà trên sập và đọc sách cổ. Chiều chiều, ông mặc áo lụa vàng, chống gậy trúc khoan thai đi thăm chùa làng. Ông là thợ may một thời danh tiếng, nhưng từ khi trở về quê sinh sống, người ta không thấy ông tiếp tục nghề may nữa. Chỉ đôi khi ông chọn một miếng vải đẹp và tự mình may một chiếc áo nhưng không thấy mặc mà cũng không thấy bán hay biếu tặng ai.
Sau này, ông có tâm sự với một người bà con là ông chỉ quen và chỉ hào hứng may những bộ quần áo tinh tế và kiêu sa chứ không may được những áo quần khác. Chính vì thế mà việc may một chiếc áo đối với ông là thực hiện một nghi lễ hơn là may một chiếc áo để dùng. Trong nhà ông có treo một bức thư pháp do chính tay ông viết. Tôi đã nhiều lần được nhìn bức thư pháp này khi được mẹ dẫn đến nhà ông. Tôi hỏi mẹ đó là cái gì. Mẹ tôi bảo là thư pháp và giải thích cho tôi thế nào gọi là thư pháp. Sau này tôi được biết đó là chữ KHÔNG. Chữ KHÔNG ông viết có nghĩa gì tôi cũng không hiểu. Nhưng có một thời, một lãnh đạo địa phương yêu cầu ông không được treo chữ ấy trong nhà. Họ bảo ông có tên tuổi, có quê quán, có tổ quốc và ông đang sống trong một nước tự do sao lại bảo là không có gì. Ông đã giải thích cho người lãnh đạo địa phương nhưng ông ta không chấp nhận lời giải thích của ông. Cho đến bây giờ, sau khi ông mất đã nhiều năm và tôi cũng đã khôn lớn hơn, tôi đã hiểu phần nào chữ ấy trong cuộc đời.
Sau này, ông có tâm sự với một người bà con là ông chỉ quen và chỉ hào hứng may những bộ quần áo tinh tế và kiêu sa chứ không may được những áo quần khác. Chính vì thế mà việc may một chiếc áo đối với ông là thực hiện một nghi lễ hơn là may một chiếc áo để dùng. Trong nhà ông có treo một bức thư pháp do chính tay ông viết. Tôi đã nhiều lần được nhìn bức thư pháp này khi được mẹ dẫn đến nhà ông. Tôi hỏi mẹ đó là cái gì. Mẹ tôi bảo là thư pháp và giải thích cho tôi thế nào gọi là thư pháp. Sau này tôi được biết đó là chữ KHÔNG. Chữ KHÔNG ông viết có nghĩa gì tôi cũng không hiểu. Nhưng có một thời, một lãnh đạo địa phương yêu cầu ông không được treo chữ ấy trong nhà. Họ bảo ông có tên tuổi, có quê quán, có tổ quốc và ông đang sống trong một nước tự do sao lại bảo là không có gì. Ông đã giải thích cho người lãnh đạo địa phương nhưng ông ta không chấp nhận lời giải thích của ông. Cho đến bây giờ, sau khi ông mất đã nhiều năm và tôi cũng đã khôn lớn hơn, tôi đã hiểu phần nào chữ ấy trong cuộc đời.
Ông trở về quê khi chưa đầy 50 tuổi và sống cho đến ngoài 80. Hơn 30 năm sống giữa một làng quê ngèo đói trong điều kiện đất nước chiến tranh và nền kinh tế bao cấp, nhưng phong thái ung dung đầy quí tộc của ông không hề thay đổi. Người ta nghĩ ông có nhiều tiền vàng, ăn mấy đời không hết thì mới có thể sống ung dung như vậy. Ông ăn uống giản dị. Dù rau muống luộc hay cà muối hay chỉ là tép đồng rim thì tất cả đều được đựng trong những bát đĩa sứ đẹp như ngọc. Khi có khách đến chơi, dù cho người đó là ai đều được ông đón tiếp trang trọng và thân mật. Ông pha trà Tàu và lấy mứt mời khách. Vợ ông là một người đàn bà mảnh dẻ và đài các. Bà biết làm rất nhiều các loại mứt từ hoa quả và nông sản của quê tôi. Tất cả được đựng trong những lọ thủy tinh và đặt trong tủ gỗ gụ có cửa kính từ đời Minh.
Ngày quyết định trở về quê sinh sống, ông mang theo bà vợ và một cậu con trai. Sau này ông sinh thêm một cô con gái. Tôi đã từng nói chuyện với bạn bè về cô con gái của ông.Tôi biết thiên hạ có bao nhiêu các cô gái đẹp tựa tiên sa. Nhưng đẹp như cô liệu có đến 03 người không? Mỗi lần nhìn thấy cô, mặt mày tôi cảm thấy xây xẩm. Vẻ đẹp của một cô gái 14 tuổi làm tất cả những gì hèn mọn, xấu xa cùng những nỗi tuyệt vọng tan biến. Sau này tôi cứ nghĩ gương mặt cô không thể và không phải sinh ra cho những năm tháng đói nghèo, bom đạn và giữa những người nông dân lam lũ như vậy. Có phải vì thế mà cô đã rời bỏ khỏi thế gian khi vừa bước vào tuổi 15. Một ngày đi lao động ở trường, một học sinh cùng lớp đã chạm lưỡi cuốc vào một ngón chân của cô. Tất cả chỉ là chuyện vặt đối với những người lao động ở quê. Nhưng cô bị nhiễm vi trùng uốn ván. Và không ai cứu được cô. Khi cô mất, lòng tôi tan hoang. Có lúc tôi nghĩ rằng một vẻ đẹp toàn hảo không được phép để vương vào đó một vết xước đau. Và chỉ một vết xước dù bé nhỏ thậm chí mơ hồ cũng làm vẻ đẹp đó biến mất.
Năm 1980, ông Hàn Thịnh dựng lại Tao đàn thơ làng Chùa nhưng đặt tên là Hội thơ làng Chùa và ông được bầu là Chủ tịch Hội thơ làng Chùa.
Bây giờ, người con trai của ông vẫn sống ở làng. Anh không làm nghề thợ may. Tôi không hiểu lý do gì mà ông không truyền nghề cho người con trai duy nhất. Sau khi ông mất, người con sống nghèo túng phải bán cả chiếc máy khâu của ông. Sau này một số người chơi đồ cổ tìm đến nhà anh gạ mua bộ đồ sứ cổ Trung Hoa nhưng anh nói bộ đồ sứ cổ bị vỡ lâu rồi. Người làng thì nói ít ai có đủ tiền mua bộ đồ sứ cổ đó. Nhiều chuyện về ông Hàn Thịnh người làng thi thoảng vẫn bàn tán nhưng chẳng rõ hư thực thế nào. Duy chỉ có một điều người làng biết rõ là người con trai duy nhất của ông Hàn Thịnh sống nghèo khó như mọi người nông dân khác trong làng. Nghĩa là những lời đồn thổi về vàng bạc châu báu mà ông Hàn Thịnh mang về cất giấu có thể nuôi mấy đời con cháu ông sau này là không có thật.
Sau khi ông Hàn Thịnh về quê sống, ông chẳng có gì ngoài những kỷ vật ông mang theo. Nhưng phong thái sống của ông không hề thay đổi trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời đã làm nên những giai thoại và sự kính trọng của người làng tôi với ông. Có lẽ đó cũng là một trong nhiều ý của chữ KHÔNG mà ông đã suy ngẫm và tôn thờ.




