I. NHÀ THƠ HOÀNG TRÚC LY
Nhà thơ Hoàng Trúc Ly, người được mệnh danh là phù thủy lục bát, được nhiều văn nghệ sĩ cùng thời ngưỡng mộ, tên thật là Đinh Đắc Nghĩa, sinh năm 1933 tại Đà Nẵng và mất khi băng qua đường Phan Thanh Giản, Sài Gòn, vào năm 1983. Tai nạn xe cộ ấy đã khép lại năm mươi năm, một cuộc đời thi sĩ cô đơn và phiêu lãng.
Theo nhà phê bình Uyên Thao, vào thập niên 60 thì nhóm nhà thơ Hoàng Trúc Ly, Tô Thùy Yên, Chế Vũ, Nguyên Sa, Quách Thoại, đã hợp thành một bộ “ngũ cường” tiếng tăm. Thơ họ chiếm một vị trí đặc biệt trên thi đàn miền Nam lúc bấy giờ, nhờ sự sáng tạo độc đáo trong việc cách tân ngôn ngữ, khiến nền văn học miền Nam, giai đoạn 1954-1975, trở nên hết sức phong phú và đa dạng.
Khi tập thơ Trong Cơn Yêu Dấu của Hoàng Trúc Ly ra đời, Phạm Công Thiện đã nhận định, thơ Hoàng Trúc Ly có ma lực kỳ quái của những câu phù chú. Đối với Hoàng Trúc Ly, ngôn ngữ hãy còn mới tinh, mỗi chữ đều mang một linh hồn, mỗi chữ là một sinh mệnh. Tôi gọi Hoàng Trúc Ly là thi sĩ lớn, là nhà thơ bậc thầy của thi ca hiện đại.
Không chỉ ông Thiện, mà triết gia Tam Ích, và cả tiểu luận gia Đặng Tiến nữa, cũng đều đồng ý cho rằng, Hoàng Trúc Ly là một thiên tài thi ca.
Trong một lần nói chuyện trên Đài Phát Thanh Sài Gòn năm 1962, Tam Ích từng khẳng định, Hoàng Trúc Ly đã và đang làm mọi người ngạc nhiên, ít nhất là một lần nữa, về thiên tài của mình.
Tiểu Luận Gia Đặng Tiến thì nhận xét, thơ Hoàng Trúc Ly mang cái bình thản âu yếm của kẻ đã đạt tới đạo. Ông đánh giá cao cách sử dụng ngôn ngữ và phong cách kỹ thuật Tây phương, đã thể hiện được triết lý Đông phương, tạo nên một tâm hồn đạt đến hạnh phúc tối cao.
Thơ Hoàng Trúc Ly thường được mô tả là trữ tình, tinh khôi, mang màu sắc huyền học, triết học, và có nhiều rung cảm tuyệt mỹ.
Ông sống độc thân, phóng khoáng, dù cũng có vài mối tình. Ông dành phần lớn thời gian của mình cho các quán cà phê và nhà hàng. Ông hiền hòa, không màng danh lợi, chức vị, là người thích phiêu bạt giang hồ, đây đó, lãng du, và nhiều bạn. Sức khỏe ông không tốt, hay đau ốm, lại nghiện thuốc phiện, nên nhiều bài thơ của ông buồn mênh mang, u hoài, ngậm ngùi, xa vắng.
******
II. BÀI THƠ HÀNH TRÌNH
Hoàng Trúc Ly viết được nhiều thể thơ, nhưng theo các nhà phê bình, hay nhất, vẫn là lục bát với nhiều câu thơ xuất thần và khó mờ phai.
Bài thơ Hành Trình dưới đây của Hoàng Trúc Ly, được viết năm 1963, là lời tự tình sâu lắng về kiếp người trôi nổi, về nỗi cô đơn vĩnh cửu và hoài niệm quá khứ. Lời thơ của ông giàu suy tư, hình ảnh thơ, vì thế, đẹp và gợi cảm.
HÀNH TRÌNH
tôi nay đi giữa hoang đường
niềm đau thân thể tuổi buồn hai vai
giật mình nước mắt tương lai
ngày qua và tiếng thở dài xuống thu
toa xe cửa khép khung trời
người đi môi đỏ run lời tiễn đưa
tóc dài xõa mộng ngày xưa
vết thương kỷ niệm bây giờ lại đau
khuya đi dù biết về đâu
nghiêng vai còn mãi tiếng sầu vọng âm
đường xưa trải nhớ nhung thầm
ngôi sao yểu mệnh căm căm cuối trời
qua đây từng giọt buồn phiền
mắt em cổ thụ thâm xuyên gọi mời
bãi hoang cồn dựng bể khơi
xuôi tay xuống gởi miệng cười mộng du
tôi ơi tôi mãi tôi còn
trái tim bé nhỏ nỗi buồn chung thân
nhớ gì vết cỏ bàn chân
lối đi thơ dại đêm gần tịch liêu.
******
II.1. TÔI NAY ĐI GIỮA HOANG ĐƯỜNG
tôi nay đi giữa hoang đường
niềm đau thân thể tuổi buồn hai vai
giật mình nước mắt tương lai
ngày qua và tiếng thở dài xuống thu
Bằng giọng thơ trầm lắng, nhà thơ đã mô tả về không gian sống của ông, đó là một không gian vô định, hoang vắng, và ông, với tâm trạng bế tắc, hoài nghi, ông không khác gì kẻ mộng du giữa cuộc đời.
Nỗi đau buồn, mệt mỏi mà ông đang gánh nặng trên hai vai, không chỉ là tâm hồn mà còn là thể xác, đó là tuổi tác già nua, là trách nhiệm, là những nỗi thăng trầm của kiếp người.
Đôi khi, ông cứ giật mình hoài, giật mình nhận ra, thực tế cuộc sống, thật ra chỉ toàn là cay đắng. Ông rơi nước mắt, nước mắt cho một tương lai mịt mờ, bất hạnh. Ông rơi nước mắt, nước mắt cho những nỗi sợ hãi, lo lắng về một ngày mai.
Thời gian cứ trôi qua một cách vô nghĩa, mang theo sự tàn phai. Tiếng thở dài của ông, dường như cũng đã kéo theo không gian và thời gian tới mùa thu, mùa phía bên kia dốc, mùa xế chiều của cuộc đời. Tiếng thở dài của nỗi u hoài sâu kín và da diết. Đây cũng là một trong những đặc điểm của thơ Hoàng Trúc Ly. Thơ ông buồn, nhưng đó là nỗi buồn bình thản, lặng lẽ. Bình thản chấp nhận. Lặng lẽ đón nhận.
Đâu cần phải rớt xuống vực thẳm, xuống thu thôi, nhẹ xuống mùa thu thôi, cũng đủ tái tê rồi, đủ nghe lạnh buốt hồn rồi và đủ thấy nỗi buồn gặm nhấm suốt tương lai.
******
II.2. TOA XE CỬA KHÉP KHUNG TRỜI
toa xe cửa khép khung trời
người đi môi đỏ run lời tiễn đưa
tóc dài xõa mộng ngày xưa
vết thương kỷ niệm bây giờ lại đau
Bài thơ tiếp tục mở ra với một không gian chia ly vội vã. Cửa của toa xe khép lại, như khép lại cả niềm hy vọng cuộc đời. Nỗi đau cứ thế, nén chặt trên môi người tiễn đưa, đã làm cuộc chia ly, vốn xúc động, lại càng trở nên xúc động, nghẹn ngào hơn.
Ký ức đẹp ngày xưa, giờ đây, chỉ còn mỗi mái tóc đang xõa dài của nàng, khiến giấc mộng ngày hôm qua, lại càng trở nên mênh mang, lại càng trở nên hư ảo hơn bao giờ hết.
Kỷ niệm bỗng hóa thành vết thương, bởi tình yêu trong quá khứ quá sâu đậm, khiến luyến tiếc càng vì thế mà khôn nguôi, luyến tiếc về một thời, về một tình yêu đã mất.
Thơ Hoàng Trúc Ly, buồn thì buồn nhưng vẫn cứ khe khẽ, nhẹ nhàng, mở lòng khoan dung và chấp nhận. Dằn vặt nhưng vẫn trìu mến, vẫn dịu dàng và đầy nồng nàn thương nhớ. Tôi thích sự liên tưởng của ông, nó lạ và mới, ngay cả với tôi bây giờ chớ đừng nói thời ông. Mái tóc dài xõa của em là hình ảnh mộng xưa của chúng mình, còn kỷ niệm ngày qua, thì bây giờ lại hóa thành vết thương cho đôi ta đớn đau, cùng lúc.
Mỗi câu thơ, mỗi dòng thơ của Hoàng Trúc Ly, như có một linh hồn riêng, sự sống riêng, lãng mạn, ướt át, và buồn. Ông sử dụng nhiều phép ẩn dụ để mô tả tâm trạng của mình, một tâm trạng “nhân kỳ cố nhiên”, chấp nhận sự thật của cuộc đời. Khổ thơ viết về cuộc chia ly của ông và người tình giữa thời ly loạn, nên tình yêu vì thế mà cũng đầy bất trắc, và lỡ làng.
Khúc tình sầu của Hoàng Trúc Ly tuyệt đẹp nhưng đầy thương cảm. Nó không chỉ là tiếng lòng của thi sĩ, nó còn là tâm trạng của cả một thế hệ đơn độc và trắc trở trong hành trình của mình.
******
II.3. NGÔI SAO YỂU MỆNH CĂM CĂM CUỐI TRỜI
khuya đi dù biết về đâu
nghiêng vai còn mãi tiếng sầu vọng âm
đường xưa trải nhớ nhung thầm
ngôi sao yểu mệnh căm căm cuối trời
Một người đi, một người về, đi đâu hay về đâu thì cũng là hai phương trời cách biệt, đi đâu hay về đâu, thì từ đây, cũng chỉ còn lại nỗi nhớ nhung, xa vắng.
Nhà thơ chia tay người tình của mình để ra đi. Ra đi trong một đêm khuya khoắt, muộn màng. Ra đi trong một đêm yên ắng, cô liêu. Bất định, không phương hướng, không biết mình rồi sẽ phải đi về đâu, nhưng vẫn cứ ra đi cái đã. Đi không để đến một nơi nào đó cụ thể. Đi, chỉ là đi thôi.
Nỗi sầu lúc này đây, là một nỗi sầu không mới. Nó vốn là nỗi sầu muôn niên, muôn thuở, là nỗi sầu kéo dài từ quá khứ, qua đến hiện tại, và tiếp tục trong tương lai.
Sầu, và nhớ. Nhớ con đường xưa. Nỗi nhớ này, tác giả sẽ tiếp tục nặng mang trên suốt hành trình của cuộc đời mình.
Đời là thế. Kiếp người là thế. Thi nhân là thế. Tài hoa là thế. Càng tài hoa, thì lại càng phận bạc. Càng tài hoa, thì lại càng yểu mệnh. Càng tuyệt mỹ, thì lại càng bi thương. Thi nhân, không phải là kẻ cô độc và luôn rơi vào trạng thái tuyệt vọng hay sao?
******
II.4. XUÔI TAY XUỐNG GỞI MIỆNG CƯỜI MỘNG DU
qua đây từng giọt buồn phiền
mắt em cổ thụ thâm xuyên gọi mời
bãi hoang cồn dựng bể khơi
xuôi tay xuống gởi miệng cười mộng du
Nỗi buồn của Hoàng Trúc Ly không là dòng thác cuồn cuộn đổ xuống, cũng không là sóng ào ạt vỗ bờ. Nỗi buồn của ông rỉ rả từng giọt, từng giọt. Nỗi buồn như thế mới đáng sợ, nó như được chưng cất nên cô đặc, nên thấm thía, nên nhức nhối ngày đêm.
Thâm xuyên, xuyên qua sự thâm sâu, tối tăm dày đặc. Đôi mắt cổ thụ thâm xuyên là đôi mắt sâu thẳm, đầy bí ẩn, đầy chất cổ kính ngàn năm, nên quyến rũ lạ lùng. Từ đôi mắt thâm xuyên ấy, là một sự gọi mời, một sự gọi mời đầy ma lực.
Kiếp người buồn đau như bãi hoang, như cồn dựng, hoang dại, cô liêu, tàn tạ, lênh đênh bể khơi. Và ông mỉm cười, chấp nhận xuôi tay, không kháng cự, xem cuộc đời mà ông từng có, hệt như một cơn mộng, cơn mộng du.
Mới biết, mơ hay thức gì, cũng đều là giấc mộng, giấc mộng nhân sinh, giấc mộng của thực hư hư thực, tưởng còn đó mà lại mất ngay đó.
Thơ Hoàng Trúc Ly là thơ của mộng mị, siêu thực, chiêm bao, ma quái. Nỗi buồn trong thơ ông là nỗi buồn muôn kiếp, chung thân.
Thơ Hoàng Trúc Ly, dường đã đạt đến trạng thái “thủ hư”, giữ lấy hư không của Lão Tử, nên rất chủ động, nên rất thong dong đối diện với nỗi buồn và cái chết, vốn là những thứ căn bản của cuộc đời.
******
II.5. TÔI ƠI TÔI MÃI TÔI CÒN
tôi ơi tôi mãi tôi còn
trái tim bé nhỏ nỗi buồn chung thân
nhớ gì vết cỏ bàn chân
lối đi thơ dại đêm gần tịch liêu.
Tôi thích sự an nhiên của ông, ngay cả khi tưởng chừng đau khổ nhứt. Ai từng biết Hoàng Trúc Ly, cũng đều nói ông hiền. Tôi không biết Hoàng Trúc Ly, nhưng tôi cũng biết ông hiền, vì chỉ cần đọc câu này thôi - xuôi tay xuống gởi nụ cười mộng du.
Và bốn câu của cuối bài Hành Trình, theo tôi, là bốn câu hay nhứt trong bài, với lời tự nhủ mình, tự dỗ dành mình, tự thương xót mình: tôi ơi tôi mãi tôi còn. Mình vẫn đang còn tồn tại đây, tồn tại một cách bền bỉ trước thời gian và dòng đời trôi nổi đây.
Con người ta, trái tim thì bé nhỏ, vậy mà phải gánh quá lớn, nỗi buồn. Con người ta, mong manh, yếu ớt, vậy mà phải gánh trên lưng một bản án quá nặng nề, đó là định mệnh chung thân của kiếp nhân sinh.
Nên, giữa những lo toan bộn bề của cuộc sống, con người luôn có xu hướng quay về chốn bình yên, đó chính là những kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng, bỡ ngỡ, dại khờ và nông nỗi.
Nhớ gì đây, dấu chân trên cỏ ư, rồi sớm mai sương rụng xuống, sẽ xóa nhòa. Nhớ gì đây, khi mới ngày nào tuổi dại, mà bây giờ nhìn kìa, thời gian sắp vào tịch liêu.
Đêm đã gần tịch liêu. Đêm đã khép lại. Khép lại để con người lại chờ đợi, chờ đợi sự bắt đầu của một ngày mai.
Hành Trình là như thế. Hành Trình một đời người, vui buồn gì, dài ngắn gì, vinh quang tủi nhục gì, rồi cũng chỉ đến thế mà thôi.
******
III. BÀI THƠ CA SĨ
Bài thơ Ca Sĩ dưới đây cũng là một bài thơ được viết theo thể lục bát và cũng được viết vào năm 1963.
Nghe kể, Hoàng Trúc Ly viết bài này tặng cho ca sĩ Thanh Thúy. Nhưng nhiều người khác thì đoán ông tặng cho Hà Thanh.
Bạn thân ông hỏi ông, thì ông cười, không gật đầu mà cũng chẳng lắc đầu.
CA SĨ
từ em tiếng hát lên trời
tay xao dòng tóc, tay vời âm thanh
sợi buồn chẻ xuống lòng anh
lắng nghe da thịt tan tành xưa sau
trời em tiếng hát lên từ
âm ba tóc rối lững lờ vòng tay
áo dài lùa nắng vào mây
dấu chân hồng nhạn rụng đầy gió sương
(nghĩ về tỳ bà hành)
mùa xuân còn gì thưa em?
sáu dây rét mướt chưa mềm trăng khơi
cọ đơn đỉnh núi gần trời
nghiêng vai xin khoác nụ cười áo xanh.
******
III.1. TỪ EM TIẾNG HÁT LÊN TRỜI
từ em tiếng hát lên trời
tay xao dòng tóc, tay vời âm thanh
sợi buồn chẻ xuống lòng anh
lắng nghe da thịt tan tành xưa sau
Tiếng hát không chỉ là cất lên, mà là lên trời, lên đến tận trời, nên thể hiện được sự cao vút, thoát tục, và tôn vinh của nhà thơ với người có giọng hát ấy.
Bằng phép nhân hóa, nhà thơ đã khiến cho đôi tay của nàng ca sĩ, không chỉ biết cách làm điệu, làm cho mình duyên dáng hơn, mà còn biết cách điều khiển âm nhạc nữa.
Tiếng hát của nàng ca sĩ, không chỉ nghe bằng tai, mà còn được cảm nhận bằng tâm hồn, chia nhỏ nỗi buồn thành từng sợi, đặng dễ dàng thấm sâu vào nỗi cô đơn của người nghe, thể hiện sự đồng điệu của người ca và người thưởng thức.
Nỗi buồn trong tiếng hát của nàng ca sĩ, là nỗi buồn làm người ca và người thưởng thức, cùng lúc đắm chìm, và tan biến vào nhau.
Nghe mà đến mức da thịt tan tành xưa sau, thì người ta có tiên đoán là Thanh Thúy hay Hà Thanh thì cũng có cái lý của họ, chớ chẳng phải không.
Từ "sợi buồn" trong bài thơ, bỗng dưng làm tôi nhớ đến bài Ngậm Ngùi của Phạm Duy, phổ thơ Huy Cận, sợi buồn, con nhện giăng mau. Sao mà ngày xưa, người ta viết thơ hay vậy nhỉ. Ông Huy Cận thì con nhện giăng mau, ông Hoàng Trúc Ly thì chẻ xuống lòng anh.
Hình ảnh trong thơ của Hoàng Trúc Ly không chỉ sống động, sinh động mà còn tinh khôi, thanh thoát, lãng mạn. Từ ngữ ông dùng, mềm mại vuốt ve mà vẫn kín đáo, thân mật mà vẫn giữ được khoảng cách, thể hiện được sự lịch sự và tao nhã của bài thơ, của người thơ.
******
III.2. DẤU CHÂN HỒNG NHẠN RỤNG ĐẦY GIÓ SƯƠNG
trời em tiếng hát lên từ
âm ba tóc rối lững lờ vòng tay
áo dài lùa nắng vào mây
dấu chân hồng nhạn rụng đầy gió sương
Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy, câu đầu của khổ thứ nhứt là: từ em tiếng hát lên trời. Xuống khổ hai, câu đầu, Hoàng Trúc Ly xếp đặt vị trí các từ lại, và ra được câu: trời em tiếng hát lên từ.
Tài thơ đến thế thì thôi.
Khổ thơ mở ra một không gian nghệ thuật, nơi mà âm thanh, tiếng hát, âm ba, hóa thành hình khối. Tiếng hát cất lên từ trời em, một không gian riêng tư, vừa nhẹ nhàng, vừa mênh mông, xao xuyến. Hình ảnh tóc rối lững lờ gợi nét quyến rũ, vừa hoang dại vừa lãng đãng. Áo dài, biểu tượng của nét đẹp dịu dàng, kết hợp với lùa nắng vào mây, càng làm cho tiếng hát cao vút của nàng ca sĩ trở nên bay bổng hơn nữa.
Và câu thơ cuối, dấu chân hồng nhạn rụng đầy gió sương, là một câu thơ vừa cổ điển lại vừa thi vị. Hình ảnh hồng nhạn, chim nhạn, gợi sự di cư, xa xôi. Và dấu chân hồng nhạn rụng, là một ẩn dụ độc đáo, rằng đó chính là những nốt nhạc, những dư âm của tiếng hát tha thiết, xuất thần, vẫn còn đọng lại trong lòng người nghe, đọng lại một nỗi buồn như sương như khói.
Thơ Hoàng Trúc Ly giàu nhạc điệu, chữ dùng thì trau chuốt và mềm mại, nên thơ ông mộng mị và hư ảo.
******
III.3. NGHIÊNG VAI XIN KHOÁC NỤ CƯỜI ÁO XANH
(nghĩ về tỳ bà hành)
mùa xuân còn gì thưa em?
sáu dây rét mướt chưa mềm trăng khơi
cọ đơn đỉnh núi gần trời
nghiêng vai xin khoác nụ cười áo xanh.
Câu hỏi tu từ mở đầu như một lời tâm tình buồn mang mác. Mùa xuân vốn tượng trưng cho sức sống tươi trẻ, nhưng lại bị đặt trong sự hoài nghi. Mùa xuân còn gì, cho thấy hiện tại chỉ là sự tàn phai, mất mát.
Hình ảnh hoán dụ sáu dây lấy từ đàn tỳ bà, kết hợp với từ láy rét mướt, đã tạo cho người đọc một cảm giác lạnh lẽo, cô đơn. Trăng khơi, đỉnh núi gần trời. Không gian bao la nhưng lạnh lẽo. Câu thơ khiến ta liên tưởng đến nỗi buồn lưu đày trong Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị.
Ca sĩ, sau khi rút ruột nhả tơ, hiến cho đời giọng hát của mình, hầu mua vui ít phút cho thiên hạ, khi bước ra khỏi ánh đèn sân khấu, thì nỗi cô đơn liền ập tới, hoang vắng, lạnh lẽo như đỉnh núi kề trời.
Và ông, khẽ khàng, lúc ấy, đến gần bên, xin nàng nghiêng vai xuống chút để ông được khoác lên đó một nụ cười sưởi ấm, như cây xanh vây kín, sưởi ấm đỉnh non cao.
Hành động nghiêng vai xin khoác là một hình ảnh rất thơ và rất nghệ thuật. Nghiêng vai xin khoác vừa rất kiêu sa, vừa thay cho lời trần tình, thổ lộ. Áo xanh, thanh cao. Nụ cười áo xanh là vẻ đẹp thanh cao, bình thản trước cuộc đời. Dù cuộc đời có rét mướt, lạnh lẽo đến đâu đi nữa, thì thi nhân vẫn gắng giữ cho mình một tâm hồn cao khiết và một nụ cười an nhiên.
Bằng từ dùng tinh tế, gợi cảm, giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu, Hoàng Trúc Ly đã làm nổi bật hình tượng người ca sĩ nói riêng, người nghệ sĩ nói chung, càng tài hoa bao nhiêu thì sẽ càng cô độc bấy nhiêu. Nhưng trong sự tàn tạ, con người vẫn có thể tìm ra được cho mình nét đẹp vĩnh cửu, đó là triết lý nhân sinh trong thơ của Hoàng Trúc Ly.
Tiểu Luận Gia Đặng Tiến, ông từng nói thế này, nghệ thuật đạt đến đỉnh, thường cô đơn. Cô đơn gần như là đặc tính của nghệ thuật và thiên tài.
******
IV. BÀI THƠ CÕI NGHÌN TRÙNG
Cõi Nghìn Trùng là một bài thơ bảy chữ, được nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng phổ nhạc, thành ca khúc có tên Bên Kỷ Niệm:
CÕI NGHÌN TRÙNG
Mai mốt em về, em về đâu?
Con sông nước chảy trắng chân cầu
Tiếng hát già nua người bạn cũ
Đêm dài muôn thuở buộc lòng nhau
Ngoài kia trời mưa buồn không em
Xa hỡi ngàn xa bóng nhạn chìm
Thương nhau ái ngại tìm đôi mắt
Chưa biết đêm nào thức trắng đêm
Mái tóc em bềnh bồng bể khơi
Áo mỏng vì em nằm nhớ đời
Chiêm bao nửa giấc trời mưa bụi
Thấp thoáng em về như lá rơi…
******
IV.1. MAI MỐT EM VỀ, EM VỀ ĐÂU
Mai mốt em về, em về đâu?
Con sông nước chảy trắng chân cầu
Tiếng hát già nua người bạn cũ
Đêm dài muôn thuở buộc lòng nhau
Câu hỏi tu từ em về đâu, là câu hỏi không mong đợi, không chờ lời đáp. Tự bản thân câu hỏi đã bày tỏ sự hoang mang cũng như là nỗi lo âu về tương lai mối tình của người hỏi rồi.
Câu thơ con sông nước chảy trắng chân cầu, gợi lên một hình ảnh của sự vắng lặng trong mênh mông, gợi sự chia cắt và thời gian trôi chảy không ngừng, cuốn đi bao kỷ niệm.
Tiếng hát già nua, phải chăng, tác giả muốn ám chỉ đến ký ức, đến tình yêu đã cũ, in hằn dấu vết thời gian. Đêm dài muôn thuở, phải chăng, tượng trưng cho nỗi cô đơn, nỗi bế tắc, triền miên, không dứt. Và buộc lòng nhau, phải chăng là sự ràng buộc trớ trêu? Dù xa cách, dù khổ đau, nhưng đôi tình nhân vẫn không thể quên nhau, vẫn gắn chặt với nhau như một định mệnh nghiệt ngã.
Ông Phạm Công Thiện, ông Tam Ích, nói ông Hoàng Trúc Ly là thiên tài, kể cũng phải. Tài dùng chữ. Những câu hỏi không cần trả lời: mai mốt em về, em về đâu? Những nỗi buồn không cần đối tượng: con sông nước chảy trắng chân cầu. Những ký ức không cần nói hết: tiếng hát già nua người bạn cũ. Những gởi trao không cần hẹn thề: đêm dài muôn thuở buộc lòng nhau.
Người sao thì chữ vậy, hào hoa, phong nhã, mẫn cảm, và có cả dáng dấp của một bậc hiền triết phương Đông.
******
IV.2. CHƯA BIẾT ĐÊM NÀO THỨC TRẮNG ĐÊM
Ngoài kia trời mưa buồn không em
Xa hỡi ngàn xa bóng nhạn chìm
Thương nhau ái ngại tìm đôi mắt
Chưa biết đêm nào thức trắng đêm
Câu hỏi tu từ mở đầu như một tiếng thở dài. Mưa buồn, từ xưa tới nay, luôn là không gian nghệ thuật kinh điển khơi gợi nỗi cô đơn. Câu hỏi thể hiện sự quan tâm, lo lắng của chàng trai với người yêu của mình, trong những lúc vắng xa, cô quạnh.
Bóng nhạn chìm, bặt vô âm tín. Tình yêu, có phải chăng, đang dần chìm vào lãng quên, đang đứng trước sự chia lìa vĩnh viễn.
Ái ngại xót xa. Xót xa tìm đôi mắt, tìm sự giao cảm, để hiểu nhau nhiều hơn, cũng như để an ủi nhau được nhiều hơn, trong nỗi nghìn trùng cách xa biền biệt.
Và câu kết, chưa biết đêm nào thức trắng đêm, đã cho người đọc cảm nhận được một nỗi nhớ âm ỉ, triền miên, không bao giờ dừng, không bao giờ dứt; một nỗi nhớ đầy băn khoăn và khắc khoải, rằng, giữa tương lai mịt mùng kia, chẳng biết bao giờ chúng ta, anh và em, mới lại được gặp nhau, mới lại được chung vui niềm sum họp.
Thương nhau ái ngại tìm đôi mắt / chưa biết đêm nào thức trắng đêm. Tình như thế mới là tình. Tình như thế, thì có trao hết cho người, cũng đáng. Tình như thế, thì thiên thu có dài tới đâu, cũng một lòng chờ mong, cũng ước mơ lại cùng nhau một kiếp tiếp.
******
IV.3. CHIÊM BAO NỬA GIẤC TRỜI MƯA BỤI
Mái tóc em bềnh bồng bể khơi
Áo mỏng vì em nằm nhớ đời
Chiêm bao nửa giấc trời mưa bụi
Thấp thoáng em về như lá rơi…
Khổ thơ cuối là khổ thơ của bi ai và hoài cổ. Không gian trong khổ thơ vừa mơ màng vừa nhòa nhạt bởi những hạt mưa bụi, cho thấy tâm trạng của tác giả lúc này là chập chờn, không yên. Tình yêu giờ đây, chỉ còn hiện hữu trong những giấc mơ dang dở.
Thấp thoáng em về như lá rơi, một hình ảnh tuyệt đẹp nhưng cũng buồn bã khôn xiết. Thấp thoáng, gợi hư ảo. Lá rơi, gợi chia lìa. Người yêu, dường như đang trở về, không một tiếng động, và bỗng dưng, biến mất.
Ngay cả chiêm bao, cũng không tròn một giấc. Chiêm bao chỉ mới được nửa chừng, nửa kia, mưa qua, bụi nước hắt vào, chợt tỉnh, thấp thoáng đâu ngoài khung cửa gió bay, ngỡ em về.
Mà nào phải. Chỉ là chiếc lá rơi.
Cõi Nghìn Trùng hay Bên Kỷ Niệm, thì cũng đều, đã xa rồi, em đã xa rồi.
Chia ly. Vĩnh biệt.
******
V. THẤP THOÁNG EM VỀ NHƯ LÁ RƠI
Tôi chỉ là người giới thiệu, giới thiệu thơ, giới thiệu văn, giới thiệu nhạc. Và nói như Tiểu Luận Gia Đặng Tiến lúc sinh thời, người giới thiệu có quyền hạn rộng hơn người phê bình, như quyền chủ quan chẳng hạn, nhìn vào cái hay trong khi đợi chờ thử thách của thời gian. Giới thiệu thơ là cùng cô đơn với thi nhân, một loại cô đơn hai người ấm áp.
Nghĩa là, tôi chỉ giới thiệu được khi chính lòng tôi cảm, chớ không thể vay mượn cái cảm của người khác. Nên tôi một mình. Tôi một mình trong cách nhìn. Tôi một mình trong các nhận định. Khác với phê bình là có khen, có chê, có so sánh; khi giới thiệu, tôi chỉ giới thiệu cái hay, cái đẹp.
Như cái hay cái đẹp, nói hoài vẫn không hết trong câu:
THẤP THOÁNG EM VỀ NHƯ LÁ RƠI!
Sài Gòn 06.05.2026
Phạm Hiền Mây




