Ảnh Hưởng Phật Giáo Trong Thi Phẩm: Vì Em, Tôi Đã Làm Sa Di

13 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 2332)
Ảnh Hưởng Phật Giáo Trong Thi Phẩm: Vì Em, Tôi Đã Làm Sa Di
blankLnđ: Thứ Bảy, ngày 4 tháng 10 năm 2003, vào lúc 11 giờ sáng (giờ California,) 8 giờ tối (giờ paris,) 1 giờ sáng (giờ Saigòn,) qua hệ thống ChuaQuocTeOnline, trong phần sinh hoạt chuyên đề đặc biệt, tổ chức tại room Phật Học Đường Vạn Hạnh, trong group Distance Learning của Paltalk, nhà thơ Du Tử Lê đã có bài nói chuyện về Anh hưởng Phật Giáo trong thơ của ông, tập chú vào thi phẩm Vì em tôi đã làm Sa Di, của ông.

Nay, với sự đồng ý của diễn giả và tổ chức Chùa Quốc Tế Online – Phật Học Đường Vạn Hạnh, chúng tôi hân hạnh đăng tải bài nói chuyện này sau khi tác giả đã hiệu đính. 

Trân trọng, 

Kính thưa quý chư tôn đức Tăng, Ni,

Kính thưa quý vị và các bạn, 

Cách đây hơn bốn năm, khi được mời tham dự Tuần Lễ Đa Văn Hóa, trong hai ngày liên tiếp Thứ Bảy 21 tháng 8 và Chủ Nhật, 22 tháng 8 năm 1999, tại hí viện The Stage Downtown San Jose, thuộc miền bắc tiểu bang California, do các Hội đồng The Arts Commission - City of San Jose, The Arts Council Silicon Valley và, California Arts County, cùng nhật báo The San Jose Mercury News đồng bảo trợ, nơi phần mở đầu bài nói chuyện của chúng tôi, nhan đề “Tôi, Ấu Thơ và Mẹ,” tôi đã nói rằng:

Tôi được sinh ra trong một gia đình, với người cha là một thầy đồ, theo Nho giáo và, mẹ là một tín đồ Phật giáo. Thuở ấu thơ, tôi có nhiều dịp theo mẹ tôi tới chùa, nhưng không hề có một chút ý thức nào về đạo Phật, hay giáo lý nhà Phật. 

Cuối năm 1988, thân mẫu của chúng tôi qua đời. Thời gian này, tinh thần tôi cực kỳ sa sút. Nếu cá nhân tôi không được nâng đỡ bởi hai tôn giáo lớn là Phật Giáo và, Ky Tô Giáo, chắc chăn tôi đã tự chấm dứt đời mình.

Khởi tự biến cố cá nhân lớn lao, dữ dội đó, tôi mới bắt đầu để tâm, tìm hiểu giáo lý Phật Giáo, cũng như đọc lại Tân Ước của Ky Tô giáo.

Sau đó, tôi dùng bài nói chuyện vừa kể, để thuyết trình tại một số đại học tại Hoa Kỳ, như đại học UCLA, đại học UCI, đại học Berkeley, đại học MIT, đại học Wellesley, đại học Boston College, ở Hoa Kỳ, cũng như tại một số địa điểm khác ở Âu châu và, Úc Châu.

Gần nhất, trong hai đêm Thứ Sáu, ngày 2 tháng 5 và Thứ Bảy, ngày 3 tháng 5 vừa qua, nhân tuần lễ Ngày Của Mẹ, tôi cũng đã dùng lại bài đó, để nói chuyện tại Hội Quán Thùy Dương, ở thành phố Westminster, thuộc miền Nam tiểu bang California. 

 

Kính thưa quý vị và các bạn,

Kể lại chuyện này, tôi chỉ muốn nhấn mạnh, tới ngày hôm nay, về phương diện giáo lý Phật Giáo, tôi vẫn chỉ là kẻ mon men thập thò nơi bực thềm thiền môn mà thôi.

Kể lại chuyện này, tôi chỉ muốn xác nhận, kiến thức của tôi về giáo lý Phật giáo, là kiến thức của một học trò mẫu giáo. Nó vẫn còn trong giai đoạn đang được khai tâm bởi sách vở, bởi những bài giảng của quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni, cùng các bậc thức giả về giáo lý Phật Giáo, trong cũng như ngoài đạo Phật.

Tuy nhiên, vì ảnh hưởng của Phật giáo tại Việt Nam là một ảnh hưởng sâu, dầy, có tự nhiều đời, thấm thấu vào vô thức đời sống hàng ngày sau nhiều nghìn năm, hóa nên, dù không được học hành, không được giảng dạy tới nơi tới chốn, nhưng cá nhân tôi, cũng như đa số, những người ở thế hệ của tôi (thế hệ của những người đã bước vào tuổi 60,) dù được nuôi nấng bằng nguồn sữa đức tin và, bóng mát công bằng, bác ái của tôn giáo nào; thì, những ý niệm như gieo nhân nào, sẽ hái quả nấy, là một chân lý rất phổ cập.

Theo tôi, đó là một ý niệm, gần như chân lý mang tính dân gian, đại chúng, đi ra từ triết lý nhân quả của Phật giáo.

Dù không được học hành, được giảng dạy tới nơi tới chốn, nhưng, đa số, những người ở thế hệ của tôi (thế hệ của những người đã bước vào tuổi 60,) dù được nuôi nấng bằng nguồn sữa đức tin và, bóng mát công bằng, bác ái của tôn giáo nào; thì mặc nhiên chúng tôi cũng thẩm thấu hoặc, nghe, biết những ý niệm rất dân gian, về phần số mỗi cá nhân, mỗi dân tộc - - Cũng như những ý niệm (dẫu tin hay không,) về tiền kiếp, về đời sau, về kiếp khác ...

Theo tôi, đó là một trong những ý niệm đi ra từ quan niệm Biệt NghiệpCộng Nghiệp cũng thuộc về triết lý căn bản của đạo Phật.

 

Ngay cả chân lý hay tiến trình nhân sinh bốn giai đoạn là “sinh, lão, bệnh, tử” của nhà Phật, dù cá nhân tôi không được học hỏi, không được nghe giảng dạy tới nơi tới chốn, nhưng khi có ý thức, tôi cũng mặc nhiên hiểu rằng, đó là định luật rất tự nhiên. Một thứ chân lý bất khả vấn. 

 

Kính thưa quý vị, thưa quý bạn, nói cách khác, theo tôi, ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo trong đời sống tinh thần, tâm linh của người Việt Nam, là một ảnh hưởng mặc nhiên, tự nhiên tới mức độ không một ai trong chúng ta, thấy can thiết phải truy nguyên xem nó xuất phát từ giáo lý của đạo nào. Tất cả đã có sẵn trong đời sống, như khí trời, ta thở mỗi giây, phút; như nguồn nước, chúng ta uống mỗi giờ...

Lại nữa, đa số, những người ở thế hệ của tôi (thế hệ đã bước vào tuổi 60,) nếu được đi học, và học hết bậc trung học, thì, (cũng đa số,) đều thấm nhuần các ý niệm về từ bi, hỉ xả; về nghiệp duyên; về thân, tâm; về tiểu, hay đại ngã... Cũng vốn là những quan niệm triết lý của Phật giáo, qua tác phẩm của những tác giả cổ điển mà, chúng tôi phải học, thời niên thiếu. 

Kính thưa qúy vị và các bạn,

Nếu cần phải trưng ra một tác phẩm văn chương thuộc dòng cổ-văn thời chúng tôi, thì, tôi có thể nói ngay, đó là tác phẩm Truyện Kiều.

Tôi xin nhấn mạnh: Ảnh hưởng triết lý Phật giáo mạnh mẽ nhất, rõ ràng nhất, là tác phẩm Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, mà quý vị cùng các bạn và, chúng tôi đã được học từ thời trung học.

Ảnh hưởng của triết lý Phật giáo không chỉ đầy rẫy, cùng khắp, trong các tác phẩm văn chương cổ của văn học ta, mà chúng còn đầy rẫy trong cả những câu ca dao, tục ngữ, tức trong văn chương bình dân của người Việt Nam nữa.

Đó cũng là một trong những điều mà, khi được mời nói về tinh thần “Từ bi trong thi ca Việt Nam,” mở đầu đại lễ kỷ niệm “40 Năm Phật Gíao Việt Nam Nhập Cuộc,” do Giáo Hội Phật Gíao Việt Nam Thống Nhất ở Hải Ngoại, tổ chức lúc 11 giờ trưa Thứ Bảy, ngày 23 tháng 8 vừa qua, tại phòng sinh hoạt Người Việt, thành phố Westminster, miền nam tiểu bang California, tôi cũng đã nhấn mạnh rằng:

“...Riêng Việt Nam, là một trong những dân tộc được thấm nhuần triết lý đạo Phật rất sớm, nên tinh thần Từ-Bi của đạo Phật đã tiềm ẩn hay hiển lộ lộng lẫy trong văn chương truyền khẩu - - Là giai đoạn văn học ta chưa có văn tự.

“Riêng Việt Nam, là một trong những dân tộc thấm nhuần triết lý Phật giáo rất sớm, nên tinh thần Từ-Bi của đạo Phật đã tiềm ẩn hay hiển lộ một cách lộng lẫy, trong văn chương bác học - - là giai đoạn văn học ta đã có văn tự - - Từ giai đoạn văn chương chữ Hán, qua tới chữ Nôm, rồi chữ quốc ngữ.

“Từ tấm bé, trải qua hàng trăm thế hệ, chúng ta đã được hát ru, bú mớn, được nuôi lớn bằng tinh thần Từ-Bi.

“Người Việt Nam trải qua nhiều đời kiếp, không chỉ được thắp sáng bằng ngọn lửa Từ-Bi trong tâm mình, để mang thương yêu, đem độ lượng, hy sinh và, thương xót đến cho người khác - - Mà, chúng ta còn được nhắc nhở phải đem ngọn lửa Từ-Bi kia, đến với những hồn ma, bóng quế, những sinh linh vì nghiệp nặng, không thể siêu thoát; qua lễ giỗ hằng năm: Lễ giỗ Ngày rằm xá tội vong nhân - - Mà, bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du, còn lưu truyền đến ngày hôm nay, là một thí dụ điển hình, tiêu biểu...” 

 

Kính thưa quý vị,

Vì mặc nhiên được thấm nhuần triết lý Phật giáo như mọi người, từ tấm bé, nên, tôi rất hân hoan, cho là thuận duyên, khi nhận lời với quý Thầy trong Phật Học Đường Vạn Hạnh, nói chuyện về đề tài Ảnh Hưởng Phật Giáo Trong Thơ Du Tử Lê.  

 

Kính thưa quý vị và, các bạn,

Dù đề tài được ghi xuống là ảnh hưởng Phật giáo trong thơ của tôi, nhưng để không bị tản mạn, lan man, làm mất thì giờ quý báu của quý vị và các bạn, nên tôi đã xin quý Thầy, cho phép tôi, giới hạn phần nói chuyện của mình, trong tập sách mỏng của chúng tôi, đó là thi phẩm Vì em tôi đã làm Sa Di.

Những ai có trong tay cuốn sách mỏng kia, có thể không để ý tới hàng chữ in nơi trang thứ 4 của cuốn sách. Đó là hàng chữ Vì em, tôi đã làm Sa Di – Tuyển tập thơ thiền tính – Du Tử Lê

 

Kính thưa quý vị và các bạn,

Không phải vô tình, ngẫu nhiên mà nhà xuất bản có hàng chữ Tuyển tập thơ thiền tính.

Khi yêu cầu nhà xuất bản ghi xuống hai chữ thiền tính - - chủ tâm của tôi, muốn minh thị với người đọc rằng, tập thơ nhỏ kia, của tôi, không phải là một tuyển tập thơ Thiền.

Khi yêu cầu nhà xuất bản, ghi rõ điều đó, tôi muốn tránh trước mọi nhăn mặt, khó chịu của những bậc thiền giả; của những bậc thức giả có kiến thức sâu, rộng về thiền - - luôn cả những văn nghệ sĩ từng cho biết họ cũng có làm thơ thiền, đã in thơ thiền, thậm chí cho biết, thơ của họ là thơ Thiền!!!

Khi yêu cầu nhà xuất bản, ghi rõ điều đó, tôi muốn khẳng định, tập thơ nhỏ của tôi, Vì em, tôi đã làm Sa Di, chỉ là một tập hợp những bài thơ phảng phất ít, nhiều hương vị Thiền, hoặc ảnh-hưởng-mặc-nhiên triết lý Phật giáo, mà thôi.

Tuyển tập ấy, không hề, cũng như cá nhân chúng tôi, không hề, có tham vọng, coi đó, gọi đó là tuyển tập thiền thi. 

 

Kính thưa quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni

Thưa quý vị và các bạn,

Là một người Việt Nam, (như hầu hết những người Việt Nam nào khác, ở lứa tuổi tôi,) tôi trải qua một tuổi thơ đầm đìa tuyệt vọng; một tuổi thơ nám cháy tan tác, còi cọc niềm vui, sát muối bầm dập trong chiến tranh, loạn lạc...

Lớn lên, vào đời, cá nhân và, hầu hết những người thuộc lứa tuổi của tôi, phải đối mặt với biết bao nhiêu thảm cảnh! Từ đói, rét tới chết chóc. Từ chứng kiến tới tự tay khâm liệm, bó xác, vuốt mắt biết bao người thân, ruột thịt, bạn bè…

 

Kính thưa quý vị và, các bạn,

Cá nhân, với tuổi tác có thêm, càng lúc tôi càng nghĩ nhiều hơn về hai phạm trù nghiệp, tâm của Phật giáo...

Với tuổi tác có thêm, càng lúc tôi càng thấm thía về những đối nghịch, hay tinh thần phân biệt nhị nguyên, mà danh từ nhà Phật gọi là những cặp đối đãi...

Thí dụ như: sống / chết; đen / trắng; còn / mất; thắng / bại; được / thua; cao / thấp; ngắn / dài; trên / dưới; đi / về; hạnh phúc / khổ đau; địa ngục / niết bàn; hận thù / tha thứ; thương yêu / ghét bỏ; dài lâu / ngắn ngủi; vân vân...

Tinh thần nhị nguyên hay những cặp đối-đãi kia, sau này, tôi hiểu, sở dĩ có, là do nơi cái tâm-phân-biệt vốn sẵn có trong mỗi chúng ta, như tóc trên đầu, như máu trong thân…

 

Kính thưa quý vị và các bạn,

Những ghi nhận, cảm nghiệm, suy nghĩ về giáo lý Phật giáo, ở nơi tôi, cuối cùng, đã ảnh hưởng vào một số thơ, cũng như văn của tôi...

Tôi nghĩ, vì ảnh hưởng của triết lý Phật giáo ma, tôi đã có những câu thơ mang ý nghĩa tích cực xóa bỏ, mạnh mẽ khử trừ tính nhị nguyên vốn hiện diện mạnh mẽ trong tôi.

Thí dụ, qua bài “Phân biệt,” in nơi trang số 22 của thi phẩm Vì Em. Tôi Đã Làm Sa Di, tôi viết:

 

ta, có đâu! mà một

người, có đâu! mà hai

trời không hai, chẳng một

đất không một chẳng hai

như con gió tự tại

chưa từng: trong với ngoài.

 

Có người hỏi tôi, nguyên ủy tự đâu, dẫn tới những câu thơ đó.

Tôi nói, đó là thời gian đời sống xô đẩy, đầy đọa tôi, tới chỗ cô đơn, cùng cực nhất. Tôi thấy như giữa tôi và cuộc đời, giữa tôi và đồng loại lúc nhúc chung quanh, giữa tôi và trời đất, dường chẳng có một liên hệ, một tương quan nào!

Sống, thở thoi thóp dưới đáy cùng cô quạnh, tôi chợt nhận ra rằng, rốt ráo, thì ngay cái tôi, cũng đâu hề có thật.

 

Hoặc trong bài Mất hay còn, chưa hẳn khác nhau đâu, nơi trang 58, khi phải chia tay với một người phụ nữ mà, tôi từng tưởng, nghĩ rằng, đó là lẽ sống, là hạnh phúc duy nhất của đời mình, tôi viết:

 

tôi không thể chẻ đôi hình với bóng

như em buồn có dễ mấy năm sau.

riêng tôi đã bị tâm tôi phỉnh gạt

khi hiểu ra thì tóc đã hai mầu.

............

tôi không thể nghĩ rằng em đã khuất

mất hay còn, chưa hẳn khác nhau đâu. 

 

Hoặc:

 

Ai là ta nhỉ? Ai là em?

là một hay hai? Mất ở còn.

(Trích Bay suốt đời chưa thấy được mình, trang 18, sđd.)

 

Hoặc trong bài thơ Vì em, tôi đã làm Sa Di, tôi muốn nhắc nhở người con gái tôi yêu thương, bằng những định đề là những sự việc tự khỏi thủy đã là như vậy, không cần bất cứ một chứng minh, nghiên cứu, thử nghiệm nào cả – thí dụ như cá thì biết lội, chim thì biết bay, vân vân... để rồi tôi đi đến kết luận khi tình yêu giữa hai cá nhân là một tình yêu chân thật, biết quên cái tôi, hy sinh mọi thứ riêng của cá nhân mình, thì hai người sẽ chỉ là một chứ không hề là hai nữa. Và, tôi viết:

 

muông thú vì em ở với rừng

tôi vì em ở với Kim Cang

thấy nhau là một đâu còn ngã

thân chẳng riêng thì tâm đâu có riêng.

 

Hoặc trong bài “Riêng sóng rao tìm: Em thất tung,” nơi trang 62, tôi viết:

 

tìm thấy trong ta một cửa vào

cũng là lối ngõ để đi ra

nhớ, quên quay tít đồng xu, cũ

còn, mất truy lùng dăm bóng ma.

 

Hoặc nữa, trong bài thơ nhan đề Sinh, diệt, ở trang số 71, tôi viết:

 

trăng vô thỉ, vô chung

em vô hình, vô tướng

giọt nước và, đại dương

vốn cùng ta sinh, diệt.

 

Sự trộn lẫn, tính gắn bó hữu cơ, khằn cứng giữa Tâm và, Nghiệp; giữa Tâm bản chất nhị nguyên của con người trong đời thường, đưa tôi tới những cảm nghiệm, thể hiện qua bài Chánh niệm, nơi trang 74.

Ở bài thơ này, tôi muốn nhắc nhở người bạn đời của tôi đừng phân biệt cái này tôi, cái kia anh, cái nọ chúng ta...

 

nhìn nghiêng: cây thấy sương gieo nghiệp

những sợi thời gian giăng rất xa

cái tâm cười, bảo: nghìn, sau, trước

không có tôi và, không: chúng ta.

 

Hoặc như đoạn cuối cùng, của bài thơ nhan đề bài buông, xả học từ những vết thẹo chấp thủ, quá khứ, trang số 100, viết từ những năm tháng chung sống với một người con gái mà, chúng tôi đã chia tay nhau. Nay cô đã có gia đình khác, đời sống khác, nhưng có thể vì so sánh, hay vì kỷ niệm, quá khứ, thỉnh thoảng cô vẫn liên lạc, tâm sự với tôi. Nên, bằng vào những ý niệm của Thiền, tôi muốn nói với cô rằng, khoảng cách không gian, sự không còn chung sống, chung đụng thể xác giữa hai cá nhân, không có nghĩa là họ không còn nhau, nếu họ thực sự nghĩ về nhau, không bằng cái ngã, thì họ vẫn là một. Trong tinh thần ấy, tôi viết:

 

như mây,

như cá,

như bầu trời,

như biển cả,

như tôi và, em

ngay lúc này,

tất cả, chúng ta:

-vốn một.

 

Kính thưa quý vị, thưa các bạn, về “cái tâm” bất trị, bất an, và quan điểm “như thị” tức như là, hay bản chất của mọi sự trên thế gian, luôn cả sự sống, chết của những sinh vật hữu tình, đã mặc nhiên như thế, khi hiểu ra, tôi viết:

 

con giun đâu hỏi vì sao sống?

cái gió không hề biết ở yên.

cái tâm ngó vậy mà xuôi, ngược

con mắt mai này: khép tự nhiên.

(Bài “Và, Nguyễn Tự Cường,” trang 40, sđd.)

 

Hoặc:

 

tọa thiền mỗi tối. Tâm thêm động

trí quẩn hồn quanh những ngổn ngang...

(Trích “Giống cõi âm,” trang 29, sđd.)

 

Ám ảnh về quan niệm “nghiệp” của nhà Phật, ảnh hưởng trong thơ tôi, qua bài Cổ kiềng kiếp sau, in nơi trang số 11, như sau:

 

tôi căng mình ngang âm, dương

cổ đeo đá tảng. Chân giầm ván thiên

tôi trầm mình trong hư không

chân neo đời trước. Cổ kiềng kiếp sau.

 

Hoặc:

diện bích ngàn năm vẫn bất an

nhờ em thưa lại với Quan Âm

cõi tâm tôi trụ nơi nào nhỉ

phải chính tình em? Chính mắt em?

(Trích “Sơn tự thi, trang 33, sđd.)

 

Kính thưa quý vị, thưa các bạn,

Những lúc gần đây, tôi cũng bị ám ảnh nhiều bởi những ý niệm khá trừu tượng, là danh-tánh, hình-tướng - - Mà theo giáo lý Phật giáo thì danh-tánh cũng do tâm phân biệt, tâm chấp thủ mà có.

Và, vẫn theo triết lý Phật giáo thì, đó chỉ là hư ảo, là vọng tưởng, là ảo giác vì, tất cả cuối cùng, rồi cũng chỉ là hư không mà thôi.

Khởi từ quan niệm triết lý đó, của Phật giáo, thơ của tôi, có những câu như:

 

đá ngồi như vết nhăn,

rừng ngồi như vô tận,

núi ngồi như Quan Âm,

tôi ngồi như cướp cạn,

biển ngồi như nếp nhăn,

đời ngồi như dấu hỏi,

tình ngồi như vuông khăn,

phố ngồi như mộ nổi,

em ngồi như trăm năm:

-chỗ ngồi không...tên gọi.

(Bài “Danh, tánh,” trang 21, sđd.)

 

Hoặc: 

 

ta, biến mất như chưa từng xuất hiện

có tôi không? Hình, tướng ở đâu cà?

sông chảy miết, thủy chung không diện mạo

sóng, lênh đênh, gió. Biển vẫn, như là.

(Bài “Vẫn như, là,’ trang 79, sđd.)

 

Kính thưa quý vị và các bạn,

Sau nhiều đổ vỡ, nhiều tang thương, cá nhân chúng tôi cũng suy nghĩ khá nhiều về cái mà giáo lý Phật giao gọi là chấp thủ - - một trong những bản năng tự nhiên của con người. Nhưng, đó lại là một trong những nguồn, những gốc tạo ra, mọc lớn những thân cây đau khổ, bất mãn, sân hận...

Những suy nghĩ về bản tính “nắm, giữ” của con người, của chính tôi, khiến khiến tôi viết xuống những câu thơ mang ý nghĩa khuyên nhủ, nhắc bảo chính mình rằng, hãy buông, bỏ hình, buông bỏ tướng, buông bỏ cảnh, như sau:

 

nếu hiểu rồi ra là cát bụi

kinh nào uyên áo hơn vô ngôn

sơn tự là tôi, em hãy trú

có cũng xong. Mà, không cũng xong.

.........

hãy khép trang kinh trả lại đời

cứ gì sơn tự mới an vui.

(Sơn tự thi, trang 33 và 34, sđd.)

 

Hoặc:

 

trì tụng cho tình kinh vãng sinh

một pho phụ rẫy. Một pho quên

đêm đêm trăn trở Tăng và Pháp

ngón nào là Phật? Ngón nào trăng?

(Trích “Bay suốt đời chưa thấy được mình,” trang 18, sđd.)

 

Hoặc nữa:

 

tấm gương tiền kiếp soi không thấu

mỗi loài chim: một cách bay riêng

đôi khi đồng loạt va vô núi

từ chối đời kia cách thản nhiên.

còn ta: mất tích khi đang sống

(vẫn sống không hề cật vấn chi!)

hỏi đâu tên, họ? – Đây tên, họ

nhưng của ai kìa. Không của ta!

(Trích “Truy tầm lý lịch người không bóng,” trang 91, sđd.)

 

Kính thưa quý chư tôn đức Tăng, Ni,

Thưa quý vị và các bạn,

Tôi vừa gửi tới quý vị và các bạn, vài cảm nghiệm thô thiển một cách rất chủ quan của tôi, về những cái mà, tôi cho là tôi đã nhận được trực tiếp, hay gián tiếp từ triết học, từ giáo lý Phật Giáo.

Khi viết xuống những dòng thơ đó, trước nhất, muốn tôi muốn nhắc nhở, răn dạy chính mình.

Thứ đến, theo tôi, ngày nay, thiền không còn là một tín lý hay, giáo lý thuộc về Phật giáo nữa- - Mà, thiền, bây giờ chính là một cách thế tìm kiếm sự an bình cho tâm hồn con người.

Thiền bây giờ, do đó, theo tôi, cũng như một môn thể thao, một thứ exercise của phần tâm linh, nơi con người.

Nếu hàng ngày, có những người tập thể thao, đi bộ, để duy trì sức khỏe thân thể, thì thiền chính là một môn thể thao tinh thần.

Cũng từ đó, đẩy quan niệm này tiến thêm một bước nữa, thì những bài thơ mang tính thiền của tôi, nếu quý vị đọc, hay nghe tôi đọc, thì đó cũng là một cách quý vị đã cùng tôi làm công việc excercise cho tâm hồn của chính chúng ta vậy.

DU TỬ LÊ

(Calif. Sept. 18th. 2003.)

------------------------------------------------

(*) Vì em, tôi đã làm sa di, Tống Châu, Canada xuất bản, 2001. Tạp chí Pháp Âm, Hoa Kỳ, phát hành. Địa chỉ liên lạc, Pháp Âm, P.O.Box 496405, Garland, TX 75049-6405, USA.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 7462)
(Bài Thuyết trình Tóm Tắt này đã được nói trong khóa Tu Nghiệp Sư Phạm kỳ thứ 22, do Ban đại diện các TT Việt Ngữ tổ chức tại Coastline Community College, Westminster, nam Calif, Thứ Bảy 14 tháng 8-2010. Sau đó, cũng bài này được nói trong hai buổi thuyết trình liên tiếp từ 12PM tới 3Pm ngày Thứ Hai, 18 tháng 10 năm 2010, tại Đại học Berkeley, miền bắc California.)
21 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 2766)
Vì tính Lưỡng Cực hay hai mặt của đời sống tự nhiên mà, sau này (cũng có thể cùng lúc,) con người cũng xử dụng những Thán tự/ Interjection Đơn Âm kia, để diễn tả nỗi mừng rỡ, hân hoan... nữa.
18 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 3081)
Nắm được luật So Sánh, Liên Tưởng và, nhân cách hóa là nắm được chiếc chìa khóa mở cửa vào ngôi nhà thi ca.
17 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 2320)
Vẫn theo quan điểm của chúng tôi, thì tâm và ngã vốn chỉ là một. Sự phân biệt tâm và ngã chỉ có tính cách cảnh cáo chúng ta về cái tôi thiên biến vạn hóa mà thôi.
14 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 2389)
Hầu hết các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ của chúng ta khởi nghiệp bằng khả năng thiên bẩm, lòng đam mê với bộ môn nghệ thuật thích hợp với mình. Ở lâu trong nhà, kinh nghiệm trở nên dồi dào, phong phú, giầu có.
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 67)
Nhạc phẩm đầu tiên ông sáng tác lúc mới 13 tuổi là bài ‘Mẹ Tôi’,
(Xem: 140)
Thanh Thúy, như một hiện tượng gom được cả thực và phi thực.
(Xem: 136)
Trong số hàng chục nghệ sĩ từng bày tỏ tình yêu một chiều với Thanh Thúy,
(Xem: 225)
Nhiều người nói, Trịnh Công Sơn không phải là người đầu tiên gieo cầu nhắm vào Thanh Thúy.
(Xem: 459)
Rất nhiều người vẫn còn nhớ 4 câu thơ tuyệt tác của nhà thơ Hoàng Trúc Ly, viết tặng Thanh Thúy
(Xem: 5348)
Du Tử Lê nói ông chỉ muốn im lặng. Trong phần hỏi-đáp rất ngắn dưới đây, nhà thơ Du Tử Lê có giải thích về sự im lặng của ông, với nhiều ngụ ý.
(Xem: 625)
Đầu tháng 6-2018, tuyển thơ Khúc Thụy Du của nhà thơ Du Tử Lê ra mắt độc giả trong nước.
(Xem: 12028)
Đứng giữa gian hàng, trên một bục gỗ cao phủ khăn trắng nuốt, người thiếu nữ trông nổi bật hẳn lên với trang phục tuy rực rỡ sắc mầ
(Xem: 1461)
Theo thiển ý cá nhân tôi, thơ Du Tử Lê khá "hiền!"
(Xem: 6139)
“Ngay sau khi gặp ông, tôi đã bước sang “chặng đường ngỡ ngàng.” Không ngỡ ngàng sao được khi mà đứng bên ông
(Xem: 385)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 464)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 20307)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 15129)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 12676)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 15933)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 13987)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 12454)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 10452)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 9685)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 9816)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 9024)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 8600)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 9819)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 15037)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 21430)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 27226)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 18710)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 19830)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 24042)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 21764)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 18168)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
1,947,126