Ảnh Hưởng Nghiệp Lực Trong Thơ Du Tử Lê

17 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 2285)
Ảnh Hưởng Nghiệp Lực Trong Thơ Du Tử Lê

blankLNĐ: Dưới đây là nguyên văn bài nói chuyện của nhà thơ Du Tử Lê, qua hệ thống PalTalk, Phật Học Đường Vạn Hạnh, thuộc Chùa Quốc Tế Online, Thứ Bảy, ngày 9 tháng 10 năm 2004 - - Nghe được tại California và Vancouver, Canada: 5PM; Paris: 2PM, Chủ Nhật, 10-10; Việt Nam: 7AM, Chủ Nhật, 10-10; Sydney và Melbourne: 10AM, Chủ Nhật, 10-10-04...

Muốn nghe toàn bộ bài nói chuyện kể trên, luôn cả phần hỏi đáp, xin vào trang nhà www.chuaquocteonline.net/chuaquocte/chuyende.htm; hoặc website: www.dieuphap.com -- Mục Tủ Sách Cho Người Phật Tử Tại Gia. 

Trân trọng. 

Kính thưa quý Chư Tôn Đức, Tăng Ni,

Thưa quý vị và, các bạn,

Đây là lần thứ hai (1) trong vòng một năm, chúng tôi lại có được nghiệp duyên hầu chuyện cùng quý Chư Tôn, Đại Đức, Tăng Ni, cùng quý đạo hữu đang lắng nghe qua hệ thống PalTalk này.

Đây cũng là lần thứ hai, trong vòng một năm, chúng tôi lại được thưa chuyện cùng quý vị về những cảm nhận của tôi, cảm nhận của một người đã bước vào tuổi sáu mươi, mới tìm về Thiền môn, với những bước chập chững của một đứa trẻ còn trong giai đoạn tập đi.

Để tránh mọi vọng ngữ, vọng ngôn, vọng tưởng, cũng như lần trước, lần này, bài nói chuyện của chúng tôi chỉ xin dựa trên những gì chúng tôi đã viết xuống, trong tập thơ nhỏ, mới nhất của chúng tôi - - Tập thơ nhan đề Qua môi em: - tôi thở biết bao đời! (2) 

Kính thưa quý Chư Tôn Đức, Tăng Ni, 

Thưa quý vị, và các bạn, 

Trước khi bước vào đề tài của bài nói chuyện là “Ảnh hưởng Nghiệp lực trong thơ Du Tử Lê;” chúng tôi xin nói về nghiệp, duyên nào đã mang lại cho cá nhân chúng tôi, những suy nghĩ về nghiệp lực. 

Trước hết, ngay tự khi còn trẻ, chúng tôi đã được biết một câu nói mà cá nhân chúng tôi, thời đó, cho là quá đáng, cho là cường điệu, đó là câu:

Nhất ẩm, nhất trác, giai do tiền định.

(Hiểu theo nghĩa, một hớp nước, một miếng ăn, nhất nhất đều đã được định sẵn từ trước.)

Hai chữ “tiền định” ở đây, phải hiểu là thiên định tức Trời định. Bởi vì, như chúng ta đều biết, triết thuyết của Đức Khổng Phu Tử xây dựng trên ý niệm Thiên Định - - Một ý niệm vô cùng trừu tượng, khá phổ quát trong đại chúng.

Nếu ông trời có thực, và, ông trời đã là đấng quyết định sống, chết; thưởng, phạt đám nhân loại lúc nhúc là chúng ta, mà, chúng ta còn buộc ngài phải lo trước từng miếng ăn, hớp nước cho từng cá nhân, không phân biệt già, trẻ, lớn, bé, đàn ông, đàn bà, luôn cả những người ở giữa hai giống tính, thì, có lố bịch chăng, khi chúng ta đã giản lược ông Trời vào công việc của một “anh nuôi” nói theo thuật ngữ hôm nay! Trong trường hợp ấy, ông Trời...“bất hạnh” hơn chúng ta biết là chừng nào! 

Tôi lại trộm nghĩ, nếu ông Trời có thực và theo ý nghĩa đó, thì, chắc ông cũng đã qua đời, đã tạ thế lâu rồi - - Như triết gia F. Nietzche(3) từ thế kỷ trước từng tuyên bố “Thượng đế đã chết!” rồi vậy!!! 

Thưa quý vị và, các bạn,

Tuy nhiên, gần đây, sau một thời gian khá dài, mon men, thập thò nơi ngưỡng cửa Thiền Môn, qua kinh, sách, qua những băng giảng của một số Chư Tôn, Đại Đức, Tăng Ni, các bậc thức giả, tôi được thức ngộ rằng, theo sự chỉ dậy của Đức Phật thì, trong suốt hành trình của một kiếp người, một đời sống, từ lúc sinh ra cho tới lúc nhắm mắt, không có bất cứ một sự kiện, một biến động nào, dù nhỏ tới đâu, mà không có duyên khởi, tức hệ lụy không thể trốn chạy của tương quan quan giữa nhân và quả.

Nếu có một khác biệt nào giữa các duyên khởi thì, đó là thuận duyên, đưa tới hệ quả tốt; hay nghịch duyên, đưa tới hệ quả xấu, mà thôi...

Áp dụng hai chữ nghiệp, duyên vào đời thường, chúng tôi nghĩ, có thể giải thích thỏa đáng mọi sự việc, dù nhỏ nhặt nhất, xẩy ra cho chúng ta - - Như tại sao, có người gặp lần đầu, chúng ta thấy gần gũi, tin cậy ngay và, ngược lại... 

Thưa quý vị và các bạn, kể lại hiểu biết sơ đẳng của mình, chúng tôi không có một ý nào, khác hơn ý muốn bày tỏ lòng biết ơn của tôi, khi cách đây khá lâu, tình cờ chúng tôi được đọc một đoản văn viết bằng Anh ngữ của Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh, do dịch giả Chân Huyền chuyển sang Việt ngữ.

Trong đoản văn vừa kể, chúng tôi bị chấn động, đúng hơn là xúc động mạnh mẽ, khi Thiền sư Nhất Hạnh kể lại chuyện, trong Làng Hồng ở Pháp của Thầy, một buổi sáng, Thầy dắt tay một em bé cùng thiền-hành với Thầy.

Thầy nói, đại ý, khi cầm bàn tay nhỏ bé của em bé, (có lẽ là thiền sinh nhỏ tuổi nhất trong khóa thiền lần đó;) Thầy cảm được qua lớp da, qua những ngón tay bé xíu của em, sự hiện diện không chỉ phần tứ đại gồm đất, nước, lửa, gió cấu tạo thành thân thể của em; mà, Thầy còn cảm nhận được cả sự hiện diện của cha mẹ, hay đấng sinh thành ra em.

Cứ thế, đi lần lên cao hơn, tới những đời kiếp xa hơn, Thầy cảm nhận được sự hiện diện của ông bà nội, ngoại của em bé; các đấng sinh thành ra cha mẹ em - - Nói chung là tổ tiên nhiều đời, kiếp trước, trước khi có em bé đó... 

Kính thưa quý Chư Tôn Đức, Tăng Ni,

Thưa quý vị và, các bạn,

Tôi hiểu Thầy Nhất Hạnh muốn nhắc nhở những người đọc Thầy, về vòng tròn luân hồi. Vì sự sống của mỗi sinh vật hữu tình là kết quả của một xâu chuỗi khởi tự vô thỉ, đi tới vô chung - - Bởi nó là một vòng tròn, nên không có điểm khởi và do đó, cũng không hề có điểm chấm dứt - - Nếu chúng ta không có những nỗ lực tu tấn, để thoát khỏi vòng luân hồi bất tận ấy.

Giống như một đứa trẻ bị bất ngờ tới sững sờ trước một chân trời, một thế giới mới lạ mà nó chưa từng được biết; thậm chí, cũng chưa từng tưởng tượng tới; cá nhân chúng tôi liên tưởng tới những lần ôm trong tay thân thể của người mình thương yêu; những lần cá nhân chúng tôi hôn lên mặt, lên môi người bạn đời của mình - - Chúng tôi tự thấy, chúng tôi đã hành động một cách cuồng nhiệt theo bản năng, theo thú tính. Cá nhân chúng tôi không thể nghĩ, không thể hiểu rằng, mình đang ôm trong tay một thân / tâm đã trải qua bao đời kiếp; trước khi thị hiện trong hình dạng con người. Khi hôn lên mặt, lên môi người bạn đời của mình, cá nhân chúng tôi cũng không có, dù chỉ một chút ý thức, rằng, chúng tôi đã hôn, không chỉ người bạn đời kia; mà cùng lúc, là bao đời, kiếp xa xưa của cá nhân người bạn đời đó nữa.

Thưa quý vị và, các bạn,

Khởi tự nhận biết bất ngờ vừa kể, một liên tưởng đã bật dậy trong tâm hồn chúng tôi - - Và, chúng tôi viết xuống câu thơ Qua môi em: - tôi thở biết bao đời!!?

Câu thơ được viết xuống, không chỉ như một bày tỏ lòng trân trọng biết ơn người yêu dấu, hay người bạn đời của mình; mà, ở mặt sâu kín, nó còn hàm chứa ý nghĩa biết ơn tác giả, Thầy Nhất Hạnh. Bước thêm một bước nữa, xa hơn, là lòng biết ơn của chúng tôi, với Đức Phật.

Bởi nếu không có sự soi sáng của Ngài, về vòng tròn luân hồi, thì Thầy Nhất Hạnh đã không thể có đoản văn cho cá nhân chúng tôi được đọc.

Nói cách khác, nó cũng là một thứ nghiệp, duyên, một thứ nhân đưa tới quả. Nó như một phản ứng tất nhiên của phương trình nhân = quả. Nó không hề là một kết hợp ngẫu nhiên, hoặc tình cờ. 

Khởi tự những cảm nhận kia, chúng tôi ghi lại như sau: 

em đừng khóc. kẻo mưa buồn lắm đấy
quay giáp vòng: mây, nắng, gió, sương, rơi...
sông sẽ gặp hạt mưa nàng (thứ nhất;)
(tiếp theo) tôi lầm lỡ uống em, vơi. 

kể từ đó, trong tôi là tất cả:
-em và, tôi và mẹ...(cả trăm người...)
và gỗ, đá, chim, muông, và thú dữ
qua môi em: tôi thở biết bao đời!!?.

(Sđd.)

 Đó là sự nhận biết con người vốn là kết quả của chuỗi dài luân hồi, trải qua nhiều đời, kiếp, gồm luôn cả kiếp gỗ, đá, chim muông, cây, cỏ, dã thú...

Chính Đức Phật cũng từng xác nhận: Ngài đã trải qua vô lượng kiếp như chúng ta... Nó cũng tựa như vòng tròn khép kín của một dòng nước, ở nhiều dạng khác nhau- - Như nắng bốc hơi nước thành mây... Mây được gió đưa đi khắp cùng trái đất, gặp lạnh rơi xuống thành sương, hay mưa. Sương và mưa rơi xuống đất. Một phần nước nuôi cây, phần còn lại thành ao, hồ, suối, sông, biển cả, nuôi muôn loài, trong đó, có chúng ta...

Và, nguồn nước ấy, ở một dạng khác, cũng là nước mắt, chảy ra, đôi khi, từ thân / tâm ta, vậy. 

Do đó, trong bài thơ nhan đề Vòng tròn, chúng tôi viết: 

tôi đọc được trên lá
bao kiếp, đời đã qua
tôi đọc nơi thịt, da
em / là tôi kiếp trước. 

tôi đọc trong hạt mưa
thấy vô vàn kiếp khác
qua hồi kinh nam mô
thấy em là tiếng mõ. 

bước lại tự thinh không
ta nguyên hình giọt nước.

(Sđd.) 

Sau khi hiểu mọi sinh vật, cũng như mọi hiện tượng thiên nhiên, như gỗ, đá, cây cỏ, nắng, gió, sương, mưa...cũng chỉ là những chấm nhỏ trong vận hành không có chỗ khởi đầu, không có nơi kết thúc...tôi trở nên thấm thía hơn nữa, tính nhị nguyên của tâm thức con người.

Những cập đối đãi, như trắng / đen, có / không, được / thua, còn / mất...theo giáo lý Phật giáo đều do óc phân biệt, do tâm nhị nguyên không ngừng loạn động...tạo ra! 

Từ cảm thức nọ, chúng tôi đã thể hiện hiểu biết thô thiển của mình, qua một số đoạn thơ ở bài cảm ơn em: cho tôi nhập chung, dòng. Vài đoạn thơ đó, như sau: 

đêm tĩnh lặng! hay đêm đầy nắng, xóc
gió đi quanh! hay sinh nở lần đầu?
không điểm khởi, nên chớ tìm đoạn kết
cũng như người sống / chết đã bao lâu. 

tình rất cũ! hay tình kia rất mới?
không đâu em! cũ, mới vốn ơ hờ
óc phân biệt tạo muôn hình / ảnh ảo
có hay không? - phó bản của tâm ngờ! 
 

vai ly, biệt hay thời gian ly, biệt?
xác, hồn ta? - khó lắm nhé, chia đôi!
em chẳng thể không là em đã, sẽ...
như tôi là: tôi đã, sẽ tôi, tôi... 

ta đang có! hay là ta đã mất?
tùy thôi. em! ký ức vốn tham lam!
tên bủn xỉn, rút, bòn từng ước muốn
chất trong kho – rồi đợi chết âm, trầm.

(Sđd.)

 

Kính thưa quý Chư Tôn Đức, Tăng Ni,

Thưa quý vị và, các bạn,

Nhân xưng đại danh tự em trong bài thơ này, cũng như trong hầu hết những bài thơ thiền tính khác của chúng tôi, không nhất thiết phải là một người nữ nào đó, trong đời thường, riêng tôi.

Nhân xưng đại danh tự em ở bài thơ vừa kể, cũng như ở hầu hết những bài thơ thiền tính khác, của chúng tôi, xin hiểu như một chủ tâm nhân cách hóa chân lý, giác ngộ, hay đường đạo mà, tôi khát khao, tôi mơ ước được đi trên, và bước tới.

Nhân xưng đại danh tự em trong bài thơ vừa kể, cũng như ở hầu hết những bài thơ thiền tính khác, của chúng tôi, cũng xin hiểu, một nghĩa khác nữa, là tiếng gọi, kêu khẩn cấp, thiết tha cái tâm của chúng tôi, sớm ra khỏi cái tôi nhị nguyên (tức tiểu ngã,) để có thể nhập vào cái tôi không phân biệt, cái tôi nhất nguyên trong sáng (tức đại ngã.) 

Thưa quý vị và, các bạn,

Có người hỏi rằng, tại sao chúng tôi phải cất tiếng gọi kêu một cách khẩn thiết cái tâm riêng mình, như vậy?

Tôi thưa, bởi vì, tới giờ, phút này, chúng tôi vẫn ngụp lặn trong cái tôi / cái tiểu ngã không thật của mình.

Bởi vì, tới giờ, phút này cái tôi hay cái tâm nhất nguyên, cái tâm đại ngã vẫn là chiếc bóng, là viễn ảnh ở phía trước tôi, rất xa. Xa tới mức chúng tôi tự thấy: “Có dễ chẳng bao giờ mình có thể chạm tới!”

Cảm nhận rõ ràng (dù đau xót đó,) khiến chúng tôi không thể không nhìn nhận; và, đã viết xuống, như sau: 

tôi vẫn đuổi theo tôi, từng phút một
(những con người đi, đến tự hư vô.)
tôi vẫn đuổi theo em, từng phút một
(mà em, sao tôi chả gặp bao giờ?!)

(Trích từ bài: những con người đi, đến tự hư vô. Sđd.) 

Thưa quý vị, thưa các bạn, chúng tôi từng tìm tới bài kinh, từng đắm mình trong tiếng kệ...

Nhưng những lúc một mình, nhìn lại, chúng tôi vẫn thấy, cuối cùng, sự thực: Tôi vẫn là tôi, với cái tâm bất nhất, tâm bất an, tâm sinh chuyện... Tôi vẫn là tôi(!) với tất cả bản năng tham, sân, si sâu, dầy ngã mạn, của mình.

Ghi nhận về cái tâm như con khỉ, con vượn nhẩy nhót, chuyền cành của mình, chúng tôi thấy cái tâm đó như một bóng ma chập chờn, lẩn, khuất... Dù cho chúng tôi có trốn chạy ở đâu, cách nào, thì nó vẫn khằn cứng trong tôi.

Vì thế, chúng tôi viết: 

ẩn tâm trong tiếng kệ,
giật mình: - quạ kêu khuya. 

ẩn tâm trong tiếng kệ,
giật mình: - nghiệp sum xuê.

(Từ bài: giật mình:- quạ kêu khuya., Sđd.) 

Hoặc: 

tôi gieo hạt tương tư
trên luống người biến, hiện;
tôi nhìn tôi khổ, đau
(rưng rưng từng ý niệm.)

(Trích từ bài: tôi là em: hiện tại! Sđd.) 

Chẳng những tôi không vạch mặt chỉ tên được cái tâm ma quỷ kia của mình; mà tôi / hay cái tâm của tôi, còn tìm cách bảo vệ, che chở cho cái tôi, quỷ ma đó, bằng thứ triết lý rất đời thường là số mệnh.

Tôi tìm tới số mệnh, như tìm tới một hầm trú ẩn an toàn, vững chắc nhất cho cái tâm, hay cái ngã vốn thiên hình vạn trạng, vì những ý niệm không ngớt loạn động trong tôi: 

Từ đó, tôi viết: 

đất thinh lặng – như chưa từng cất tiếng,
chỉ tại tôi: nhấp nhổm, mưu toan.
lòng nhiễu sự: gây bao điều thất thiệt,
đổ oan cho số, phận mọi vui, buồn. 

(Trích từ bài: Nghiệp đôi ta: thinh lặng bướu ân tình. Sđd.) 

Kính thưa quý Chư Tôn Đức, Tăng Ni,

Thưa quý vị và, các bạn,

Sau niềm hân hoan thấy mình được khai tâm, mở trí bởi kinh, sách Phật Giáo, bởi những bậc Thầy là quý Chư Tôn, Tăng, Ni và, các bậc thức giả; sau nhiều năm say mê, háo hức uống, thở nguồn nước, và hương Thiền vị, dù vẫn còn trong giai đoạn chập chững nhập môn, hôm nay, nhìn lại những câu thơ thô tháp của mình, chúng tôi tự thấy, dường như càng lúc, chúng tôi càng thêm bất lực, giống như thể mình là một thứ con tin của cái tâm côn đồ, khủng bố ấy!

Càng lúc, cá nhân chúng tôi, càng thêm hốt hoảng trước căn để nhị nguyên, tích lũy từ nhiều đời, kiếp trước của mình.

Trong suốt hai tập thơ nhỏ, mang tính Thiền của cá nhân chúng tôi, là cuốn Vì em, tôi đã làm sa di, do tạp chí Pháp Âm ấn hành năm 1999 (4) và, tập Qua môi em: tôi thở biết bao đời!!? mới ấn hành, cách nay, chưa tới ba tuần - - Đọc lại, tôi mới thấy rõ rằng, tôi bị ám ảnh bởi hai chữ nghiệp / tâm! - - Dù cho bài thơ, câu thơ, không hề nhắc tới hai chữ tâm, nghiệp; dù cho bài thơ, câu thơ chỉ ghi lại những cảm nghĩ của cá nhân chúng tôi về sống / chết, về thời gian (như quá khứ / hiện tại;) về thiên nhiên (như mây / mưa, nắng / gió...) Nói chung là sự tuần hoàn của vũ trụ, trong những vòng quay bất tận...

Thưa quý vị, thưa các bạn, ám ảnh tâm và nghiệp không chỉ chói, gắt và, nhức, buốt trong những câu thơ chúng tôi đã trưng dẫn; mà, nó còn ở hầu hết những những bài thơ còn lại trong tập thơ nhỏ của chúng tôi, như: 

tâm tôi chiếc bóng nhiều hoang tưởng
hạt giống di truyền. bi kịch đôi:
hôm-qua-ngày-tới-tôi: như thật:
tích lũy nghìn năm ký ức, tươi. 

tâm tôi chiếc bóng to hơn núi!
cao thấu trời! sâu thấu nghiệp, vay.
phân tranh: phải / trái được / thua, mãi...
tôi mất tôi: - từ khi có...tôi!

(Trích từ bài: tôi mất tôi: từ khi có...tôi! Sđd.) 

Hoặc: 

tôi đi trong nghiệp, duyên
thấy đời sao ngắn ngủi!
tâm nghìn rễ thâm căn,
trí sâu, dầy ngã mạn.

(Trích từ bài: thấy tâm ngồi an lạc. Sđd.) 

Hoặc: 

tôi sống lại từ ngọn đèn đã tắt
theo tháng, năm / gieo nặng hạt sương, chờ - -
hiên oan khuất những lời nguyền vây, bủa(!!!)
em / lênh đênh / nghiệp lực / níu tôi về /.

(Trích từ bài: vai bồ tát gánh tử, sinh thí, phát-- Sđd.) 

Hoặc nữa: 

tâm và nghiệp song sinh là một cập
như môi em (cập khác,) cũng song sinh.
nhưng cuối cùng: chỉ một, một thôi. em
sống hay chết, mất với còn...một cập. 

(Trích từ bài: song sinh. Sđd.) 

Kính thưa quý Chư Tôn Đức, Tăng, Ni,

Thưa quý vị và, các bạn,

Trước khi trình bày với quý vị và các, bạn quan niệm thô thiển của chúng tôi về tương quan hữu cơ giữa nghiệp và tâm; chúng tôi xin lập lại một cách vắn tắt ở đây, rằng:

Theo chỗ chúng tôi được hiểu, thì, giáo lý Phật Giáo chia nghiệp làm hai loại.

- Loại thứ nhất, danh từ nhà Phật gọi là cộng nghiệp - - Tức nghiệp chung của nhiều cá nhân, hay nghiệp chung của một tập thể, một dân tộc. (Và,)

- Loại thứ hai, vẫn theo danh từ nhà Phật là biệt nghiệp - - Tức nghiệp riêng của mỗi con người. 

- Về nghiệp riêng của mỗi cá nhân, nhà Phật lại chia thành ba loại. Đó là thân nghiệp, ý nghiệp và, khẩu nghiệp. 

- Về nghiệp lực, chúng ta được giảng dậy: Có hai loại.

 -Loại thứ nhất, là những nghiệp mà chúng ta đã tạo ra, từ nhiều đời kiếp trước. Chúng được lưu giữ trong tàng-thức.

 -Loại thứ hai, là những nghiệp hiện tiền - tức những việc, những điều chúng ta tạo ra ngay tại đời này.

- Lại nữa, không phải tất cả mọi việc, mọi điều chúng ta tạo ra, đều có một nội dung hoặc hệ quả giống nhau - - Cho nên giáo lý của Đức Phật cũng đã phân loại rõ ràng, như trắng với đen... Đó là thiện nghiệp và ác nghiệp. 

Tùy theo từng loại nghiệp, giống như tùy theo mỗi hạt nhân chúng ta gieo, mà, nhân đó sẽ mọc lên những cây, rồi cho chúng ta những quả, tương ứng, không sai chạy. 

Kính thưa quý Chư Tôn, Đại Đức, Tăng, Ni,

Thưa quý vị và, các bạn,

Chúng tôi hy vọng, quý vị và, các bạn còn nhớ, cách đây ít phút, chúng tôi đã đọc hầu quý vị và, các bạn câu thơ: 

tâm và nghiệp song sinh là một cập. 

Bài thơ có câu thơ ấy, trước khi in thành sách, chúng tôi đã cho đăng báo. Sau khi phổ biến, chúng tôi nhận được câu hỏi từ một độc giả rằng, có tương quan nào chăng, giữa hai chữ tâm và nghiệp qua chiếc cầu nối song sinh? 

Thưa quý vị và, các bạn, chúng tôi nhớ, chúng tôi đã trả lời rằng:

-Theo quan niệm riêng của chúng tôi, thì chẳng những tâm và nghiệp trong câu thơ đó, có tương quan với nhau - - Mà, nó còn là một tương quan thịt, xương; tương quan máu huyết vì, chúng là một cập song sinh. Đó là một thứ tương quan hữu cơ, theo cách nói quen thuộc của cá nhân chúng tôi.

Trở lại với câu thơ, với cảm nghiệm thô thiển của mình, chúng tôi hình thành hai phương trình giản lược như sau: 

-Phương trình thứ nhất:

 - Nghiệp (lành, hay dữ) = (bằng) tổng số của phản ứng, lời nói, ý nghĩ của thân / tâm chúng ta (trong đời này, hay tự nhiều đời kiếp trước.) 

-Phương trình thứ hai: 

Nghiệp > (sinh) Tâm > (sinh) Ngã. 

Nếu cộng chung cả hai phương trình; rồi giản lược chúng, thêm một lần nữa, chúng ta có phương trình thứ ba: 

Nghiệp = (là) Tâm = (tâm là) Ngã (vậy.) 

Vẫn theo quan điểm của chúng tôi, thì tâm và ngã vốn chỉ là một. Sự phân biệt tâm và ngã chỉ có tính cách cảnh cáo chúng ta về cái tôi thiên biến vạn hóa mà thôi.

Do đó, rút gọn thêm một lần nữa, chúng ta có phương trình thứ tư:

Nghiệp = (là) Tâm

Hoặc ngược lại:

Tâm = (là) Nghiệp - - Thì cũng vậy. 

Kính thưa quý vị, thưa các bạn,

Tôi biết, nhiều người trong quý vị, sẽ không đồng ý, không chấp nhận những cảm nghiệm nông cạn của tôi.

Nhưng, trước khi xin được đón nhận những chỉ dạy của quý vị, xin quý vị và, các bạn cho tôi được đi nốt phần còn lại của bài nói chuyện ngày hôm nay.

Phần còn lại, hay điều còn lại, mà chúng tôi sẽ nói sau đây, vẫn theo quan điểm của cá nhân chúng tôi, chính là nguyên nhân sâu xa khiến chúng tôi tìm tới; và, ở lại với đạo Phật.

Đó là: 

Thứ nhất: Tính Bình Đẳng (tôi viết hoa và tô đậm hai chữ bình đẳng) của Phật giáo, khi Đức Phật nói: Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành. (5 &6) 

Thứ nhì: Tính lạc quan tích cực của Thiền môn:

 “Trong Phật giáo không có tội lỗi vĩnh cửu, không có tai họa mãi

 mãi, và không có sự thoái hóa cố định (nghĩa là ‘hồi đầu thị ngạn.’

 quay đầu lại sẽ thấy bến,) chúng ta có thể từ tham sân si để trở thành thức tỉnh và giác ngộ...” (5) 

Thưa quý vị và, các bạn,

Bằng vào tinh thần tự do phơi phới và, tinh thần lạc quan tích cực “hồi đầu thị ngạn,” trong tập thơ nhỏ, mang nhiều tính thiền, mới xuất bản, của chúng tôi, chúng tôi đã viết xuống, như sau:

mừng! em thân / tâm ra đi.
tốt thôi! kỷ niệm cũng là máu xương.
mừng! như người đã lên đường,
tôi qua đời vẫn vô cùng biết ơn!
(ơn em, trang kinh thân, tâm.)

(Trích từ bài: mừng, em thêm, mất (như còn.) Sđd.) 

Hoặc: 

tôi đi trong nghiệp, duyên
gặp lại em kiếp trước.
tình yêu như cơn giông,
hoán cải tôi ác độc. 

tôi / em trong nghiệp, duyên
duyên ngân lời chăn gối.
nghiệp băng qua lằn biên:
-thấy tâm ngồi an lạc.

(trích từ bài: thấy tâm ngồi an lạc. Sđd.) 

Hoặc: 

hạnh Bồ Tát, tôi xin người mỗi niệm
nhắc tên tôi (và, tình nữa, tôi, riêng.)
tôi sẽ trả ơn em bằng...nỗi nhớ
như chưa từng biết nhớ một ai, hơn!?! 

tâm thuần khiết, tôi quy hồi Quán Thế
dưới chân người tôi niệm. niệm: ơn em - -

(Trích từ bài: như chưa từng biết nhớ một ai, hơn!?! Sđd.) 

Hoặc nữa: 

tôi sống lại từ mắt chim phá chấp
xanh / sợi mưa / khâu vá vết thương, tươi.
vai Bồ Tát gánh niềm vui thí, phát- -
hạt sa-di cẩn, nạm biết ơn người.

(Trích từ bài: vai bồ tát gánh niềm vui thí, phát -- Sđd.) 

Kính thưa quý Chư Tôn Đức, Tăng, Ni,

Thưa quý vị và, các bạn,

Trong tinh thần từ bi của Đức Phật, trước khi ngỏ lời cảm ơn quý vị và, các bạn đã lắng nghe những gì chúng tôi nói, trong thời gian qua, xin quý vị và, các bạn hiểu cho:

Không phải vô tình khi chúng tôi chú thích một cách minh bạch rằng, những bài thơ nhỏ bé của chúng tôi, trong hai tập thơ đã được ấn hành chỉ là những bài thơ... Thiền Tính.

Thơ mang tính Thiền hay, phảng phất hương, vị Thiền, không phải là Thơ Thiền.

“Thơ Thiền” là hai chữ mà, cá nhân chúng tôi, thủy chung không hề có tham vọng sử dụng.

Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn quý Chư Tôn Đức, Tăng, Ni; cùng toàn thể quý vị và các bạn.

Chúc quý vị và, các bạn luôn có được Bồ đề tâm kiên cố.

(California, Oct. 8th. 2004.) 

Bị chú:

(1) Lần thứ nhất, Thứ Bảy, ngày 3 tháng 10 năm 2003. Đề tài: “Ảnh hưởng Phật Giáo trong thi phẩm vì em, tôi đã làm sa di. Bài nói chuyện ấy, sau đó, cũng đã được trình bày trên sân khấu tại nhiều nơi ở tiểu bang California, Washington và, Australia. 

(2) qua môi em: tôi thở biết bao đời!?. (Tuyển tập thơ Thiền Tính 2001-2004.) H.T Productions, xuất bản, tháng 9 năm 2004, California, USA. Nhà sách Tự Lực, tổng phát hành.

Cần liên lạc với Tự Lực, xin qua địa chỉ: Email: buybook@tuluc.com; hoặc tel. (714) 531-5290. 

(3) F. Nietzche, triết gia người Đức; tác giả cuốn Thus Spake Zarthustra. Ông bài bác mọi tôn giáo; và cổ võ một loại người hùng siêu nhiên.

(4) vì em, tôi đã làm sa di, tạp chí Pháp Âm, tổng phát hành.

Có thể liên với Pháp Âm, qua địa chỉ: PHAPAMMagazine@aol.com; hoặc Tel.: (972- 303-5554. 

(5) Xem thêm: Tôi không dám khinh quý ngài, vì quý ngài sẽ thành Phật, nguyên tác của Mick Kidde, bản dịch Lệ Tâm; tạp chí Pháp Âm, số 33, đề ngày 1 tháng 5 năm 2004; Texas, USA.

(6) Cũng có thể đọc thêm Bát nhã tâm kinh, nguyên tác của Osho, Ấn Độ (1931-1990;) chương Phật bên trong; bản dịch Việt ngữ của Vạn Sơn, 2003, cơ sở Osho Việt Nam, California, USA, ấn hành. 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 7101)
(Bài Thuyết trình Tóm Tắt này đã được nói trong khóa Tu Nghiệp Sư Phạm kỳ thứ 22, do Ban đại diện các TT Việt Ngữ tổ chức tại Coastline Community College, Westminster, nam Calif, Thứ Bảy 14 tháng 8-2010. Sau đó, cũng bài này được nói trong hai buổi thuyết trình liên tiếp từ 12PM tới 3Pm ngày Thứ Hai, 18 tháng 10 năm 2010, tại Đại học Berkeley, miền bắc California.)
21 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 2738)
Vì tính Lưỡng Cực hay hai mặt của đời sống tự nhiên mà, sau này (cũng có thể cùng lúc,) con người cũng xử dụng những Thán tự/ Interjection Đơn Âm kia, để diễn tả nỗi mừng rỡ, hân hoan... nữa.
18 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 3043)
Nắm được luật So Sánh, Liên Tưởng và, nhân cách hóa là nắm được chiếc chìa khóa mở cửa vào ngôi nhà thi ca.
14 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 2348)
Hầu hết các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ của chúng ta khởi nghiệp bằng khả năng thiên bẩm, lòng đam mê với bộ môn nghệ thuật thích hợp với mình. Ở lâu trong nhà, kinh nghiệm trở nên dồi dào, phong phú, giầu có.
13 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 2298)
Thứ Bảy, ngày 4 tháng 10 năm 2003, vào lúc 11 giờ sáng (giờ California,) 8 giờ tối (giờ paris,) 1 giờ sáng (giờ Saigòn,)
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 81)
Trong sinh hoạt âm nhạc tại miền nam VN, 20 năm (1954-1975) rất nhiều người biết tên tuổi nhạc sĩ Ngọc Chánh.
(Xem: 115)
ở truyện ngắn cuối cùng tập truyện của mình, Đinh Phụng Tiến đã hiển lộng khả năng dựng truyện, làm chảy nước mắt người đọc một-cách-tài-ba-trong-nhói-đau-từng-khúc-ruột của cá nhân ông, trước nhất?!?
(Xem: 122)
Thời đại ngày nay là thời đại của ba dòng thác cách mạng. Từ châu Á, châu Phi đến châu Mỹ la-tinh đang sôi sục tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cái dạ dày bỏ qua mọi xu thế tất yếu này mà đòi được ăn đủ… "
(Xem: 157)
.Khi đọc tới dòng chữ cuối cùng của tác phẩm, được tác giả đặt tên là 'Hồi kết không có hậu', tôi chợt nhận ra 9 truyện ngắn trước đó, sự thực chính là 9… 'hồi' chứ không phải 9 truyện ngắn mà, 'hồi' nào cũng là 'hồi kết không…có hậu!'.
(Xem: 226)
Gấp lại tập “Ký” dầy 200 trang của họ Đinh, tôi cũng thấy tôi muốn ngỏ lời cảm ơn tác giả.
(Xem: 11712)
Đứng giữa gian hàng, trên một bục gỗ cao phủ khăn trắng nuốt, người thiếu nữ trông nổi bật hẳn lên với trang phục tuy rực rỡ sắc mầ
(Xem: 929)
Theo thiển ý cá nhân tôi, thơ Du Tử Lê khá "hiền!"
(Xem: 5759)
“Ngay sau khi gặp ông, tôi đã bước sang “chặng đường ngỡ ngàng.” Không ngỡ ngàng sao được khi mà đứng bên ông
(Xem: 1295)
DU TỬ LÊ cũng là một nhân vật đặc biệt. Nhỏ hơn họ Trịnh vài tuổi. Gốc gác Phủ Lý, Hà Nam. Sống ở Hà Nội, trước khi theo gia đình di cư vào Nam.
(Xem: 9836)
nhà văn, nhà thơ Du Tử Lê là một trong những thi sỹ có khá nhiều bài thơ được phổ nhạc kể từ những năm trước 1975 đến nay
(Xem: 84)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 237)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 20002)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 14873)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 12384)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 15542)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 13676)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 12162)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 10199)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 9477)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 9563)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 8796)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 8426)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 9533)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 14819)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 21067)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 26990)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 18455)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 19570)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 23835)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 21471)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 17951)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
1,816,648