ĐẶNG PHÚ PHONG -Phỏng vấn về MỸ THUẬT VIỆT NAM: NHỮNG VẤN ĐỀ XOAY QUANH với hoạ sĩ Trịnh Cung

03 Tháng Hai 201412:00 SA(Xem: 2946)
ĐẶNG PHÚ PHONG -Phỏng vấn về MỸ THUẬT VIỆT NAM: NHỮNG VẤN ĐỀ XOAY QUANH với hoạ sĩ Trịnh Cung

 

Đặng Phú Phong (ĐPP): Thưa Họa sĩ Trịnh Cung, với hơn 50 năm sáng tác tranh và những bài viết, tham luận về mỹ thuật, tên tuổi anh đã được khẳng định rõ ràng và độc lập trong hội họa Việt Nam cũng như trên thế giới. Mới đây anh tự xuất bản cuốn “MỸ THUẬT VIỆT NAM- Những Vấn Đề Xoay Quanh” (MTVN). Cuốn sách gồm 26 đề mục mà đề mục nào cũng đầy gai góc, nhưng nghiêm chỉnh, đánh động đến những người có tâm huyết đối với nền mỹ thuật Việt Nam. Toàn bộ cuốn sách từ hình thức đến nội dung thể hiện thật rõ nét tâm tư đầy nhiệt huyết của anh trước hiện trạng đi xuống (theo tác giả) của mỹ thuật Việt Nam. Đây chính là nguyên nhân tôi đến với anh, để được trò chuyện thêm về cuốn sách này.

Trong “Thay Lời Tựa” anh cho biết MTVN hướng đến ba đối tuợng:

1/ Người yêu nghệ thuật
2/ Các họa sĩ trẻ
3/ Nhà quản lý

Đây là ba thành phần chính, trực tiếp chịu trách nhiệm đến sự phát triển hay thụt lùi của nền mỹ thuật. Tuy nhiên anh lại chủ truơng sách chỉ để tham khảo, không phổ biến trên thị trường. Xin anh cho biết thêm về chủ trương này?

trinhcung_01-content

Trịnh Cung (TC): Tại sao tôi lại không chủ trương phổ biến cuốn sách này trên thị trường trong khi sách này lại có mục đích dành cho ba đối tượng:

 1. Người muốn đến với tác phẩm mỹ thuật,
 2. Giới họa sĩ trẻ và,
 3. Những nhà quản lý mỹ thuật?

Rõ ràng câu hỏi của anh đã cho thấy sự mâu thuẫn của tác giả cuốn sách giữa chủ trương phổ biến hạn hẹp và sự mở rộng đối tượng mà sách muốn hướng tới.

Thực tâm, tôi rất muốn sách này có mặt trên thị-trường-đọc của người Việt, có lẽ hầu như ai xuất bản sách cũng đều muốn thế, nhưng khổ nỗi, thực trạng hiện nay, tuy Việt Nam có trên chín mươi triệu dân nhưng lượng người đọc (mua) rất ít trừ sách cần cho học hành. Ngay cả những sách của những nhà văn cũng chỉ được in ra lần đầu chừng một ngàn bản, sau đó nếu có dấu hiệu ăn khách thì sách mới được tái bản. Đọc truyện là một cái thú phổ biến thế mà thị trường sách loại này còn yếu kém thế thì sách viết về mỹ thuật, một loại sách luôn phải đính kèm nhiều tranh màu, nên chi phí in rất cao thì không mấy nhà xuất bản nào chịu bỏ tiền để in. Đó là chưa nói bản thảo phải bị gạch bỏ hoặc sửa chữa những từ và/hay những câu mà chính trị Việt Nam không cho phép.

Cái khó thứ hai là nếu sách này in ở Mỹ thì rất dễ vì không cần kiểm duyệt nhưng lại không có thị trường cho sách loại này nên các nhà xuất bản người Việt không ưa thích mà tác giả tự bỏ vốn in nhiều rồi tổ chức ra mắt sách để bán thì e rằng không tránh khỏi điều tiếng "xin trợ giúp" nên tôi rất ngại, đành quyết định tự bỏ tiền in chừng một trăm cuốn cho lần đầu chỉ để tặng và qua đó biết được dư luận sẽ như thế nào đối với những gì tôi đã viết trong sách rồi tính tiếp.

ĐPP: Trong”Cái đẹp có tiêu chuẩn không” anh đi đến kết luận “cái đẹp là một khái niệm mở” vậy người phê bình đóng vai trò như thế nào trong “khái niệm mở” này?

TC: Về “Cái Đẹp là một khái niệm mở,” trong bài viết “Cái Đẹp có tiêu chuẩn không?" tôi muốn xác định là Cái Đẹp luôn có tiêu chuẩn nhưng những tiêu chuẩn của nó được lập ra theo từng thời đại mỹ học do những nhà sáng tạo tiền phong, những nhà lý luận và cả những triết gia của mỗi thời đại nhân loại lập ra, vì thế khái niệm về Cái Đẹp không cố định và luôn hàm chứa tiền đề cho sự thay đổi nhưng không phải vì thế mà ai cũng có thể dễ dàng nói thế này mới là Đẹp thế kia là Xấu.

Tôi nghĩ, các nhà phê bình mỹ thuật thừa biết điều này khi họ cân nhắc, lượng giá về Cái Đẹp mà tác phẩm nghệ thuật đang được họ quan tâm. Hệ qui chiếu (Frame of Reference) là một công cụ rất phổ biến để giúp người xem tác phẩm nghệ thuật nhận ra được tiếng nói của Cái Đẹp mà tác giả của tác phẩm muốn trình bày. Lịch sử mỹ thuật là một hệ thống gồm tất cả những hệ qui chiếu về Cái Đẹp từ Mỹ Thuật Tiền Sử đến Mỹ Thuật Đương Đại và rồi sẽ bổ sung thêm khái niệm mới về Cái Đẹp của Mỹ Thuật Hậu Đương Đại. Với tôi, Cái Đẹp là một khái niệm mở là như thế.

ĐPP: Anh phân tích về những người trẻ, những người lớn tuổi và những người thành đạt (về những mặt khác) đến với hội họa rất thẳng thắn và những đòi hỏi cao. Anh có thể nói thêm ảnh hưởng trong mục này (phản ứng tích cực và tiêu cực) của những thành phần anh đề cập đến?

TC: Vì sách mới ra với số lượng ít nên tôi chưa nhận được bao nhiêu phản ứng đối với các bài viết mà câu hỏi đặt ra. Tuy nhiên, dù không nhiều lắm nhưng những phản hồi từ nhiều thân hữu vốn là nhà văn, nhà thơ, nhà báo, họa sĩ, bác sĩ, giáo sư đại học, nhà hoạt động về nghệ thuật,...đều nói với tôi là cuốn sách viết về mỹ thuật như thế này của một người Việt Nam thì họ chưa từng đọc, rất thích, rất bổ ích, và đề nghị nên phổ biến rộng.

Và tôi đang chờ thêm những phản hồi chỉ ra những thiếu sót của cuốn sách để hoàn thiện nó hơn cho lần tái bản tới.

ĐPP: Trong phần” Mầu sắc cuộc chơi không đơn giản” anh viết: “… Mầu sắc, từ lâu, cơ bản đã được “định nghĩa” bởi những nhà tâm lý học và dân gian, mặc dù trong thực tế và cả ý thức không phải như vậy. Mầu đen không hẳn là màu của u buồn tang tóc. Mầu xanh không phải lúc nào là mầu của hy vọng …” Và, trong bài viết “Tinh thần của màu sắc: Lí thuyết màu sắc của Goethe” của Karl Gerstner(*) do Hà vũ Trọng dịch có đọan:

 “…Những màu sắc là những đơn vị cá thể, tương đối và bị giới hạn. Ánh sáng được hiển thị qua màu vàng và bóng tối qua màu lam. Chúng là hai màu nguyên thuỷ, “thuần khiết,” từ đó bắt nguồn tất cả những màu khác…”

“…Đúng như màu sắc vận hành từ trong ra ngoài, phơi mở trạng thái nội tâm qua ngoại hình, vì thế nó cũng vận hành từ ngoài vào trong. Theo Goethe, màu sắc tác động đến tinh thần con người và phụ thuộc vào đặc tính của chúng, khơi dẫn vào những trạng thái “Khi thì phấn khởi và khát khao, khi uỷ mị và thương cảm, khi hướng tới cái cao cả, khi thì lôi xuống tận đáy” – đấy là tác động của vàng, lam, đỏ và lục.…” Xin anh cho biết ý kiến về nhận xét này.

TC: Sự giải thích của tôi về màu sắc không mâu thuẫn với Goeth xét về phân tâm học và tâm lý học.

Trong y học, người ta đã áp dụng sự tác động của màu sắc và ánh sáng để làm chuyển đổi tinh thần của bệnh nhân tùy theo các phác đồ điều trị áp dụng cho từng bệnh nhân rối loạn về tâm lý. Tuy nhiên, trong bài viết về “Cuộc Chơi Màu Sắc,” tôi muốn nhấn mạnh đến tính cách nghệ thuật của mỗi nghệ sĩ. Không biết một cách chắc chắn, mỗi nghệ sĩ là một loại "bệnh nhân tinh thần" hay không(?) Nhưng màu sắc đối với họ luôn thể hiện một bản sắc rất rõ ngoài cá tính được thể hiện qua nét vẽ.

Chúng ta thử làm một khảo sát về màu trên tranh của Picasso, Chagall, Soulages thì mỗi người được nhận ra sự khác biệt trong màu sắc. Sự khác biệt đó cho thấy cả sự khác biệt giữa mỗi người nghệ sĩ về mức độ cuồng nhiệt hay dữ dội. Sự tương phản mãnh liệt trong màu nóng với vàng, đỏ bên cạnh những xanh, đen trong tranh Picasso hoàn toàn không có trong game xanh êm đềm, mộng mị trong tranh của Marc Chagall và cũng hoàn toàn khác với Soulages chỉ toàn im-lặng-đen trong các tranh abstract của mình.

Tất nhiên, để tạo ra một ID cho mình, người nghệ sĩ không chỉ có mỗi con đường dùng màu sắc. Bernard Buffet chẳng hạn, ông không dùng màu mà dùng nét vẽ đen sắc bén, đan cắt vào nhau trên những hình thể đầy ám ảnh chết chóc, bi thảm và còn những cách khác nữa, cốt để không lẫn lộn, để tránh cái gọi là "déjà-vu".

trinhcung_02-content

Woman in Hat and Fur Collar. Pablo Picasso. Year, 1937. Sơn dầu trên Canvas. 61 cm × 50 cm

ĐPP: Viết về Nghệ thuật Đương Đại Việt Nam anh dành khá nhiều chương, điều này nói lên sự quan tâm của tác giả. Nhưng, tôi thấy anh đề cập nhiều về Nghệ thuật đa phương tiện (Multimedia Art) nói cách khác là Nghệ thuật ngoài giá vẽ mà không chú trọng đến nghệ thuật trên giá vẽ. Tại sao?

TC: Thuật ngữ Nghệ Thuật Ngoài Giá Vẽ được các nhà viết lịch sử mỹ thuật và các nghệ sĩ tiền phong của mỹ thuật dùng để phân biệt với Nghệ Thuật Giá Vẽ, thứ nghệ thuật được sản sinh trên giá vẽ có từ thời Phục Hưng tới ngày nay. Điều này nó xác định tính tự do tuyệt đối trong quá trình thực hành sáng tạo, không lệ thuộc các công cụ vẽ truyền thống mà các thế hệ nghệ sĩ hiện đại trở về trước thường dùng.

Nói một cách đơn giản hơn là các nghệ sĩ đương đại hiện nay đã có nhiều sự chọn lựa rất khác nhau cách thể hiện tác phẩm của mình từ chất liệu đến hình thức mà có chỗ gọi là Nghệ Thuật Đa Phương Tiện, Nghệ Thuật Thị Giác...Vì thế mà tôi không phải nói tới Nghệ Thuật Giá Vẽ.

ĐPP: Cũng trong ý này, theo anh, những Performance Art (Nghệ thuật trình diễn, Visual Art (Nghệ thuật thị giác), Installation (sắp đặt), Sound Installation (Sắp đặt âm thanh), Land Art (Nghệ thuật địa hình), chúng có thể gọi là trường phái hay chỉ là phong trào? Có phải đây là những biểu hiện cho sự bế tắc trong ngành Mỹ thuật thế giới rồi lây lan sang Việt Nam?

TC: Thuật ngữ Trường Phái (Ecole/trend) gần như đã không còn tồn tại kể từ khi Nghệ Thuật Đương Đại phát triển rộng khắp thế giới. Người ta không gọi Sắp Đặt, Video Art, Performance... là trường phái này hay trường phái kia bởi vì tất cả các hình thức ấy đều bắt nguồn từ Nghệ Thuật Ý Niệm do Marcel Duchamp khởi xướng từ thập niên đầu của thế kỷ 20. Đây là một thứ nghệ thuật mang tính cá nhân, vừa độc lập về tư duy vừa phi chủ nghĩa, phi đẳng cấp nên không hình thành trường phái như nghệ thuật hiện đại. Và nó có phải là hiện thân sự bế tắc sáng tạo của mỹ thuật phương Tây? Để trả lời câu hỏi này, tôi có lần đề xuất với một tờ báo web văn học làm một chuyên đề về "Lật Đổ và Khai Sinh- Quá Trình Tiếp Diễn trong Thế Giới Sáng Tạo" để làm rõ tính tất yếu sự cần thiết của đổi mới cũng như nội hàm của nó đã chất chứa sẵn những giới hạn của sự tồn tại mà bất cứ một chủ nghĩa nào cũng phải kết thúc vai trò của mình khi nó không còn hợp thời nữa. Vậy thì, Nghệ Thuật Đương Đại có là một tiền lệ hay không? Nếu những nhà sáng lập ra nó còn sống thì cái lý tưởng đưa nghệ thuật ra khỏi những tòa nhà Bảo Tàng, đưa nghệ thuật đến với đại chúng chứ không phải chỉ dành cho giới quí tộc và giới tiểu tư sản, thì chắc sẽ thấy các hậu duệ của mình ngày nay, phần lớn, đang bị đồng tiền tư bản (những nước tư bản) và quyền lực chính trị (những nước độc tài) xỏ mũi một các thảm hại.

Việt Nam và các nước ở Á Phi luôn là nơi nhập khẩu những món hàng mới lạ mà người Phương Tây sản xuất, tất nhiên bao giờ cũng muộn, nhưng cái bế tắc của nơi kia lại là cái mở ra cho bên này. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ là biết tiếp nhận điều gì có ich và từ chối cái không cần thiết.

ĐPP: “Vì sao Việt Nam chưa có họa sĩ lớn?” Đây là một câu hỏi lớn, nó mở rộng tầm nhìn không riêng gì của nền hội họa, mà cho tất cả đến các bộ môn về nghệ thuật của VN. Từ đó chúng ra nhìn ra đựợc những nguyên nhân nội tại và ngoại biên, trực tiếp và gián tiếp. Tuy nhiên trong MTVN anh đề cập đến chỉ qua hình thức một lá thư ngỏ gửi cho Tiến Sĩ Nora A. Taylor cho nên nó còn có những hạn chế. Nhân đây anh có thể trình bày thêm về vấn đề này?

TC: Thực ra, đây là một phản hồi có tính "trả đũa" những gì một trí thức trẻ Hoa Kỳ đã mắc sai lầm khi đã từng chọn và ca tụng hôi họa của lớp họa sĩ trẻ, Hà Nội, thế hệ vừa trưởng thành sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc như là những gì tiêu biểu cho hội họa cả nước, để rồi 10 năm sau trở lại chốn cũ thì cô ấy đã đâm ra thất vọng về những tài năng ấy, nền hội họa đầy bản sắc dân tộc ấy, đã trở thành "những món hàng sản xuất hàng loạt.” Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đây là một tình trạng chung mà người phương Tây, nhất là người Mỹ, đều dành tất cả mọi sự ưu ái lẫn ngưỡng mộ cho Hà Nội như một hành động ăn năn, bù đắp cho những gì mà họ cảm thấy có lỗi trong cuộc chiến tàn khốc ấy không chỉ riêng có hôi họa và Nora cũng không là ngoại lệ.

Tuy nhiên, sự thay đổi cái nhìn của Nora về mỹ thuật Hà Nội như thế cũng là một một cách rất fairplay của người trí thức dù cô ấy vẫn chưa nhận ra dấu ấn tốt đẹp, độc đáo mà nền hội họa hiện đại Sài Gòn đã tạo ra trong thời chiến tranh Việt Nam. Dù gì thì cái vấn đề Nora đặt ra cho nền hôi họa Việt Nam về cái gọi là họa sĩ lớn cũng không phải là quá đáng bởi đối với các trung tâm nghệ thuật lớn của thế giới thì Việt Nam chỉ bằng cái móng tay của họ, mỹ thuật Việt Nam là đứa con sinh sau đẻ muộn, không nên tự cao với ai kể cả với những nước trong khu vực. Người Thái Lan, người Indonesia, người Phi Luật Tân...mỗi nước đều có trường mỹ thuật không sau Việt Nam, họ được các nước phương Tây từng đô hộ như Anh, Ý, Hòa Lan, Bồ Đào Nha tổ chức và đào tạo không thua gì người Pháp giúp Việt Nam thời Pháp thuộc. Vì thiếu thông tin nên người Việt từ lâu vẫn coi họa sĩ Việt Nam mình là hơn hẳn, thậm chí còn hơn cả người Trung Hoa! Cho đến thời điểm hôm nay, tác phẩm của họa sĩ bậc thầy Việt Nam, giá tranh bán được qua các cuộc đấu giá quốc tế cũng chỉ mới có một vài người leo lên giá từ 300.000 đến 400.000 đô-la, trong khi đó tranh của các danh họa Trung Quốc (thời nay) và của danh họa Indonesia đã được bán ra với giá cả triệu đô-la từ cả thập niên trước.

Đó là một thực tế chúng ta cần phải đối diện và suy gẫm. Người Việt không phải thiếu tài năng, tài năng là hạt giống, tốt thôi là chưa đủ hơn ai. Muốn có một sự nảy nở sung mãn còn phải cần đến đất tốt, phân, nước, thời tiết và một chế độ nuôi trồng tuyệt vời. Mỹ thuật Việt Nam từ lâu nay thiếu đi những cái cần và đủ như thế thì chỉ có họa sĩ lớn "cây nhà lá vườn" như thế.

ĐPP: Trong “Lối ra nào cho khủng hoảng sáng tạo mỹ thuật Việt Nam” anh đưa ra một số phương hướng để giải quyết, tuy nhiên những giải pháp đó đều nhắm vào giới quản lý hệ thống. Anh có nghĩ rằng để tránh đựợc khủng hoảng trong sáng tạo, nguyên nhân quan trọng nhất là từ chính người nghệ sĩ không? Có phải sáng tạo là “Giải trừ kiến thức” như Jiddu Krishnamurti đã viết không?

TC: Câu hỏi anh đặt ra rất quan trọng. Đúng, phần lớn các cuộc khủng hoảng sáng tạo đều do từ phía người nghệ sĩ và người giải quyết cho vấn đề này cũng chính là họ, không ai làm thay họ được kể cả các triết gia và nhà phê bình. Tuy nhiên, điều này chỉ xảy ra ở các nước tự do, dân chủ.

Ở Việt Nam ngày nay, mọi thứ đều bị quản lý. Vì vậy, sự phát triển hay tụt hậu của mỗi ngành nghề trong xã hội đều thuộc về đường lối của nhà quản lý. Người nghệ sĩ được làm điều mình mơ mộng chỉ thuộc về những xã hội tự do dân chủ , ngược lại nếu bị kềm kẹp, bị tước đoạt tự do thì nó sẽ dễ bị tịt ngòi, bó tay chịu trận. Vậy có phải lỗi tại người nghệ sĩ trong một quốc gia chỉ có một lề hay không? Hãy vào sống cuộc đời nghệ sĩ trong xã hội ấy mới biết mình có thể làm cách nào giải cứu được cuộc bế tắc sáng tạo hiện nay cho mỹ thuật Việt Nam.

Và Ngài Krishnamurti quí trọng của chúng ta, khi suy nghĩ như thế chẳng qua là được sống trong bối cảnh xã hội không bị chính trị quản lý quyền tự do tư tưởng và cánh cửa nhà tù không luôn mở rộng để cất giữ vĩnh viễn giấc mơ tự do sáng tạo để Ngài được lật ngược lật xuôi vấn đề sáng tạo là "giải trừ kiến thức" hay "kiến thức bất khả giải trừ.”

ĐPP: Qua câu trả lời trên, anh đã biểu tỏ sự quyết liệt của anh đối với một xã hội không có tự do, dân chủ. Vậy quan điểm này đã ảnh hưởng như thế nào lên sự nghiệp sáng tác (hội họa) của anh? Nhân đây anh có thể nói thêm về sự quan hệ giữa mỹ thuật (hội họa) và chính trị?

TC: Như anh biết đó, cách sống và làm nghệ thuật của tôi không phù hợp với xã hội mới, một xã hội làm gì cũng phải được phép, kể cả ý nghĩ. Tôi biết giới hạn của mình nên chỉ mong làm sao giữ được nhân cách tối thiểu của một con người độc lập và giữ gìn con đường sáng tác không phản bội lại những gì tôi yêu quí từ khi bước chân vào mỹ thuật. Vì từ khước mọi sự xem xét tác phẩm nghệ thuật của nhà quản lý, tôi chấp nhận đứng bên lề, chịu sự lẻ loi, như một cái bóng lạc lõng trong hoàn cảnh nhiều thập niên qua trên quê hương của mình. Tôi đã thực sự là một kẻ "xa lạ.”

ĐPP: Trong lần tôi phỏng vấn nhà văn Thảo Trường, ông có phát biểu như thế này: “Tôi thấy nhiều tác giả nữ trẻ có những sáng tác rất độc đáo nên tôi kỳ vọng nhiều ở họ. Nhận xét chung thế thôi, không nên nói đến tên những tác giả ấy. Nên tôn trọng sự cô đơn của họ. Thế nào cũng xuất hiện tác phẩm quan trọng từ phía các tác giả nữ. Ông tin tôi đi!”

 Phần anh trong chương “Nghệ thuật đương đại, nữ nghệ sĩ - người chủ mới?” anh cũng có ý kiến giống Thảo Trường. Tại sao trong văn học và mỹ thuật đương đại vẫn lập lại vấn đề giới tính nam nữ trong khi một giới tính thứ 3 - đồng tính - đã và đang hình thành khá mạnh mẽ trong cộng đồng thế giới?

TC: Tôi đã thử đặt vấn đề “Nghệ Thuật Đương Đại, Phụ nữ, người chủ mới?" vì ngày nay, sự xuất hiện của các nghệ sĩ nữ trong các hoạt động sáng tạo nghệ thuật rất đông đảo và gây sửng sốt bởi sự dấn thân táo bạo của họ thông qua các tác phẩm "nóng" mà thế kỷ trước chỉ có mỗi Kahlo và O'Keefe. Hiện tượng này mang tính phổ biến trên toàn thế giới, trong đó có cả Việt Nam. Rõ ràng ngày nay, thời đại của nữ quyền đã thực sự xác lập sau nhiều thập niên đấu tranh của phụ nữ. Đây không phải là vấn đề lập lại giới tính mà cốt đưa ra nhận định về mối tương quan giới đã thay đổi trong lãnh vực thực hành nghệ thuật của hôm nay dựa trên thực tế đã được thế giới thống kê. Và nó không liên quan gì đến giới tính thứ 3 vì lẽ nghệ thuật mang tâm tình của những nghệ sĩ mang giòng máu đồng tính đã có từ lâu, Johann Friederick Overbeck, một danh họa người Đức, thời Tân Cổ Điển đã vẽ bức Italia and Germania, chẳng phải tranh nói về sự đồng tính đã có từ xa xưa?! Và Việt Nam, hiện nay, Lý Trần Quỳnh Giang đã là một nữ họa sĩ có tranh về giới thứ 3 mãnh liệt và độc đáo nhất trong lịch sử hội họa nước nhà.

trinhcung_03-content

Gabrielle d’Estrees, One of Her Sisters (1595) sơn dầu trên gỗ

 

trinhcung_04-content

 Tranh của Johann Friederick Overbeck (Italia and Germania) 1828. Sơn dầu trên canvas 96 x 106.4cm


trinhcung_05-content

Tranh sơn dầu của Lý Trần Quỳnh Giang


trinhcung_06-content

 Tranh khắc của Lý Trần Quỳnh Giang.

ĐPP: Hội họa Âu Mỹ ăn trùm cả thế giới, điều đó ai cũng biết. Do đó có sự hướng ngoại của họa sĩ ở các châu lục còn lại, dĩ nhiên sự hướng ngoại này nó có cả tốt và xấu, tiêu cực cũng như tích cực. Theo anh, anh có muốn có một lực đối trọng hay là ủng hộ xu thế toàn cầu hóa trong lĩnh vực này?

TC: Như tôi đã từng đề cập đến điểm xuất phát và thời tính của sự chào đời của những nền mỹ thuật ở phần lãnh thổ xấu số còn lại của địa cầu thì cái vốn sở học nghèo nàn của nó cộng với xiềng xích bọc lớp nhung "bản sắc văn hóa dân tộc" thì lấy gì mà đối trọng. Cái vốn lớn nhất của họ là sự đau khổ nhưng thế giới ngày nay họ quá mệt mỏi về những lời than thở, kêu cứu, nên các loại đề tài này không còn là món hàng thời thượng.

Mặc khác, những gì độc đáo nhất của những dân tộc có bản sắc mạnh, độc đáo cũng đã bị "đánh cắp" từ lâu bởi những thiên tài Phương Tây, giờ đây vì nhiều lý do dẫn những dân tộc này trở thành những quốc gia tụt hậu, chỉ còn lại cái hình hài văn hóa thủa nào đã "hóa thạch" chỉ còn có ích được cho du lịch và những nhà khảo cổ học. Và những người theo chủ nghĩa dân tộc, nhất là trí thức và văn nghệ sĩ, làm sao để thích nghi với thời đại toàn cầu hóa? Vấn đề này đang được đem ra thảo luận trên nhiều diễn đàn tại những nước đang mấp mé bên bờ vực bị thôn tính êm ái bằng con đường kinh tế của chủ nghĩa tư bản nhưng hình như đều không đưa ra được giải pháp chống lũ hữu hiệu nào, ngay cả tại những quốc gia có một bề dầy văn hóa và văn minh thuộc hàng độc đáo trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập,...cũng đang dần dần bị ngọn sóng toàn cầu hóa nhận chìm nếu không chịu thỏa hiệp với nó để trở thành cổ đông lớn trong cuộc đại xâm chiếm này của chủ nghĩa tư bản.

Ủng hộ hay đối trọng lại nó ư? Cả một dân tộc còn không làm được gì thì một cá nhân quá nhỏ bé như tôi và bạn, chỉ có thể là những chọn lựa có tính cách cá nhân. Tuy nhiên, để được lạm bàn thì tôi cho rằng nhân cuộc toàn cầu hóa này, Việt Nam nên chụp lấy cơ hội để thay máu một dân tộc nhỏ, yếu kém kinh tế, suy đồi giáo dục, bị trì trệ quá lâu trong sự lạc hậu và mất dân chủ để ít ra những thế hệ người Việt sau này hạnh phúc hơn, được làm người với đầy đủ tiêu chuẩn để rồi chính họ sẽ làm ra một bản sắc dân tộc Việt Nam mới đáng hãnh diện hơn nhiều so với hiện giờ. Việc hiện đại hóa bản sắc dân tộc là điều đáng quan tâm, dựa trên căn bản rằng bản sắc dân tộc không phải là một thứ bất di bất dịch mà luôn luôn thích nghi, biến thiên, hay hòa nhập theo những vận động xã hội, văn hóa, lịch sử, vv… Trong cách nghĩ này thì bản sắc dân tộc cũng là một khái niệm mở.

ĐPP: Nếu không cho là tôi chủ quan khi coi trọng cuốn "Mỹ Thuật Việt Nam - Những Vấn Đề Xoay Quanh" là cuốn sách viết về Mỹ Thuật Việt Nam với những phân tích, nhận định và gửi gắm chính kiến của riêng anh mang phẩm chất chuyên môn sâu và thẳng thắn mà trước đây chưa có ai ở Việt Nam làm, dù tính từ khi Trường Mỹ Thuật Đông Dương - Hà Nội ra đời năm 1925, đến nay lịch sử mỹ thuật Việt Nam có gần 100 năm tuổi. Vậy, tại sao Việt Nam chúng ta lại thiếu vắng người viết về mỹ thuật và cũng hình như Việt Nam không có nền phê bình mỹ thuật, một thế lực có thể làm chuyển động và phát triển ý thức sáng tạo của giới nghệ sĩ như tại các quốc gia hùng mạnh Phương Tây?

TC: Cám ơn anh đã có một đánh giá tốt cho cuốn sách này, đáng lẽ ra, tôi không nên viết lách về mỹ thuật, là họa sĩ thì chỉ nên vẽ thôi. Nhưng như anh thấy đó, hoàn cảnh nó đưa đẩy tôi thấy phải vượt qua giới hạn, nên hay không nên, vấn đề nằm ở chỗ những trải nghiệm của cả một đời người từ học hỏi đến thực hành, từ quan sát và cập nhật những bước tiến dài của nghệ thuật thế giới, đã chứng kiến từ những lúc thăng hoa đến giai đoạn suy thoái đáng suy gẫm của mỹ thuật Việt Nam, tôi chọn nói ra hay im lặng?

Và câu hỏi của anh về nền phê bình mỹ thuật của Việt Nam có hay không đã được cuốn sách của tôi gián tiếp trả lời là không. Đơn giản là nếu có và tốt thì tôi đã không phải viết, như trước tôi, họa sĩ Thái Tuấn cũng không phải viết. Và hình như, không biết từ bao đời, người Việt không hề thích phê bình!

Lịch sử Việt Nam luôn luôn dạy chúng ta những giá trị văn hóa, những thành tích lẫy lừng về lập quốc và giữ nước của cha ông,... nhưng hình như người Việt chưa có ai là tác giả của những học thuyết tôn giáo, tư tưởng, chính trị và những phát minh khoa học quan trọng cũng như trong chế tạo công nghiệp. Tư tưởng thì không theo Khổng cũng theo Mao, không theo Décartes thì cũng theo Heidegger, Không theo Karl Marx thì cũng theo Lenin. Tôn giáo thì không theo Phật thì cũng theo Chúa, không Phật không Chúa thì pha trộn cho có vẻ có cái gì đó là Việt Nam. Công nghệ thì sau bốn ngàn năm văn hiến vẫn chưa làm ra được một cái xe gắn máy đừng nói chi phi cơ hay tên lửa. Người Việt bắt đầu lịch sử của mình là đi theo người khác, nước khác cho đến hôm nay vẫn là một dân tộc "đi theo". Tài năng mới nhô lên một ít thì bị trù dập ngay, cái tôn chỉ tai họa "quân xử thần tử, thần bất tử bất trung" vẫn tiếp tục tồn tại với dân Việt dưới nhiều hình thức, dù nhân loại đã bước vào thế kỷ 21. Lại thêm cái bệnh hoang tưởng, tài năng mới lú đã vội khoác lác ngang tầm thế giới, đòi phải được trao giải Nobel văn chương. Không thấy mình ít học, không thấy mình lạc hậu, không thấy mình chẳng bằng ai mà tiếp thu phê bình để sửa chữa thì đừng hòng vươn lên! Hình như người Việt mình mắc bệnh kinh niên là cứ đè cổ được nhau là sướng rồi!

Bao giờ người Việt thôi cái hoang tưởng "Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn..." (trong ca khúc “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” của Nguyễn Đức Quang) thì mới khá lên được!

ĐPP: Những chương cuối của MTVN anh cho đăng lại những bài tham luận, phỏng vấn anh về những vấn đề như: về Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam (trước 1975), vấn đề chung quanh giá vẽ và Hội họa hôm nay của người Việt trong và ngoài nước. Những bài này tưởng như là phần phụ đính cho cuốn sách, nhưng thật ra đây là những phát biểu đầy tính thẳng thắn, quyết liệt có khi cũng rất cay đắng, đẩy tinh thần cuốn sách hơn lên một bậc nữa. Tất cả đều nói lên sự trăn trở, hoài bão cho nền mỹ thuật Việt Nam của Họa sĩ Trịnh Cung. Trước khi chào tạm biệt, anh còn có gì nói thêm về cuốn MTVN?

TC: Cám ơn anh đã nhận ra mục đích của các bài trong cuốn sách, thật ra thì nó còn khá hạn chế so với ước muốn của tôi. Tôi hy vọng sẽ sớm in thêm cuốn thứ 2 với gồm toàn những tiểu luận, bàn sâu hơn những vấn đề thuộc về sáng tạo nghệ thuật.

Nhân đây, tôi cũng có lời cảm ơn hoặc xin lỗi về những tài liệu được xử dụng trong sách và những bài

viết bàn đến chuyên môn có ít nhiều đụng chạm đến các bạn đồng nghiệp. Tôi thực lòng không hề muốn xúc phạm đến bất cứ ai và cũng mong bạn đọc chú ý đến thời điểm viết bài của tác giả để thấy các vấn đề được đề cập đến đều có tính thời điểm và bối cảnh xảy ra của nó để thấy những sự việc được đề cập luôn có giới hạn và được cân nhắc nghiêm túc. Cuộc sống nghệ thuật luôn luôn chuyển động, luôn luôn đi về phía trước nên có những tư tưởng đúng của thời này nhưng sẽ là sai lầm của mai sau.

Xin cám ơn.

ĐPP: Cảm ơn Hoạ sĩ Trịnh Cung.

Tháng 1/2014

____________

Chú thích:

(*)Karl Gerstner (Sinh 1930) hoạ sĩ, nhà văn và nhà thiết kế đồ hoạ của Thuỵ Sĩ. Từ những năm 1950 ông là một trong những đại biểu toàn diện của nghệ thuật kiến tạo (constructive art). Tác phẩm của ông trải từ dạng tranh khắc nổi cấu trúc màu sắc cho đến dạng điêu khắc chuyển động.

trinhcung_07-content

Đặng Phú Phong và Họa Sĩ Trịnh Cung

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
29 Tháng Năm 20181:45 CH(Xem: 111)
Mai Trung Thứ, sau này chỉ lấy ngắn gọn Mai Thứ cùng với Lê Phổ, Lê Thị Lựu, Vũ Cao Đàm là những họa sĩ Việt Nam sống ở Pháp sớm nhất, từ thập niên 1930.
21 Tháng Năm 20189:52 SA(Xem: 205)
Nếu như "mỗi thi sĩ đích thực là một độc đáo được sinh ra để thể hiện hết những ưu tư về định mệnh của mình", thì Lưu Quang Vũ chính là hiện thân của sự độc đáo đó.
12 Tháng Năm 20189:41 SA(Xem: 171)
Với nhiều bạn bè, dù là thân thuộc, Lê Châu vẫn là niềm bí ẩn lớn lao giữa cơn gió bụi của thời đại.
18 Tháng Tư 20183:25 CH(Xem: 2759)
Tình yêu thám hiểm những bí mật của con người. Không ở đâu người ta có thể hạnh phúc hơn hay tuyệt vọng hơn, hèn yếu hơn hay cao cả hơn, như trong tình yêu.
17 Tháng Tư 201812:19 CH(Xem: 570)
Thấm thoát tính tới nay - Năm 2005 – đã vừa một nửa thế kỷ qua rồi. Anh em Sáng Tạo chúng tôi nay chỉ còn: Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền và họa sĩ Duy Thanh.
14 Tháng Tư 201810:10 SA(Xem: 317)
Khu lều bạt Thăng Long, nơi tạm trú sinh viên Hà Nội di cư nằm ngay trung tâm thành phố trên đất Khám Lớn Sài Gòn cũ tháo dẹp.
09 Tháng Tư 20189:28 SA(Xem: 292)
Qua tập bút kí này các bạn sẽ thưởng thức những thông tin để đời mà các nhân vật và sự kiện đã đóng góp qua tài chuyển hóa của tác giả Đinh Quang Anh Thái.
02 Tháng Tư 201812:50 CH(Xem: 371)
Huyền Chi là ai? Ít thông tin trên mạng cho biết cô là một cô gái phụ mẹ bán vải ở chợ Bến Thành. Cơ duyên nào khiến bài thơ của cô được nhạc sĩ danh tiếng Phạm Duy phổ nhạc?
28 Tháng Ba 20189:57 SA(Xem: 198)
Cung Trầm Tưởng là một trong những tên tuổi lớn trên văn đàn thi ca Việt Nam.
13 Tháng Ba 20189:23 SA(Xem: 191)
Đọc thơ Hồ Minh Tâm giống như lạc vào một thế giới mà lí trí trở nên mù lòa, vì vậy, muốn cảm hãy để lí trí tạm thời thoái lui.
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 35)
Tôi rất thích tính chân thật, không làm dáng của họ Nguyễn, khi ông mở đầu phần dẫn nhập cho những bài thơ của mình
(Xem: 141)
Tuyển tập này, cũng nên được nhìn như một ghi nhận tình bạn lấp lánh, thuở họ còn đủ ba người.
(Xem: 202)
Khởi thủy khi tìm về nhạc Việt, Elvis Phương chỉ biết một bài duy nhất là ca khúc”Mộng dưới hoa”, thơ Đinh Hùng, nhạc Phạm Đình Chương!!!
(Xem: 214)
Trong sinh hoạt âm nhạc tại miền nam VN, 20 năm (1954-1975) rất nhiều người biết tên tuổi nhạc sĩ Ngọc Chánh.
(Xem: 11772)
Đứng giữa gian hàng, trên một bục gỗ cao phủ khăn trắng nuốt, người thiếu nữ trông nổi bật hẳn lên với trang phục tuy rực rỡ sắc mầ
(Xem: 1025)
Theo thiển ý cá nhân tôi, thơ Du Tử Lê khá "hiền!"
(Xem: 5823)
“Ngay sau khi gặp ông, tôi đã bước sang “chặng đường ngỡ ngàng.” Không ngỡ ngàng sao được khi mà đứng bên ông
(Xem: 1372)
DU TỬ LÊ cũng là một nhân vật đặc biệt. Nhỏ hơn họ Trịnh vài tuổi. Gốc gác Phủ Lý, Hà Nam. Sống ở Hà Nội, trước khi theo gia đình di cư vào Nam.
(Xem: 9934)
nhà văn, nhà thơ Du Tử Lê là một trong những thi sỹ có khá nhiều bài thơ được phổ nhạc kể từ những năm trước 1975 đến nay
(Xem: 134)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 287)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 20039)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 14922)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 12440)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 15622)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 13738)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 12211)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 10233)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 9516)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 9610)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 8834)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 8460)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 9571)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 14858)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 21126)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 27027)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 18494)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 19608)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 23871)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 21535)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 17990)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
1,837,117