TRỊNH CUNG – Hội họa Việt Nam thời chiến tranh và hậu quả

13 Tháng Năm 201412:00 SA(Xem: 4082)
TRỊNH CUNG – Hội họa Việt Nam thời chiến tranh và hậu quả


(Bản tóm lược tham luận tại 
Hội thảo Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Singapore, 5-2008)

  
I. Hội họa Việt Nam thời chiến tranh 1954-1975

 1. Miền Bắc từ 1954-1975

Mặt trận Việt minh sau khi tiến hành thành công Cách mạng Mùa thu (1945) đã cho ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tiến hành chiến tranh chống thực dân Pháp cho đến chiến thắng Điện Biên Phủ 1954. Sau sự kiện lịch sử này, đất nước chia đôi: miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra thuộc chế độ Cộng sản, miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào theo chế độ Cộng hoà. Nền mỹ thuật non trẻ của Việt Nam cũng bị chia đôi. Những lớp họa sĩ tài năng đầu tiên do trường Mỹ thuật Đông dương đào tạo từ năm 1925 đến 1945 chia ra làm ba nhóm: nhóm chiếm số đông ở lại miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa như Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đỗ Cung, Lương Xuân Nhị, Hoàng Tích Chù, Nguyễn Sĩ Ngọc, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên…; một số ít ra nước ngoài như Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Vũ Lăng, Lê Thị Lựu, Mai Trung Thứ…;và phần còn lại di cư vào Nam hoặc từ nước ngoài trở về miền Nam như Nguyễn Gia Trí, Lê Văn Đệ, Tạ Tỵ, Lưu Đình Khải, Lê Yên, Tôn Thất Đào, Nguyễn Văn Anh, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Siên, Trần Dụ Hồng…

Dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa, mỹ thuật miền Bắc không được phát triển theo xu hướng ảnh hưởng mỹ thuật Tây Âu như những năm trước 1945. Đường lối Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa được áp dụng triệt để nhằm phục vụ công cuộc xây dựng một miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa và cổ vũ cho cuộc chiến tranh lật đổ chế độ Sài Gòn do Hoa Kỳ hậu thuẫn. Trong suốt thời gian từ 1954 đến 1975, mỹ thuật miền Bắc chỉ bao gồm hai loại chính: tranh cổ động; và tranh ngợi ca Đảng, lãnh tụ, cổ xúy đấu tranh giai cấp. Khuynh hướng nghệ thuật này chịu ảnh hưởng sâu đậm mỹ thuật các nước cộng sản đàn anh là Liên Xô và Trung Quốc. Tất cả nghệ sĩ đều chịu sự quản lý cực kỳ chặt chẽ của Đảng, vì thế thông tin về mỹ thuật phương Tây đương thời gần như không xuất hiện, dù dưới bất cứ hình thức nào. Thái Bá Vân (đã mất) – nhà nghiên cứu và phê bình mỹ thuật nổi tiếng một thời của Hà Nội – từng bị một cán bộ trưởng đoàn du học sinh tịch thu cuốn sách về danh họa Picasso khi ông đang trên chuyến tàu hỏa từ Tiệp Khắc về Việt Nam. Miền Bắc ngăn chặn triệt để tất cả thông tin từ bên ngoài nhằm giữ cho nền mỹ thuật của họ đi đúng đường lối của Đảng.

Sự trừng phạt nặng nề cho những ai dính đến vụ “Nhân văn Giai phẩm” năm 1956 đã bóp chết tất cả những ý tưởng muốn bày tỏ yêu cầu tự do sáng tạo. Những ai còn giữ tâm hồn nghệ sĩ và tình yêu nghệ thuật đích thực đều chịu một cuộc sống ngoài lề. Họa sĩ Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm và một số văn nghệ sĩ ít ỏi khác đã phải sống như những cái bóng thừa.


2. Miền Nam từ 1954 đến 1975

Sau hiệp định Genève 1954, miền Nam theo chế độ chính trị tam quyền: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Dân chủ và tự do được tôn trọng, vì thế các hoạt động văn hóa nghệ thuật phát triển thuận lợi. Báo chí, nhà xuất bản, phòng trưng bày tranh, các salon văn nghệ, điện ảnh, kịch nghệ được tự do hoạt động và được nhà nước khuyến khích bằng những giải thưởng giá trị. Từ 1954 đến 1963 (nền Đệ nhất Cộng hòa do tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo) là giai đoạn huy hoàng của văn nghệ miền Nam. Chỉ trong chín năm, từ 1954 đến 1963, riêng lãnh vực mỹ thuật, miền Nam đã có hai trường Cao đẳng Mỹ thuật hoàn chỉnh (một cho Sài Gòn và các tỉnh lân cận, một cho Huế và khu vực miền Trung), một giải thưởng mỹ thuật cấp quốc gia hằng năm mang tên Hội họa Mùa xuân, và một triển lãm Mỹ thuật Quốc tế có tầm cỡ (1962). Ngoài ra, các họa sĩ miền Nam còn có nhiều cơ hội tham gia những triển lãm quốc tế lớn như các Biennale ở Paris, Venise, São Paulo, Tunis, và được tự do lập hội. Sài Gòn trước khi có Hội Họa sĩ Trẻ năm 1966 đã có Nghiệp đoàn Hội họa, một hội nghề nghiệp dành cho tất cả những ai hoạt động trong lãnh vực mỹ thuật. Riêng việc ra đời của Hội Họa sĩ Trẻ là một sự kiện có tính bước ngoặc cho giai đoạn phát triển sâu vào hội họa hiện đại của mỹ thuật miền Nam Việt Nam. Hầu như không có một trường phái hội họa nào đang là trào lưu của thế giới mà không được các họa sĩ trẻ miền Nam cập nhật và thử nghiệm. Và họ đã gặt hái được những thành tựu làm thay đổi chất lượng sáng tạo của mỹ thuật miền Nam: từ đơn điệu, đậm chất họa thuật trường qui sang phóng khoáng, tự chủ, đầy cá tính, và tiên tiến. Năm 1972, Hiệp hội Nghệ sĩ Tạo hình Thế giới đã chọn triển lãm tác phẩm gốc của các danh họa hiện đại như Picasso, Miró, Max Ernst, Soulage tại Sài Gòn. Thành phố này bấy giờ thực sự là trung tâm mỹ thuật hiện đại của Việt Nam.

Sự lớn mạnh của hội họa miền Nam trong hai mươi năm (1954 – 1975) hoàn toàn hợp với qui luật phát triển, vì nó nhận được các điều kiện thuận lợi từ thể chế chính trị dân chủ cho đến nền kinh tế hưng thịnh, và một mặt bằng văn hóa, giáo dục tốt đẹp. Đó cũng là kết quả có tính tác động qua lại giữa ba khuynh hướng nghệ thuật: Những nhà tiền phong (tự học hoặc từ bỏ trường quy), những người bảo thủ (đề cao trường quy), và những họa sĩ trẻ. Cần lưu ý là chính cuộc di cư năm 1954 của các văn nghệ sĩ Hà Nội đã đem một luồng gió mới cho sự phát triển văn hóa ở miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng, trong đó hội họa hiện đại là một phần quan trọng của hiện tượng vừa nêu với sự đóng góp rất lớn của các họa sĩ hoạt động độc lập như Nguyễn Gia Trí, Tạ Tỵ, Văn Đen, Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Vị Ý…

Rất tiếc, chiến tranh đã càng ngày càng leo thang tại miền Nam từ sau ngày tổng thống Diệm bị một số tướng lãnh Sài Gòn lật đổ với sự hậu thuẫn của người Mỹ, khiến cho các hoạt động văn học nghệ thuật bị ảnh hưởng rõ rệt. Giải thưởng Hội họa Mùa xuân bị hủy bỏ; một giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng thống mang xu hướng bảo thủ ra đời.

 

II. Hậu quả chiến tranh đối với mỹ thuật Việt Nam

 1. Đối với miền Bắc

Vì theo đuổi học thuyết Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa, hội họa miền Bắc đã hoàn toàn mất tính đa nguyên sáng tạo, tình cảm cá nhân của người vẽ bị đóng băng, máu nghệ sĩ bị thay thế bằng máu của người lính, màu sắc, bút cọ trở thành súng đạn, lấy đấu tranh làm hướng đi cho tác phẩm.

Sau khi hòa bình lập lại, vì bị cách ly và bị quản lý lâu ngày, họa sĩ miền Bắc có tâm lý xa lạ với thế giới, choáng ngợp với một rừng những sáng tạo mà nhân loại đã đi qua, nên nảy sinh tâm lý hoài nghi cái mới. Suốt ba mươi năm sau khi chiến tranh kết thúc, miền Bắc vẫn tiếp tục “ngăn sông cấm chợ” văn hóa, áp dụng đường lối quản lý nghệ sĩ trên diện rộng. Mỹ thuật Việt Nam đã trở nên tụt hậu, ngay chỉ so sánh với các nước Đông Nam Á hôm nay.

Chính sách văn hóa một chiều đã làm nảy sinh tại miền Bắc hai thực trạng mỹ thuật hiện nay: Mỹ thuật tự do và mỹ thuật thương mại.

Dòng mỹ thuật tự do hình thành mang tính tự phát (không nằm trong chính sách “Đổi Mới”) và đến từ lớp họa sĩ trưởng thành vài năm trước và sau 1975. Nhờ không bị chai sạn như lớp nghệ sĩ đàn anh, các nghệ sĩ lớp sau sớm nhận ra sự cấp bách của việc thay đổi tư duy sáng tạo, phục hồi quyền độc lập suy cảm. Cảm hứng nghệ thuật của họ đến từ hai nguồn: thứ nhất, các bậc thầy hội họa miền Bắc có bản lãnh nghệ sĩ như Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên; thứ hai, thành tựu mỹ thuật hiện đại mà các họa sĩ Sài Gòn tạo ra được dưới thời miền Nam Cộng hòa. Tiêu biểu nhất của dòng mỹ thuật tự do miền Bắc là sự ra đời của nhóm ”Bè Lũ Năm Tên” (Gang of Five) với những Đặng Xuân Hòa, Trần Lương, Hà Trí Hiếu…

Ngược lại, dòng mỹ thuật thương mại là hệ lụy đối với một dân tộc bị chiến tranh và chủ nghĩa Cộng sản lấy đi tất cả. Hòa bình và kinh tế thị trường là cơ hội trả thù đời của những ai biết chớp thời cơ. Lớp họa sĩ này chiếm số đông, làm mọi cách để bán được tranh phục vụ thị hiếu du khách nước ngoài. Đây là nguồn tiêu thụ tranh giả, tranh chép, tranh nhái. Dòng mỹ thuật “thị trường” này đã làm nên nhà cao cửa rộng của nhiều họa sĩ nhưng đồng thời cũng đẩy nền mỹ thuật “chính thống” Việt Nam đi vào chỗ cạn kiệt trống rỗng như hôm nay.


2. Đối Với Miền Nam

Tất cả sinh hoạt mỹ thuật theo cách Sài Gòn đều phải dừng lại, nếu không muôn nói là phải hủy bỏ, kể từ ngày 30-4-1975. Nghệ sĩ phải “tự cải tạo” dưới chế độ mới, chế độ Xã hội Chủ Nghĩa. Nhiều tác phẩm hội họa bị chế độ mới đốt bỏ hoặc đưa vào bộ sưu tập “tội ác Mỹ Ngụy”. Cá nhân tác giả có bốn bức tranh thuộc bộ sưu tập của cố tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh đã bị chính chủ nhân đốt bỏ vì sợ hãi vào những ngày đầu Sài Gòn sụp đổ. “Trên Vùng An Nghỉ”, đoạt giải thưởng Hội họa Mùa xuân năm 1964, là một trong những bức tranh xấu số ấy.

Nhiều họa sĩ trẻ tài năng hàng đầu của hội họa Sài Gòn như Nguyễn Trung, Nguyên Khai… đã từ bỏ dòng tranh lãng mạn hiện đại để vẽ những tranh ca tụng Thanh niên Xung phong, bộ đội, công nhân theo chỉ đạo của chính quyền mới. Ngược lại, hơn phân nửa số họa sĩ tài năng không chấp nhận sự tước đoạt quyền tự do sáng tạo đã không tham gia hoạt động của Hội Mỹ thuật nhà nước, tiếp tục sáng tác độc lập hoặc tìm đuờng vượt thoát đến các nước tự do.

Hậu quả chiến tranh đối với mỹ thuật miền Nam rất nặng nề. Nó không chỉ làm sụp đổ lâu đài nghệ thuật hiện đại đang trên đường hoàn thành, mà còn thủ tiêu ý thức tự do sáng tạo của giới nghệ sĩ miền Nam. Đây là một thành công của chế độ mới. Góp phần vào sự thành công đó có phần hèn nhác của một số nghệ sĩ, họ đã giúp các nhà quản lý đóng nắp quan tài cho sáng tạo nghệ thuật của Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung.

Sài Gòn, 2008
(Nguồn
litviet)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Hai 202110:03 SA(Xem: 97)
Nghệ thuật gốm là một thứ văn hóa dân gian, được hình thành và phát triển từ xa xưa, đã qua nhiều thiên niên kỷ.
07 Tháng Hai 20219:25 SA(Xem: 152)
Thơ là con đường trải dài của thời gian, nối liền quá khứ với hiện tại nhằm hướng đến tương lai, không gián đoạn, trong nỗ lực xác nhận sự đồng nhất của hồn người toàn vẹn.
26 Tháng Giêng 20214:05 CH(Xem: 216)
Đặt Doãn Quốc Sỹ vào thể loại nhà văn nào? Tiền phong? Mở đường? khai phá? Đều không phải.
24 Tháng Giêng 20216:32 CH(Xem: 164)
Giới cầm bút trong nước đòi tự do báo chí và xuất bản, Nhà nước lăm lăm thủ luật 007 như một vũ khí, quyết giữ quyền cắt xén, đục đẽo.
02 Tháng Giêng 20211:32 CH(Xem: 336)
Ông Trần Khánh Triệu là con đẻ của nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), và là con nuôi của nhà văn Khái Hưng (Trần Khánh Giư)
10 Tháng Mười Hai 20203:19 CH(Xem: 381)
Trùng Dương ở ngoài giòng sinh hoạt vẫn là Trùng Dương rực rỡ giữa dòng.
07 Tháng Mười Hai 202011:11 SA(Xem: 319)
Nhân dịp giáo sư, nhà văn Nam Dao về thăm quê, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông về văn chương và cuộc sống
28 Tháng Mười Một 20204:15 CH(Xem: 515)
Tôi gặp bà lúc nhà thơ Huy Cận còn tại thế. Hai lần gặp, bà như cái bóng bên cạnh chồng, lặng lẽ, ít nói, thảng hoặc cười, thì nụ cười của bà, cũng kín đáo, rụt rè.
24 Tháng Mười Một 20202:28 CH(Xem: 397)
Sau nhiều tháng bệnh nặng, sức khoẻ suy nhược dần như ngọn đèn hết dầu,
14 Tháng Mười Một 20201:01 CH(Xem: 493)
Nói đến quán cà phê Hoa Vàng các bạn yêu nhà thơ Phạm Thiên Thư thì ai cũng biết
Du Tử Lê Thơ Toàn Tập/ Trọn bộ 4 tập, trên 2000 trang
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 7697)
Theo Wikipedia-Mở thì, hành trình văn chương, nghiên cứu của nhà văn Bình Nguyên Lộc có thể tạm chia thành bốn thể loại chính
(Xem: 15497)
Bây giờ đã 24 năm kể từ ngày dòng văn học nghệ thuật miền nam Việt Nam bị bức tử.
(Xem: 8037)
Những người theo dõi sinh hoạt âm nhạc ở miền Nam Việt Nam vào giữa thập niên 1960...
(Xem: 3150)
Khi gặp Bùi Xuân Phái, thấy nhau, chúng tôi cùng bùi ngùi. Chúng tôi không nói được với nhau một lời nào!.! chỉ nhìn nhau. Mặc cho những giọt mắt già nua, hiếm hoi, lặng lẽ chảy…
(Xem: 15919)
dutule.com: Chúng tôi đăng lại, bài Du Tử Lê viết về bạn mình, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, như món quà muộn, mừng Sinh Nhật anh.
(Xem: 130)
Khi anh chết/ Không đem anh ra biển/ Mà chôn anh vào/ Huyệt mạch của quê hương
(Xem: 165)
Xin gửi lời cảm ơn muộn màng đến linh hồn Thi Nhân Du Tử Lê về bài học ẩn dụ trong thơ để "môi còn muối mặn"... đến ngàn sau!
(Xem: 285)
Tôi mượn câu thơ kết trong bài 'Đêm, nhớ trăng Sài Gòn' của Du Tử Lê để làm tựa cho bài viết này, bài viết về ông: Du Tử Lê - một nhà thơ có tầm ảnh hưởng lớn đối với văn chương Việt Nam.
(Xem: 775)
Tiểu luận của một học viên cao học (Giáo sư hướng dẫn:Phạm Ngọc Hiền)
(Xem: 12608)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 2200)
Nhưng, khi em về nhà ngày hôm nay, thì bố của em, đã không còn.
(Xem: 2962)
Thơ Du Tử Lê, nhạc: Trần Duy Đức
(Xem: 3442)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 3413)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 23235)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 17603)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 15360)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 18684)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 16550)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 15131)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 12853)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 11848)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 11894)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 11138)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 10835)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 17661)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 24661)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 29555)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 20957)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 22558)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 26017)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 25069)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 21201)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
2,746,558