Ca khúc Trần Dạ Từ, một Bất-Ngờ-Hạnh-Phúc

14 Tháng Năm 201512:00 SA(Xem: 5728)
Ca khúc Trần Dạ Từ, một Bất-Ngờ-Hạnh-Phúc

 

trandatu-_2010_100-content-content

Trong sinh hoạt thi ca 21 năm miền Nam (1954-1975) những đóng góp của nhà thơ Trần Dạ Từ ở lãnh vực này, đã được khẳng định rất sớm.

Trước 1975, thi tập đầu tiên của Trần Dạ Từ là “Tỏ Tình Trong Đêm" xuất bản năm 1966 tại Sài gòn, gồm những bài thơ về chiến tranh. Ngay từ cuối thập niên 60’, nhiều bài trong tập thơ thời chiến này nhanh chóng được chọn dịch sang Anh ngữ, phổ biến và có ảnh hưởng tại Hoa Kỳ (1). Riêng tại Việt Nam, thi tập “Thủa Làm Thơ Yêu Em”, gồm những bài thơ tình đầu của Trần Dạ Từ, xuất bản năm 1970, được trao tặng giải thưởng Văn chương toàn quốc 1971.

Đóng góp lớn lao của tác giả "Tỏ Tình Trong Đêm" ở lãnh vực thi ca, không dừng lại sau biến cố tháng 4-1975. Mà, sau hơn 12 năm tù đày, ông đã tặng hiến cho thi ca Việt Nam trường khúc "Hòn đá làm ra lửa" dài hơn 4000 câu.

Đó cũng là bài thơ đầu tiên, duy nhất tính tới hôm nay, đã khiến một thi sĩ gốc Việt, được mời đọc thơ trong một họp mặt trang trọng tại trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ ngày 28 tháng 4-1992. (2)

Với tôi, vinh dự đó, không chỉ dành riêng cho tác giả mà, còn cho cả dòng thơ miền Nam sau tháng Tư 1975. Nhưng, một Trần dạ Từ nhạc sĩ, một Trần Dạ Từ của những ca khúc gần như chưa từng xuất hiện trong dòng chảy tân nhạc Việt Nam gần một thế kỷ, thì, với tôi lại là một bất-ngờ-hạnh phúc, khác.

Hạnh phúc bất ngờ này, mãi tới thập niên thứ hai của thế kỷ 21, tôi mới có dịp biết, khi nghe CD đầu tiên của nhà thơ do Khánh Ly thực hiện. Tôi không nhớ được mình đã nghe đĩa nhạc đầu tay của thi sĩ Trần Dạ Từ vào lúc nào? Ở đâu? Chỉ biết đó là một hạnh phúc bất ngờ.

Mới đây, khi đọc lại bài viết của Ngọc Lan, tường thuật buổi ra mắt CD “Nụ Cười Trăm Năm” trên nhật báo Người Việt thì, tôi lại được hít thở một lần nữa cái không gian đầm đầm những bất ngờ và hạnh phúc, khác ấy. 

Ngọc Lan viết: 

"Tôi đến với đêm ra mắt CD "Trần Dạ Từ-Khánh Ly và “Nụ Cười Trăm Năm” khi miệng tôi đã có thể nghêu ngao những câu hát “Chiều mưa. Mưa cho ta nhớ. Ta nhớ ôi ngày thơ. Thành phố xưa, hai đứa ta. Nơi hẹn hò, quán nhỏ chiều mưa lũ...” cũng bằng cảm xúc của những miên man, se sắt, và thấm đẫm những nhớ nhung đến nao lòng.

"Nghĩa là, “Nụ Cười Trăm Năm” đủ sức níu tôi nghe, nghe, và lại tiếp tục nghe để càng lúc càng nhận ra những điều thật lạ qua những ca từ, những thanh âm vừa mới vừa quen của nhạc sĩ / thi sĩ Trần Dạ Từ, cùng giọng ca có ma lực của Khánh Ly.

"Khán phòng sang trọng của The Turnip Rose nằm ở thành phố Costa Mesa chiều tối Chủ Nhật qua đầy nghẹt người. Họ là những người thân, những bằng hữu, những khán giả, những người cùng thế hệ, đến để gặp gỡ, để lắng nghe, để chúc mừng Trần Dạ Từ và Khánh Ly lần đầu tiên ra mắt CD.

"Nụ Cười Trăm Năm” CD đầu tiên của nhà thơ, nhạc sĩ và người ca sĩ đã hiện diện trong dòng thơ nhạc Việt Nam suốt nửa thế kỷ qua, đáng để người ta phải nghe và phải có lắm chứ!

"Tôi thuộc loại người thường không nhớ và không hay tìm hiểu về tác giả của những bài thơ, những tình khúc. Tôi chỉ mê nghe, và nhẩn nha theo những giai điệu có thể khiến lòng mình chùng lại, dịu đi, để rồi sau đó lại chùng chình, xốn xang, rưng rức những nỗi niềm, những kỷ niệm buồn vui, của mình, và cả của người.

"Thế nên, tôi đã cảm thấy ngạc nhiên đến bất ngờ thích thú khi nhận ra điều mà có lẽ nhiều người đã nhận ra từ lâu: Tác giả của lời thơ trong các bài hát “Người đi qua đời tôi” (nhạc Phạm Đình Chương), “Thuở làm thơ yêu em” (nhạc Cung Tiến), “Nụ hôn đầu” (nhạc Phạm Duy)... không ai khác hơn chính là Trần Dạ Từ, người nhạc sĩ của "Nụ Cười Trăm Năm." 

Bài viết của Ngọc Lan đã giúp tôi nhớ ra điều chính mình từng phát biểu trong buổi ra mắt CD của người bạn thi sĩ: 

"Nhà thơ Du Tử Lê, trong lời phát biểu của mình tại buổi ra mắt CD “ Nụ Cười Trăm Năm” đã cho rằng, "Vẫn là thành phố, vầng trăng, con sông, và tình yêu, nhưng đất trời nhân gian trong nhạc (cũng như trong thơ Trần Dạ Từ) là một đất trời, một nhân gian khác, không phải là cái mà chúng ta thường thấy trong tình khúc của chúng ta trong quá khứ." 

Cám ơn Ngọc Lan. Nhớ lại, vẫn thấy đúng là một hạnh phúc bất ngờ.

Loạt bài này viết thêm về hạnh phúc ấy, từ một Trần Dạ Từ nhạc sĩ. 

 

1-Trần Dạ Từ, từ thơ tới nhạc 

Từ những năm giữa thập niên 1950s, trong một loạt bài 3 kỳ, đăng trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong thời đó, cố thi sĩ Hồ Đình Phương đã không ngần ngại gọi ông là "Thần đồng thi ca". Theo bài viết, đầu năm 1956, thi sĩ họ Hồ là thành viên hội đồng giám khảo của cuộc thi thơ xuân mừng tết nguyên đán do đài phát thanh Pháp Á tại Sàigòn tổ chức, với giải thưởng trị giá bạc ngàn, khá lớn thời ấy. Sau khi kết quả được công bố, người đến đòi nhận giải nhất thơ chỉ là một cậu bé di cư chưa đầy 16 tuổi, cũng chẳng có giấy tờ. Giám đốc chương trình đài Pháp Á thời ấy là ông Hoàng Cao Tăng phải yêu cầu hội đồng giám khảo mở phiên họp truy xét cậu bé đủ cách để chứng thực. Sau khi đã duyệt xét bản thảo cả trăm bài thơ do cậu bé mang tới và thử thách đủ kiểu, chính thi sĩ Hồ Đình Phương, với tư cách thư ký hội đồng giám khảo, phải ký tên bảo lãnh cho “thần đồng thi ca” có thể nhận tiền thưởng. Cậu bé di cư năm ấy sau này chính là Trần Dạ Từ. Nhận định của họ Hồ được thời gian thực chứng, với những đường bay thi ca tân kỳ qua những thi phẩm sau đó của Trần Dạ Từ. 

Bộ sách hai tập “Thi Ca Việt Nam Hiện Đại của Trần Tuấn Kiệt do Khai Trí xuất bản trong những năm 60’ tại Sàigòn phần về Trần Dạ Từ, viết nguyên văn như sau: 

“Từ lúc phong trào thơ tự do xuất hiện, những người như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyên Sa… viết nhiều bài nói đến một ý thức mới của thi ca thời hậu chiến, thì Trần Dạ Từ âm thầm sáng tác và gây ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng, sinh viên học sinh và giới trí thức hôm nay. Chẳng khác nào một Xuân Diệu của thời tiền chiến, thời nay người ta đua nhau đọc thơ của Trần Dạ Từ. Phải nói là sau thời chiến tranh (Việt Pháp) những tiếng thơ cũ không gây say sưa trong giới đọc thơ nữa. Người duy nhất làm cho chúng ta ngây ngất là Trần Dạ Từ với tiếng thơ của ông.” 

Trần Tuấn Kiệt là người làm thơ. Sách “Thi Ca Việt Nam Hiện Đại” của ông có thể chỉ là những cảm nghĩ chủ quan của một thi sĩ thời tuổi trẻ, như chính Trần Dạ Từ từng có lần nhận xét khi được hỏi. Nhưng tôi từng biết, “Thủa Làm Thơ Yêu Em” của Trần Dạ Từ là một trong dăm ba thi tập được tái bản nhiều lần trước 1975.

Từ đó tới nay, suốt 40 năm, dù đã an cư tại California, Trần Dạ Từ không in lại thơ cũ, cũng không phổ biến thơ mới, cho tới khi Khánh Ly Productions cho ra mắt CD “Nụ Cười Trăm Năm” ngày Chủ Nhật 13 tháng Một năm 2011. 

goi-dau-bay-1-16-final-1

Câu chuyện về CD này được Khánh Ly, người hát, đồng thời cũng là nhà sản xuất, kể lại như sau:

“Mùa hè 1959, ông Mặc Thu, sếp chương trình Tiếng Thơ, Đài Phát Thanh Saigon, trịnh trọng bảo một anh nhóc tì, “Thi sĩ coi cháu Mai (4) tập bài này, điệu ru con miền Bắc.” Tức cười. Năm ấy tôi 14. Thi sĩ bất quá chỉ hơn dăm ba tuổi. Hai anh em cùng dân bà cả đọi, đi xin ngâm thơ để kiếm cơm. Biết nhau từ đó.

“Ba mươi năm sau, tháng Chín 1989, mừng đón Trần Dạ Từ lần đầu tới Mỹ, một số bạn thân gồm các anh Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Trầm Tử Thiêng, chị Kiều Chinh và chúng tôi họp nhau ở Cerritos. Ngồi vòng tròn trên sàn nhà, tới phiên anh Từ, thay vì đọc thơ, anh cầm đàn. “Một mùa hè chết oan bên trời...” Anh hát và nói, chỉ là loại bài hát lầm bầm cho qua trong tù thôi, chẳng để làm gì.

“Từ đó về sau, không thấy anh nhắc gì đến việc ca hát nữa.

“Mùa hè 2009, bỗng nhớ bài hát cũ, tôi đi tìm anh Từ, bảo anh ngó quanh coi còn ai. Các ông ấy chết rồi. Anh cũng sắp chết. Những bài hát 13 năm tù đâu, đưa ngay chúng cho em.

“Nhờ vậy, có Nụ Cười Trăm Năm.”

(Trích sách nhỏ kèm CD Nụ Cười Trăm Năm) 

Dù câu chuyện đã được Khánh Ly kể lại, việc một nhà thơ bỗng dưng thành nhạc sĩ vẫn gây nhiều thắc mắc. Trong mục “Trò truyện với tác giả” trên trang nhà Du Tử Lê, chính nhà thơ Trần Dạ Từ từng trực tiếp trả lời với độc giả, thính gia. Xin trích nguyên văn phần hỏi đáp: 

-Đỗ Lê (San Francisco)

Tôi đã đọc bài nhà thơ Du Tử Lê viết về Trần Dạ Từ, đã nghe Khánh Ly hát Chuông và Mưa, nghe Quang Tuấn hát Sinh Nhật Ca và đang theo dõi mục "Trò truyện với nhà thơ". Trong kỳ 3 vừa rồi, có câu hỏi của ông Quý Trần, về sự gần gụi và khác biệt giữa thơ và nhạc. Câu hỏi rất hay. Đúng là điều chính tôi từng thắc mắc. Nhưng câu trả lời của nhà thơ thì quá vắn tắt, không trả lời gì cả, nên câu hỏi còn nguyên. Và tôi cũng còn nguyên thắc mắc. Xin cho biết theo ông, thơ và nhạc gần gũi và khác biệt ra sao. 

-Nhà thơ Trần Dạ Từ trả lời

Để cám ơn sự nhắc nhở của ông Đỗ Lê và tạ lỗi với câu hỏi rất hay của ông Quí Trần, thật khó vắn tắt. Đành xin phép dài dòng.

Về sự gần gụi giữa thơ và nhạc, tôi đã thưa gọn rằng ông Quý Trần đúng, quan hệ thơ nhạc vốn tuy hai mà một. Theo sự nhắc nhở của ông Đỗ Lê, xin phụ hoạ thêm: Chỉ riêng các từ ngữ thi ca hoặc kinh thi, đã cho thấy chính thi dẫn đến ca hoặc kinh. Ấy là vì thơ vốn là cách nói, mà loài người thì biết nói trước khi biết hát, sau đó mới biết tới kinh sách hay trống kèn đàn địch.

Như chúng ta đều biết, chính thơ dân gian -đồng dao, ca dao- là gốc của mọi loại dân ca, dân nhạc, thánh ca. Bên Tầu, từ cả ngàn năm trước tây lịch, ca dao 15 nước thời xuân thu đã là gốc của bộ "Kinh Thi" do Khổng Tử san định. Bên ta, ca dao là gốc mọi điệu ru, điệu hò, điệu hát. Cùng vậy, tại Trung Đông, thơ dân gian Do Thái là gốc của thi thiên hay thánh vịnh trong Cựu Ước; Tại vùng thung lũng sông Hằng ở Ấn Độ, thơ dân gian Aryans là gốc của thánh ca Veda/Vệ Đà.

Chúng ta cũng biết, như sử sách cho thấy, tài ba âm nhạc ít được kể tới trong lãnh vực sáng tạo: Lý Bạch viết Thanh Bình Điệu, Tô Đông Pha làm mới Tống từ; Fujiwara no Teika khai sinh những bài ca vùng Yamato của nước Nhật cổ; Trần Nhân Tôn, Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê, viết đạo ca, ca trù, hát nói bằng chữ nôm... Tại Pháp, Guillaume de Machaut hoàn chỉnh các thể điệu tây phương ballade, rondeau, virelai. Vậy mà tất cả đều là thi sĩ, không thấy vị nào được gọi là nhạc sĩ. Rõ ràng về "danh phận" khi hai hợp thành một, tài thơ là chính, tài nhạc là phụ, giống như các bà vợ phải mang tên họ của ông chồng. Thậm chí, không thấy một nhạc sĩ nào được ghi lại tiểu sử, nếu nhạc sĩ không chịu làm thi sĩ, hệt như các cô không chồng thì xin miễn danh phận, chẳng có gì đáng kể.

Tình trạng "bất công" này kéo dài đã nhiều thiên niên kỷ, mãi tới thế kỷ 18 mới chịu kết thúc tại Âu Châu, nhờ thành quả của thời kỳ Baroque (mở đầu cho thời kỳ khai sáng, phát động bởi nhà thờ Ý, từ 1600 tới 1760, được thị dân hưởng ứng, lan khắp Âu Mỹ, mãi tới thế kỷ 20 mới tới Việt Nam do ảnh hưởng văn hoá Pháp.) Phong cách Baroque - từ ngữ gốc Bồ Đào Nha có nghĩa là xù xì, thô ráp - coi mọi khuôn mẫu nghệ thuật cũ là ngọc đã mài xong, chẳng còn gì để làm. Muốn sáng tạo cái mới, phải coi mọi loại nghệ thuật là thứ ngọc còn xù xì thô ráp để mài lại từ đầu: Thơ nhạc phải phá bỏ mọi mẫu mực cố định (formes fixex / fixed forms) ví dụ: thể rondeau gồm 15 câu, ballade, Virelai từ 10 tới 13 câu, tương tự thể cố định của thơ Đường luật là thất ngôn bát cú.

Từ đây, thơ và nhạc tách biệt và tự chuyên biệt hóa: thi (và) ca mỗi bài tự tạo thể điệu riêng, âm nhạc tự tạo thêm hoà điệu, nhịp điệu, không chỉ là thanh nhạc ca hát véo von, mà còn là khí nhạc hoà tấu không lời... cứ thế mà sinh sôi biến hoá cho đến ngày nay, đưa đến "những khác biệt quan trọng" giữa thơ và nhạc mà ông Quý và ông Đỗ thắc mắc.

Về yêu cầu phân tích, tôi đã thưa thật với ông Quý là "không quen". Xin mượn kiểu phân tích "bài hát-câu thơ" trong kinh Veda, phân khúc Atharva Veda: 

Anh là chàng, em là nàng / Anh là bài hát, em là câu thơ / Anh là bầu trời, em là mặt đất

Đôi ta cùng ăn ở tại đây, / cùng tạo ra con trẻ. 

Veda/vệ đà, có nghĩa "tri thức", bộ kinh gốc của Ấn Độ Giáo. Atharva Veda, có nghĩa "Tri thức theo các thầy tư tế ghi lại." Trích theo bản anh ngữ: 

I am he; you are she. / I am song; you are verse. I am heaven; you are earth.

Let us two dwell together here;/ let us generate children. (Atharva Veda 3:29:3) 

Từ thời Veda đến nay đã là 3000 năm. Cuộc hôn phối "bài hát-câu thơ" đã sản sinh nhiều thế hệ con trẻ. Biến dạng của chúng là vô cùng. Thú thật tôi không đủ khả năng phân tích, nên đành tự an ủi, rằng thơ nhạc cũng giống như tình yêu, vẻ đẹp hoặc món ăn, thay vì phân tích, ta có thể thưởng thức. Đề nghị hai ông Quý-Đỗ thưởng thức hát nói Nguyễn Công Trứ, từ khúc Tản Đà, thơ Du Tử Lê, nghe hò Huế hay hát quan họ, hoà tấu khúc của J. S. Bach, và cả ca khúc... Lady Gaga. Hy vọng sẽ thanh thản "cảm nhận" như từ ngữ ông Quý đã dùng, thay vì nhức đầu đọc phân tích dài dòng.

(http://www.dutule.com/D_1-2_2-128_4-3736_5-10_6-12_17-173_14-2_15-2/tro-truyen-voi-nha-tho-tran-da-tu-ky-6.html) 

Khi phát hành CD đầu tiên năm 2011, Trần Dạ Từ nói “Cám ơn Khánh Ly, người đã đánh thức những bài hát ngủ quên.” Bốn năm sau, trong tháng naNăm 2015, Trần Dạ Từ và Khánh Ly sẽ tiếp tục ra mắt thêm 2 CD mới, gồm 23 ca khúc. Bên cạnh các bài hát từ thời nhà tù, còn thêm nhiều bài hát mới viết. Như vậy, không chỉ “những bài hát ngủ quên”, mà cả người nhạc sĩ ngủ quên nhiều thập niên cũng đã được đánh thức, như tên gọi của hai CD này cho thấy. Trong thơ nhạc Việt, “Gội Đầu / Bay” là thứ chưa từng thấy. “Gọi Tên Dòng Sông” là niệm khúc đầu tiên – một “requiem” hướng về các nghệ sĩ. Tôi rúng động khi nghe. Tưởng như thấy thời đại mình thở. Hơi thở ấy ra sao? 

Du Tử Lê

(Kỳ sau tiếp)

__________ 

Chú thích:

(1) Sách “A Gift of Barbed Wire”, của Dr. Robert S. McKelvey / University of Washington Press. Tựa đề đặt theo bài thơ “Tặng Vật Tỏ Tình” được trích trang trọng trang đầu sách: “I give you a barbe wire / some creeping vine of this new age. Tran Da Tu.”

(2) Bản dịch Anh ngữ của “Hòn Đá Làm Ra Lửa” do GS Nguyễn Tự Cường, Hoa Thịnh Đốn. Người tổ chức và giới thiệu Trần Dạ Từ trong buổi đọc thơ là ông Jim (James) Webb, nhà văn cựu chiến binh, nhà làm phim, từng là Thứ Trưởng Quốc Phòng, Bộ Trưởng Hải Quân và Thượng Nghị Sỹ Liên Bang, hiện đang thăm dò việc làm ứng viên Tổng Thống Hoa Kỳ 2016. 

(3) Sách “Thi Ca Hiện Đại” của Trần Tuấn Kiệt cũng như nhiều tư liệu khác ghi nhà thơ Trần Dạ Từ, tên thật Lê Hà Vĩnh, sinh ở Hải Dương. Nhưng họ Lê đã chính thức xác nhận rằng tên thật của ông là Lê Hạ Vĩnh, tức làng Hạ Vĩnh huyện Thanh Hà, nay thuộc tỉnh Hải Hưng. Đây là nơi có cây “vải tổ” của Hải Dương-Hưng Yên, vùng đất trồng vải-thiều nổi tiếng khắp miền Bắc. Vụ án lịch sử đời nhà Lê, liên quan tới Nguyễn Trãi và Thị Lộ được sử sách ghi là "Vụ án Lệ Chi Viên", có nghĩa vụ án vườn vải (thiều).

(3b) Trích từ trang 955, sách “Thi Ca Việt Nam Hiện Đại”, tập II, bản in lại tại Hoa Kỳ theo kiểu photocopy.

(3) “Cháu Mai” là gọi theo tên thật của Khánh Ly, Nguyễn thị Lệ Mai.


*Bay: Nhạc Trần Dạ Từ, tiếng hát Thương Linh.


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
12 Tháng Mười Một 201812:00 SA(Xem: 18990)
Nếu tính từ năm Đinh Hùng in “Mê Hồn Ca” 1954, cho tới “Đường Vào Tình Sử” 1961 thì hai thi phẩm cách nhau gần 7 năm trời.
07 Tháng Mười Một 201812:00 SA(Xem: 22137)
Năm 1954, thi sĩ Hồ Dzếnh, giám đốc nhà xuất bản “Tiếng Phương Đông,” sau đổi lại là “Bình Minh,” cho in thi phẩm “Mê Hồn Ca” của Đinh Hùng.
05 Tháng Mười Một 201812:00 SA(Xem: 21985)
Thi sĩ Đinh Hùng sinh ngày 3-7-1920 tại làng Trung Phụng, ngoại ô thành Hà Nội. Ngôi làng này nằm ngay sau lưng khu phố Khâm Thiên.
30 Tháng Mười 201812:00 SA(Xem: 20139)
Cảm nghĩ của tôi về Đinh Hùng trước khi được tiếp xúc với ông, ở hai trạng thái thật dị biệt
13 Tháng Mười 20189:17 SA(Xem: 374)
Nhạc phẩm đầu tiên ông sáng tác lúc mới 13 tuổi là bài ‘Mẹ Tôi’,
03 Tháng Mười 201811:34 SA(Xem: 329)
Thanh Thúy, như một hiện tượng gom được cả thực và phi thực.
01 Tháng Mười 20183:27 CH(Xem: 272)
Trong số hàng chục nghệ sĩ từng bày tỏ tình yêu một chiều với Thanh Thúy,
17 Tháng Chín 20189:17 SA(Xem: 339)
Nhiều người nói, Trịnh Công Sơn không phải là người đầu tiên gieo cầu nhắm vào Thanh Thúy.
29 Tháng Tám 20189:05 SA(Xem: 603)
Rất nhiều người vẫn còn nhớ 4 câu thơ tuyệt tác của nhà thơ Hoàng Trúc Ly, viết tặng Thanh Thúy
21 Tháng Tám 20189:39 SA(Xem: 1536)
màu vàng rực rỡ của dã-quỳ đã dắt tay tôi trở lại Pleiku
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 18990)
Nếu tính từ năm Đinh Hùng in “Mê Hồn Ca” 1954, cho tới “Đường Vào Tình Sử” 1961 thì hai thi phẩm cách nhau gần 7 năm trời.
(Xem: 22137)
Năm 1954, thi sĩ Hồ Dzếnh, giám đốc nhà xuất bản “Tiếng Phương Đông,” sau đổi lại là “Bình Minh,” cho in thi phẩm “Mê Hồn Ca” của Đinh Hùng.
(Xem: 21985)
Thi sĩ Đinh Hùng sinh ngày 3-7-1920 tại làng Trung Phụng, ngoại ô thành Hà Nội. Ngôi làng này nằm ngay sau lưng khu phố Khâm Thiên.
(Xem: 20139)
Cảm nghĩ của tôi về Đinh Hùng trước khi được tiếp xúc với ông, ở hai trạng thái thật dị biệt
(Xem: 374)
Nhạc phẩm đầu tiên ông sáng tác lúc mới 13 tuổi là bài ‘Mẹ Tôi’,
(Xem: 236)
Tôi rất cảm phục cách Thi Sĩ đặt tựa đề cho bài thơ, “đêm, treo ngược tôi: dấu chấm than!”
(Xem: 5495)
Du Tử Lê nói ông chỉ muốn im lặng. Trong phần hỏi-đáp rất ngắn dưới đây, nhà thơ Du Tử Lê có giải thích về sự im lặng của ông, với nhiều ngụ ý.
(Xem: 723)
Đầu tháng 6-2018, tuyển thơ Khúc Thụy Du của nhà thơ Du Tử Lê ra mắt độc giả trong nước.
(Xem: 12080)
Đứng giữa gian hàng, trên một bục gỗ cao phủ khăn trắng nuốt, người thiếu nữ trông nổi bật hẳn lên với trang phục tuy rực rỡ sắc mầ
(Xem: 1533)
Theo thiển ý cá nhân tôi, thơ Du Tử Lê khá "hiền!"
(Xem: 461)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 539)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 20384)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 15195)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 12758)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 16019)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 14049)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 12513)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 10499)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 9730)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 9863)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 9061)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 8641)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 9918)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 15083)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 21500)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 27283)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 18768)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 19872)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 24094)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 21844)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 18228)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
1,975,128