Phù Hư, “tiếng còn hao vọng giữa mùa thịnh âm”.

03 Tháng Mười Hai 201611:44 SA(Xem: 1207)
Phù Hư, “tiếng còn hao vọng giữa mùa thịnh âm”.

 

Phù Hư là một trong những nhà thơ quen thuộc của độc giả miền Nam, trước tháng 4-1975. Ông nổi tiếng với bài thơ “Ngậm Thẻ Qua Sông”, viết năm 1972. (1)

Sự thực Phù Hư / Nguyễn Đắc Ngân, không chỉ được đông đảo những người yêu thơ biết tới, qua bài thơ vừa kể mà, ông cũng nhận được nhiều yêu mến qua một số bài  thơ khác, như “Quân Bộ Khúc”, “Đồn Sơn Yểm”…

Dường như tất cả những bài thơ được coi là nổi tiếng của Phù Hư, đều viết về những năm, tháng ông chiến tranh khốc liệt ở miền Nam. Những bài thơ ra thoát khỏi phong trào hay, sự “đồng bộ” của những người làm thơ về chiến tranh, súng đạn một thời chinh chiến. Họ Nguyễn với những bài thơ viết ở thời kỳ đó, đã hiện ra như một “chân dung” hai mặt. Không ít người cho rằng đó là loại thơ “phản chiến” - - Có tính chất thời thượng! Nhưng cũng không ít người lại ghi nhận, đó là những bài thơ phản ảnh tình cảm trung thực, rất con người, của Phù Hư. Ông không vô tình hay cố ý, gắn cho thơ của ông một “nhãn hiệu” nào - - Dù ngợi ca hay, khinh bạc sống, chết…

Phù Hư / Nguyễn Đắc Ngân không “lên gân” coi cái chết như…củ khoai. Ông cũng không phất cao ngọn cờ căm thù hoặc, cầu nguyện Thượng đế ban phước lành cho dân tộc Việt Nam, sớm có hòa bình. Họ Nguyễn chỉ ghi nhận những chi tiết nhỏ nhặt, những rung động vi tế từ trái tim mẫn cảm… Nhưng chính những cảm thức tưởng chừng nhỏ nhặt kia, tự thân, lại mang rất nhiều ý nghĩa!!! Vì đó chính là thân phận con người! Thực tế đời thường, ở những góc khuất, lấp nhất…

Nếu nối kết đa số những bài thơ của Phù Hư, trong thi phẩm “Ngậm Thẻ Qua Sông” thì, với tôi, đấy là một trường khúc lấp lánh tính nhân bản, lấp lánh, sáng lên từ thảm kịch chung một giai đoạn lịch sử, đất nước.

Nhà văn Trần Văn Nam, tháng 9 năm 2009, trong một bài nhận định về thơ thời chiến, ở miền Nam, viết đã chia loại thơ thời thế này, thành hai dòng chảy, khi ông viết về thi phẩm “Ngậm Thẻ Qua Sông” của Phù Hư, được nhà XB Hội Nhà Văn, ấn hành đầu năm 2013, như sau:

“Thơ Thời chiến Miền Nam, ta thường nhắc những câu thơ khinh bạc của những quân nhân ở trong cuộc; ta cảm thức những ý tưởng pha trộn chấp nhận và chua chát làm người trong thế hệ đi vào cuộc chiến; những ý tưởng kiểu ‘cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi’ mà trong Đường Thi có nói tới rồi từ hàng ngàn năm trước. Như Nguyễn Bắc Sơn tiên liệu một điều may rủi: ‘Mai ta đụng trận ta còn sống / Về ghé Sông Mao phá phách chơi / Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm / Đốt tiền mua vội một ngày vui’. Như Tô Thùy Yên nghĩ thầm biết đâu ngày mai có thể tử trận: ‘Còn mươi tháng nữa lên trung úy / Có thể ngày mai chửa biết chừng’. Hoặc như Trần Hoài Thư cũng có mối ưu tư ngày mai như vậy: ‘Xin cô hàng thêm một két bia / Hôm nay lãnh lương tôi đãi hết / Cô hàng ơi, một mai tôi chết / Ai tiêu dùm, ba tháng tiền lương’. Còn rất nhiều những câu thơ khinh bạc rải rác trong thơ thời chiến Miền Nam.

Để dễ dàng dẫn chứng, ta có thể truy cập căn cứ vào bộ sách có nhiều công sưu tầm ‘Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến’ (nhà xuất bản Thư Ấn Quán, tập I và II, dầy 1550 trang).

 (…)

“Cũng trong bộ sách ‘Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến’ ấy, ta bắt gặp nhiều câu thơ tình đời thường, nghĩa là không có vẻ gì khinh bạc số phận rủi may vì mũi tên hòn đạn vô tình mà bỏ lại người yêu; chỉ là thơ nhắc nhở người vợ hiền hay người tình chưa cưới hãy chờ đợi, hãy lo cho con thơ, cho cha mẹ già, cho mảnh vườn hay ruộng nương lợi tức khiêm tốn. Lãng mạn hơn thì là nhắc nhở chuyện ngày xưa gặp gỡ thần tiên mà bây giờ tính lại cũng đã bao năm canh gác nơi tiền đồn biên giới; nhắc nhở chuyện ngày nào cùng học một trường với lưu bút ngày xanh mà nay đành phải xếp bút nghiên. Buồn bã hơn thì tin tức em lên xe hoa trong khi anh chưa biết ngày nào hết hạn quân dịch… Những câu thơ tình đời thường ít gây ấn tượng nên rải rác đâu đó trong thơ thời chiến như gió thoảng qua, chờ đợi ta sưu tầm sự phong phú của nó, thiết tưởng cũng không kém số lượng như thơ tình khinh bạc…”

Sau khi phân nhánh hai dòng chảy chính của thơ miền Nam thời chinh chiến, họ Trần bước vào bài “Ngậm Thẻ Qua Sông” của Phù Hư:

“Lại có những người đã vào hẳn quân ngũ, đã hành quân xuôi ngược khắp nơi, nhưng thơ thì vẫn là thơ tình đời thường, như kể chuyện trong thời gian hành quân tạm trú bên hông nhà của gia đình thường dân (dù được mời vào ở trong nhà, nhưng khước từ vì không muốn gia chủ khó xử và bận rộn).

“Gia chủ là một thiếu phụ có chồng cũng đi lính đã rất lâu, không biết sống chết ra sao mà bặt tin tức gửi về. Người lính chắc có ý nghĩ thầm kín khi kể mẹ nàng trông mong có một mụn cháu đầu lòng mà tin chồng nàng thì bặt vô âm tín. Người lính chắc cũng có ý nghĩ thầm kín khi đêm khuya nghe tiếng nàng thở dài, vì chàng ngủ bên hông nhà chỉ cách ngăn bởi một vách đất. Bài thơ này nhan đề ‘Ngậm Thẻ Qua Sông’ của tác giả Phù Hư (do nhà văn Trần Hoài Thư gửi đến năm 2009), cùng một số thơ khác được Thư Quán Bản Thảo sưu tầm và gửi đi cho các bạn quen để coi như phần bổ túc cho bộ sách ‘Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến’. Đôi bài đã có sẵn trong bộ sách ấy, như bài ‘Ngậm Thẻ Qua Sông’ này. Bài thơ viết theo lối một truyện kể, nhưng có những từ ngữ và thi ảnh thật hiếm quý, như khi ánh trăng chiếu xuống thì ‘ngồi co mình cho bóng bớt riêng tôi’ và khi thức khuya mới hay ‘hồn bớt ngủ’, cũng như mới hay ‘trăng tháng chạp úa quanh đồi’. Một tháng ở bên hông nhà như vậy, không làm phiền gì ai, cho đến khi đội quân có lệnh rút đi bí mật vào lúc nửa khuya, người lính cũng lặng lẽ rời khỏi nơi tá túc (mỗi người lính tá túc kế bên mỗi nhà người dân, theo lối ấy, chắc là cách tản mác khi nghỉ dưỡng quân, không theo lối tập trung dễ làm mục tiêu cho đạn pháo rót vào). Rút đi êm ru, bỏ lại những ý nghĩ thầm kín, cố gắng giữ thật im lặng như khi quân di hành qua sông cần ngậm thẻ bài bằng kim loại thường ngày đeo ở cổ. Ngậm thẻ như vậy hầu tránh cơn ho chợt đến không kìm giữ nổi, hay kiểm soát cái sặc sụa biết đâu lại tới tình cờ. Vậy ngậm thẻ qua sông vừa có nghĩa đen ‘giữ im lặng bí mật khi hành quân’, vừa có nghĩa bóng ‘giữ kín ý nghĩ thầm có thể phạm tới luân thường đạo lý’, nhất là khi người chồng của người thiếu phụ cũng là lính bôn ba xuôi ngược như mình, cũng bặt tăm như mình qua bao năm chinh chiến chưa một lần ghé thăm nhà. Bài thơ như một truyện kể, nên xin trích ra khá dài hầu không bỏ sót những câu thơ hay, và phải gồm những chi tiết khiến ta thông cảm cho một mối tình câm:

 “… em nhớ thương chồng đóng đồn ải xa

lâu, tin vắng, trông mòn đường xóm

tôi ở quá bên hông nhà gió sớm

đợi dùm em tin chinh chiến gởi về

“… làng em ở gió Lào qua rất độc

ngày mưa mù khuất núi mù sông

mẹ già mong một mụn cháu đầu lòng

em nhắn gửi, bao lần tin vẫn biệt

“… tôi nương bóng nhà trăng che khuất

ngồi co mình cho bóng bớt riêng tôi

nhìn xa trăng định trốn sau đồi

sông, tiếng vạc đậm buồn như tiếng cú

thức có khuya mới nghe hồn bớt ngủ

mới hay trăng tháng chạp úa quanh đồi

nghe em thở buồn não mãi không thôi

“… em vẫn bảo tôi mái tranh không chật

tôi cười xòa xó xỉnh miết đâm quen

“… hôm từ biệt quanh thôn nhà cửa khép

lúc quân đi chắc em không hề biết

đội tôi ngậm ngùi ngậm thẻ qua sông

còn tôi co ro lạnh mãi gió đông

một lần cuối nhìn nhà em đóng kín

tin chồng em chắc chưa về đến bến

như tin tôi mấy thuở gởi thăm nhà...”  

(Phù Hư trong bài “Ngậm Thẻ Qua Sông”). (Nguồn Wikipedia)

.

Cũng nhân dịp ra đời của thi phẩm “Ngậm Thẻ Qua Sông” tại VN, năm 2013, nhà thơ Nguyễn Tấn Cứ, trong một bài viết trên báo Tiền Phong (số đề ngày 30 tháng 6-2013), đã ghi nhận về Phù Hư Thơ và, đời thường như sau:

“…Cuộc đời là một cuộc phù hư thấp cao lận đận, không ai có thể biết trước cuộc đời mình sẽ đi đâu về đâu khi thời gian đang mỗi ngày một ngắn lại, nó không cho phép ai lẩn tránh cái định phận đã từng đeo đuổi theo suốt một mùa chinh chiến, nhất là cái định phận ấy lại là của những người lính. Phù Hư là một người như vậy. Khi cầm súng cũng như làm thơ, với anh, như chiến đấu cho một thứ tương lai không bao giờ hiện hữu, vì thế thi ca của anh luôn mong manh bốc khói.

“Với thi sĩ, cuộc đời là một ‘Quân bộ khúc’ như một bài thơ của Phù Hư, là một cuộc hành quân triền miên thầm lặng băng qua những vùng ‘lãnh khí’, nhiều khi nó không là gì hết trong cái cõi đời sát phạt tử sinh phù du trắc ẩn.

“Sau 30/4/75, Phù Hư cũng như nhiều người, trở lại làm ‘phó thường dân’, mưu sinh từng ngày trên những vỉa hè góc phố. Thời đó, có thể nghe những tiếng rao khan đục vang lên trong những cung đường trưa vắng ‘ai có radio, quạt máy cũ, tivi hư, răng vàng bạc vụn bán hôn’. Nếu nghe tiếng rao này của một gã đàn ông đen sạm dong dỏng cao thì đích thị chính là Phù Hư – thi sĩ – lính Sài Gòn trước 1975.

“Phù Hư là ai, tôi cũng không biết, khi tôi vẫn là thằng học sinh mê văn chương ở miền Trung cát đá, chỉ nhớ đã từng đọc được một bài thơ của gã trên Tạp chí ‘Văn’ của Sài Gòn vào khoảng cuối năm 73 với bài thơ ‘Ngậm thẻ qua sông’. Tôi mường tượng Phù Hư chắc là một Kinh Kha đang thích khách sang Tần, một mình một thẻ một kiếm đang nín thở bơi qua sông Dịch, sau này khi gặp tôi mới hiểu ‘ngậm thẻ’ chỉ là một cách biểu lộ của văn chương, nó nói lên sự ‘bí mật’ im lặng của người lính khi hành quân qua làng mạc hay núi rừng ‘Đi qua rừng truông lá tủi thân / Quân như ma lẩn bước thì thầm/ Áo quần trận tiệp mùi cây lá / Đường xa đau rát gan bàn chân…’ [Quân bộ khúc]

“Hồi đó sau một ngày mỏi mê chạy chọt điên cuồng lùng sục khắp nơi để kiếm được dăm ba đồng, anh em lại thấy Phù Hư lững thững đi vào quán 81 Trần Quốc Thảo (nguyên là quán của Hội VH-NT TPHCM, nay đã bị phá bỏ làm cao ốc) gọi mấy thùng bia hơi cùng bạn bè văn nghệ chén chú chén anh đến sập tối mới chịu về. Ít ai biết, nguyên một ngày rát hơi khản cổ mỏi gối trôi qua gã đã không mua được một thứ gì ngoài một cái răng vàng mà nghe đâu ngày mai người ta mới có thể cạy ra và đưa cho gã [?].

“Phù Hư có một bộ mã cao gầy chắc đậm như một cây sậy, gương mặt sắc cạnh, ăn nói như đinh, hài hước thâm thúy lọc lõi như một tay chơi, nói chuyện với Phù Hư có cái vui là không biết gã nói giỡn hay nói thật, vì cách nói của gã mang hơi hướm dân trí thức nhưng lại cực sảng giang hồ, những tay văn chương giả hình hay bị Phù Hư cà khịa nhiều khi tím mặt mà không biết làm gì ngoài chuyện cười xòa cho qua chuyện.


“Xét cho cùng nếu bương chải kiếm sống trong thời buổi nhiễu nhương lúc bấy giờ thì chỉ có Phù Hư là số một, trong túi gã lúc nào cũng có ‘xiềng’, nhiều khi hứng chí gã bao hết làm cho anh em uống xiểng niểng, tất nhiên là cả một tuần sau anh em thấy gã biến mất, nhưng không - gã lại xuất hiện với nụ cười hư vô đúng như cái tên mà gã có – ‘Phù Hư’ quả là danh bất quá... hư phù, gã lại bia bọt khích bác tưng bừng cho đến khi một ai đó uýnh lộn tưng bừng u đầu sứt trán cho quán xá tưng bừng vui lên thì gã mới thôi.

“Vui thì vậy nhưng lúc nào tôi cũng thấy ánh mắt gã lấp lánh tia giễu cợt buồn phiền, vì tôi biết đôi khi cuộc sống này cũng quá buồn đối với một chiến binh đã giã từ vũ khí - vì cuộc chiến tranh mà gã đã băng qua vẫn không bao giờ lành thẹo bởi những tiếng nổ âm u của cái chết vẫn còn đang đi về, nó vẫn là những cơn đau nhức khôn nguôi mà tôi vẫn thường hay nhìn thấy trong ưu tư của những người bạn anh em cùng thời.

“ ‘Tôi gác đêm như bóng người rình/ Tối nay đạn nổ nhẹ mạn sông / Sương mỏng quá nhìn hoa ngàn con mắt / Tôi giữa đêm nghe mình như thất lạc / Thương xóm nhà biết nổ đạn vào đâu ..’  [Ngậm thẻ qua sông]

“Tôi biết nhiều khi gã cũng không muốn chơi với một ai, nhiều khi tôi thấy gã chỉ ngồi một mình, anh em ai tới thì tới không thì thôi, gã cũng không vui mà cũng không buồn. Tôi nghĩ, hắn ngồi đó với vết thương lòng, chỉ vì hắn thực là thi sĩ…” (Nđd.)

Tuy nhiên, với tôi, Phù Hư không chỉ thành công với những bài thơ 7, 8 chữ, viết về năm, tháng chinh chiến của mình; ông còn thành công với thể thơ lục bát. Mảng thi ca dường ít nhận được nhiều chú ý của đám đông!

Như chúng ta cùng biết, lục bát là thể thơ dễ làm! Khó hay!

Sự quyến rũ của thể thơ này, đã và, sẽ còn là một thứ hầm chông, bẫy ngầm với nhiều người làm thơ - - (Gồm luôn cả những nhà thơ từng thành danh với thể loại tự do, năm, bảy chữ…) Hầm chông, bẫy ngầm này, đã đem thương tích đến cho những nhà thơ chấp chới bước vào lục bát thiếu cảnh giác!!!

Nhưng Phù Hư thì, ngược lại.

Họ Nguyễn đến với lục bát, ít thôi, nhưng cũng như với thơ bị coi là “phản chiến”, Phù Hư đã có được cho lục bát của ông, chí ít cũng một tâm cảnh khác, thể hiện qua ngôn ngữ, hình ảnh khác.

Thí dụ bài “ngựa ô vong”, ông viết:

“mây ngâm úng nước chiều trời

chuông xô tháp nhọc nặng lời chia tay

ở lâu nhà ngủ phố lầy

nhạc phao tin ngựa rong đầy phố câm

thấp hiên điện ủng tin buồn

mười năm ngựa nhược theo phường bát âm…”

Hoặc:

“nẻo em cồn bão đêm tù

núi khi tàn xuống biển từ dâng lên

cách em đến mấy nghìn đêm

môi còn ẩn nụ hôn riêng ban đầu.”

(Phù Hư, “Nụ hôn đầu”).

Hoặc nữa:

“… nghe ngày hạ phố thốt âm

đậy chăn tôi vẫn tưởng lầm chiêm bao

đêm còn lạnh với lên cao

gió chen với nắng xôn xao cửa ngoài

xa kèn huyễn vọng bên tai

bến sâu giờ chắc phơi đầy biệt ly

hối ngày xe đuổi nhau đi

quán chôn tiếng khách bàn ghi chỗ ngồi…”

(Phù Hư, trích “Ngụy âm”)

 .

Là một nhà thơ thành tựu nhiều mảng thơ khác nhau như Phù Hư, tôi nghĩ, trước cũng như sau 1975, chúng ta có không nhiều, lắm.


Du Tử Lê,


(Jan. 2017)

 

_________

Chú thích:

(1) Phù Hư tên thật Nguyễn Đắc Ngân, sinh ngày 17 tháng Chạp năm Canh Dần (24 tháng 1-1951, tại Hải Dương. Thuở nhỏ ông sống ở Huế; từ năm 1972 tới nay, định cư tại Saigon. Ông đã có thơ đăng các báo Khởi Hành, Văn, Thời Tập, Đứng Dậy, Mỹ Thuật Thời Nay, v.v….

.

THƠ PHÙ HƯ, ĐỌC THÊM.

.


ĐỒN SƠN YỂM

 

đóng núi đồn xa đoàn pháo yểm

quanh năm ngủ miết với chân mây

nhìn sâu xuống vực nham hiểm đá

thù rừng cành trút lá mặc cây

vào thu rồi đó đèo xao xác

thung lũng vàng khô ẩn bóng nhà

suối chia mương nhỏ gie ống nứa

chuối mùa lốm đốm lá trổ hoa

suối len khe đá âm mưu chảy

đồn đóng binh ròng trận mạc xa

khói mỏng lên chiều thưa chiếc chim

đèo cao hút bóng mỏi mắt nhìn

gió mớn cho đông về thoáng lạnh

trông gần thương nhỏ dáng người em

âm thầm đêm tối gào giữ giặc

nhanh đạn chuyền tay chống tuyến đầu

gió núi rên oằn băng tiếng pháo

mây tan đường trái phá qua sâu

sơn yểm đỉnh cao muốn chống trời!

binh sĩ nhàn cư quẩn quanh thôi

cỏ không chừa lối đường xuống núi

rượu hết từ khuya vắng tiếng người

đêm lính trú buồn hâm bếp lửa

nhìn nhau kể chuyện vãn cười chơi

tay hơ than khói khô da thịt

thuốc đốt từng khoanh dấu mặt người

đêm gió u hồn thổi muôn phương

lũng hạ khuya tiếng sói tru buồn

dư rượu ấm chi lòng khách núi

thuốc từng khoanh cầm tiếng thở giữa hồn

chinh chiến đầu non chinh chiến trận

ì ùng âm pháo dội quanh năm

xóm cũ chừ em lo chạy loạn

cha già xưa nhúm mộ bỏ bên đồng

đèo sắp qua đông lạnh quá chừng

cây nản rừng chưa trổ lá non

đồn dăm chòi dột tin mưa gió

pháo mới chùi xong đợi tấn công

bạn tôi trẻ tuổi vừa cưới vợ

cười lệch đôi môi nói chuyện nhà

thoát sắp đông sang rồi đấy nhỉ

trông rừng giết lá mấy mùa qua

thu giữ mây cho ấm lòng người

pháo yểm đồn cao đứng lẻ loi

bao giờ vạch cỏ xuyên đường núi

lũng hạ thăm em rượu mềm môi

1972



NGẬM THẺ QUA SÔNG

 

thơm lửa hương khoai tiếng hát rừng

ven thôn vừa ghé buổi di quân

khói mẹ sau lều cơm chín tới

nước em chè lá đậm phèn sông

tôi đời trận mạc xa quê quán

buổi ghé nương em núp bong nhà

em nhớ thương chồng đóng đồn ải xa

lâu tin vắng trông mòn đường xóm

tôi ở quá bên hông nhà gió sớm

đợi dùm em tin chinh chiến gởi về

đêm nay mưa em mất ngủ khuya

tôi lạnh gió tin địch về vẫn thức

làng em ở gió lào qua rất độc

ngày mưa mùa khuất núi mù sông

mẹ già mong một mụn cháu đầu lòng

em nhắn gởi bao lần tin vẫn biệt

rụng vườn em trăng sương ngày tháng chạp

tôi gác đêm như bóng người rình

tối nay đạn nổ nhẹ mạn sông

sương mỏng quá nhìn hoa ngàn con mắt

tôi giữa đêm nghe mình như thất lạc

thương xóm nhà biết nổ đạn vào đâu

đồng đội tôi ngủ mệt thôn sâu

ngại làm động mẹ ho vừa chợp mắt

tôi nương bóng nhà trăng che khuất

ngồi co mình cho bóng bớt riêng tôi

nhìn xa trăng định trốn sau đồi

sông tiếng vạc dặm buồn như tiếng cú

thức có khua mới nghe hồn bớt ngủ

mới hay trăng tháng chạp úa quanh đời

nghe em thở não mãi không thôi

em thở đó hay gió kêu mùa giá

nhà em ở miệt đông xóm hạ

bên triền sông không bến phải vắng thuyền

đầu trăng con nước rất vô duyên

lên mấp mé vườn em vai phơi áo

em rất nhỏ ngày trông vào gánh gạo

mẹ thì già vồn cải với nương rau

bước sau hiên vui mẹ dây trầu

mùa tốt lá xanh hồn tôi mới ghé

buổi mới đến cau cao vừa nhú bẹ

em thẹn thùa tôi tưởng thưở bình yên

tôi đâu hay em có nỗi hờn riêng

trông chinh chiến gọi hồn chồng theo gió

một tháng tròn ngỡ như ngày thưở nhỏ

em là em mẹ là mẹ xưa

tôi lêu nghêu lúc đi sớm về trưa

cơm nửa buổi giữa khuya kêu bụng đói

nhà thưa quạnh tôi gượng vui chẳng nổi

mẹ thẫn thờ em heo bóng trong sân

tôi trận mạc nhầu không kể đến thân

sương nhiều lắm trời không che nằm đất

em vẫn bảo tôi mái tranh không chật

tôi cười xòa xó xỉnh miết đâm quen

tròn tháng rồi đấy nhớ không em

hôm từ biệt quanh thôn nhà cửa khép

lúc quân đi chắc em không hế biết

đội tôi ngùi ngùi ngậm thẻ qua sông

còn tôi co ro lạnh mãi gió đông

một lần cuối nhìn nhà em đóng kín

tin chồng em chắc chưa về đến bến

như tin tôi mấy thưở gởi thăm nhà

cũng mấy năm rồi biền biệt phương xa

em còn nhớ một lần tôi ghé ở

thơm lửa hương khoai vùi bếp cũ

hồn em xa lắm cũng quanh đây

1972



QUÂN BỘ KHÚC

 

quân bộ qua thầm quân bộ qua

nón ngụy trang thép lạnh màu da

câm trăm miệng hến trừng gò ụ

súng dại dột nòng chực đạn ra

mặt thâm hiểm quá răng trắng nhỡn

biên giới xế chiều như cõi âm

cây che mù mịt vùng lãnh khí

có tiếng ai cười nghe xa xăm

đi qua rừng truông lá tủi thân

quân như ma lẩn bước thì thầm

áo quần trận tiệp mùi cây lá

đường xa đau rát gan bàn chân

lên đèo xuống dốc không sờn chí

cạy răng tìm không một tiếng cười

lúc mỏi tản quân cho ngồi nghỉ

khi buồn đưa điếu thuốc hút chơi

canh khuya ven núi ực tiếng cú

tay gìm súng mắt mỏi đủ thứ

trông xa thấy thoáng tưởng khai hỏa

cây đen lù gió lay bay lứ dứ

đêm rừng lạnh muốn ho xé cổ

ráng chịu qua giữ mục tiêu quân

cầu sương điếm cỏ đau lòng khách

súng thép giá bên mình quanh năm

trinh sát cơ bay rù trên cao

nghe ra nhớ người xa biết bao

ngắt một cọng cỏ xanh dưới gót

ngậm trong miệng vơ vẩn làm sao

tinh sương thu quân gọi lên đường

rừng âm u bít lối cỏ mòn

vạch cây khoét bụi theo đường nhỏ

quân đi rừng cuộn mãng xà cuồn

qua suối nước nguồn cao tới ngực

súng dong cao địch tưởng ta hàng

quần áo ướt dầm không khí ẩm

da nhờn rít thấm gió mùa sang

đi mãi quanh năm với núi rừng

ngoái nhìn trùng điệp núi phương đông

ngước mặt cây mù bưng bóng tối

hai bên bờ bụi xót xa lòng

ba ngày lương khô ăn không chán

khát uống suối nguồn trông cá vởn

thất chí theo người xưa gõ gươm

ca rằng hề cơm không có canh

lầm lũi miết cũng tới xóm thôn

chạm dăm trận trước chưa lại hồn

quân vòng bố trí quanh bờ ấp

toán chận bờ sông toán đầu truông

một canh nhỏ quân phục múi cầu

hai cánh khác xẻ đôi thọc sâu

cẩn thận có khi là công cốc

thôn toàn con trẻ với mẹ già

răn rúm quả xanh dăm trái khế

ít cơm rơi nhao nhác lũ gà

ủng oẳng bên hiên con chó ốm

thôn ổ này là quê nhà ta

ngủ chưa chợp mắt quân di chuyển

nón sắt nặng đầu ba lô mỏi lưng

trông quanh đen đúa không rõ mặt

lắng nghe va động đoán chừng chừng

lắng nghe mới rõ gần nỗi chết

biết có gì không dưới bước chân

thê nhi bao nỗi long tan tác

em ở xa mà ta ở gần

ngàn năm biên ải giữ oan hồn

lá rừng xô gió núi sông xương

chết phơi khí tiết vô danh sĩ

chết đắng cay ma núi ngậm hờn

biên ải ngàn năm danh tiết hão

...

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
21 Tháng Năm 20189:37 SA(Xem: 98)
Là một cây bút quen thuộc của xứ Quảng và cả nước, tác giả Ngô Thị Thục Trang vừa ra mắt bạn đọc tập thơ đầu tay “Sinh ra từ cánh đồng làng”
14 Tháng Năm 201811:14 SA(Xem: 316)
Phạm Hiền Mây là “người tình” chung thủy của Lục Bát,
09 Tháng Tư 201810:06 SA(Xem: 459)
Đinh Quang Anh Thái từ thuở nhỏ đã có máu giang hồ và tính dân thân.
24 Tháng Ba 201810:00 SA(Xem: 276)
Nhà thơ trẻ Nguyễn Văn Lương, bút danh Văn Nguyên Lương, người con của quê hương xứ Quảng vừa ra mắt bạn đọc tập thơ đầu tay “sóng chữ sông quê”
14 Tháng Hai 201811:19 SA(Xem: 946)
Cần liên lạc với Nguyễn Kế Khuyến, xin qua địa chỉ Email:nguyenkekhuyen@gmail.com
03 Tháng Hai 201810:15 SA(Xem: 517)
Cầm trên tay tập Thơ ngắn Đỗ Nghê, tôi chợt nghĩ đến tên gọi của tiểu thuyết. Bởi vì tác giả Đỗ Hồng Ngọc đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là Thơ ngắn. Thế nào là ngắn?
27 Tháng Giêng 20189:27 SA(Xem: 375)
Lê Thanh Phách sinh năm 1964. Lúc nhỏ, quê hương bị chiến tranh tàn phá, phải tản cư sống cách quê gần 20 cây số, theo học tại trường Cây Da ở Điện An.
24 Tháng Giêng 20189:19 SA(Xem: 396)
Cuộc phỏng vấn từ xa, với 2 người đàn bà thơ xa lạ, tôi chưa hề gặp, chưa hề trò chuyện ở ngoài đời thực mà bằng online.
22 Tháng Giêng 20189:22 SA(Xem: 260)
Nhà thơ Trúc Thanh Tâm tên thật là Dư Thanh Tâm sinh ngày 21.08.1949 tại Long Mỹ, Cần Thơ (quê gốc ở Cái Nước, Cà Mau), mất ngày 15.01.2018 tại Châu Đốc, An Giang.
03 Tháng Giêng 20189:18 SA(Xem: 435)
Nhà thơ thường là những kẻ khuyết tật về mặt tinh thần và thể xác, hoặc là những người bên lề của cuộc sống thường nhật.
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 85)
Trong sinh hoạt âm nhạc tại miền nam VN, 20 năm (1954-1975) rất nhiều người biết tên tuổi nhạc sĩ Ngọc Chánh.
(Xem: 115)
ở truyện ngắn cuối cùng tập truyện của mình, Đinh Phụng Tiến đã hiển lộng khả năng dựng truyện, làm chảy nước mắt người đọc một-cách-tài-ba-trong-nhói-đau-từng-khúc-ruột của cá nhân ông, trước nhất?!?
(Xem: 123)
Thời đại ngày nay là thời đại của ba dòng thác cách mạng. Từ châu Á, châu Phi đến châu Mỹ la-tinh đang sôi sục tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cái dạ dày bỏ qua mọi xu thế tất yếu này mà đòi được ăn đủ… "
(Xem: 158)
.Khi đọc tới dòng chữ cuối cùng của tác phẩm, được tác giả đặt tên là 'Hồi kết không có hậu', tôi chợt nhận ra 9 truyện ngắn trước đó, sự thực chính là 9… 'hồi' chứ không phải 9 truyện ngắn mà, 'hồi' nào cũng là 'hồi kết không…có hậu!'.
(Xem: 226)
Gấp lại tập “Ký” dầy 200 trang của họ Đinh, tôi cũng thấy tôi muốn ngỏ lời cảm ơn tác giả.
(Xem: 11712)
Đứng giữa gian hàng, trên một bục gỗ cao phủ khăn trắng nuốt, người thiếu nữ trông nổi bật hẳn lên với trang phục tuy rực rỡ sắc mầ
(Xem: 935)
Theo thiển ý cá nhân tôi, thơ Du Tử Lê khá "hiền!"
(Xem: 5759)
“Ngay sau khi gặp ông, tôi đã bước sang “chặng đường ngỡ ngàng.” Không ngỡ ngàng sao được khi mà đứng bên ông
(Xem: 1297)
DU TỬ LÊ cũng là một nhân vật đặc biệt. Nhỏ hơn họ Trịnh vài tuổi. Gốc gác Phủ Lý, Hà Nam. Sống ở Hà Nội, trước khi theo gia đình di cư vào Nam.
(Xem: 9842)
nhà văn, nhà thơ Du Tử Lê là một trong những thi sỹ có khá nhiều bài thơ được phổ nhạc kể từ những năm trước 1975 đến nay
(Xem: 85)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 239)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 20002)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 14873)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 12388)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 15547)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 13676)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 12168)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 10199)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 9477)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 9564)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 8796)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 8426)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 9533)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 14819)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 21073)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 26990)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 18455)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 19570)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 23835)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 21471)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 17951)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
1,817,285