"Chú, con là thằng Thắng, bạn Tâm Đen, chú nhớ con không?". "Dạ, nhớ!"...
Tôi đi một vòng mừng tuổi những người muôn năm cũ, với cái câu tự giới thiệu được lập trình như máy. Bác Khai 95 rồi. Bạn đồng niên của Cha tôi. "Bác, con là Thắng bạn Lộc, bác nhớ con chứ?". "Có. Có đau. Chỗ cái chân này, hôm qua đau nhiều lắm!".
Tôi như muốn nổ tung.
Chú Hữu, đứng suốt, tay cứ xoắn lấy tay tôi. "Dạ nhớ, dạ nhớ!". Nhưng tôi đâu có tin cái câu trả lời đó. Tôi, hoặc cái đời sống bên ngoài kia không còn can cớ gì tới chú nữa. Câu chào thường khi sẽ là: "Thắng đó à, về khi nào hả con? Tâm ơi, kiếm cái chi dưới bếp hai anh em uống rượu đi!".
Năm xưa có gì đâu. Tâm xào một dĩa dưa cải, vài miếng thịt, tôi, Tâm và Ích, với cây đàn sai phím, chai rượu gạo, mắc cạn với nhau đúng một ngày tết. Thím Hữu đi thăm bà con về, la: "Mồi màng chi lạ. Tâm Đen ẹ quá, để thím làm cho cái chi mà nhậu".
Giờ, thím chỉ là di ảnh, và là nỗi nhớ gào thét trong chú. Hai bàn tay lực lưỡng xoắn lấy tay tôi, nấc nghẹn từng hồi. Việc chú muốn làm nhất và làm tốt nhất những ngày giờ này, là dọn hết áo quần, giày dép vô cái bao, và chờ chuyến xe về quê. Về Quảng Trị, hay về lại chỗ mà trí nhớ của chú đã dừng lại. Đâu có chuyến xe nào. Và người đàn ông lực lưỡng đứng đó, òa khóc!
Nắng tàn khốc. Biến đổi khí hậu và cuộc betone hóa đã cho ra một ngày mới 9h sáng đã 36 độ C. Nó gợi trong tôi ám tượng tuổi nhỏ: những cơn lốc xoáy.
Ôi, ban đầu nó đẹp, kỳ vĩ. Một vũng xoáy dựng đứng. Lá vàng. Bao nilon. Cái nón. Tất tật bốc lên, bay lên trong một trật tự. Nhưng rồi nó cuồn cuộn, mãnh liệt, dữ dội, nó đi vô nhà. Những căn bếp chưa tàn biến thành mồi lửa. Mái tranh vách tre reo hò tở mở cùng gió lốc và lửa. Đang cháy xóm trên, bất ngờ cuộn lan xuống xóm dưới. Tích lũy lúa bắp của một năm tàn rụi thành tro.
Đêm 30 tết của một năm, lúc tôi học lớp 8, Đăng Tân giúi một phong pháo lên mái nhà, đốt, có khác gì nó tự đốt nhà. Nhà Tân cháy lan sang nhà Tuân. Cháy là cháy rụi. Nhưng lúc đó, thứ mà tôi lo lắng nhất là trái banh da cả đám góp tiền mua được Tuân đang giữ. Chạy xuống là hỏi ngay trái banh trái banh. Thời may là nó được cứu đầu tiên, cùng cái xú páp để bơm.
Bác Đường, cha của Tuân, vệ sĩ riêng của ông Diệm, nổi tiếng giỏi võ. Sau Đệ nhất Cộng hòa thì về Nha Trang làm quan thuế. Nhưng đã bất đắc chí từ đó. Tôi xuống, bác lấy ra một album ảnh, ghi lại toàn bộ cuộc khống chế một tàu vũ khí Trung cộng ngoài khơi Cam Ranh. Không nổ súng, chỉ là cuộc đấu kiếm mà bác Đường đứng trấn một góc tàu, múa kiếm giành không gian cho quân cảnh phía sau bắc thang lên trấn áp. Tôi mê mẩn mỗi lần được bác mở cho coi từng tấm ảnh.
Tuân làm mất album đó rồi!
Mà bác Đường là người Catholic thuần thành, tín vào Đáng Sáng thế. Thuyết tiến hóa của Darwin khiến bác nổi giận. Bác không muốn Tuân và các em bị tiêm nhiễm. Nghĩa là không cho tụi nó đi học.
Ôi, cả một hành trình học chui trong kế hoạch bí mật của bác Dĩ, mẹ Tuân.
***
Tôi xuống dì Tuyền.
Ngày xưa, nhà dì và tôi đâu lưng lại. Dì và chú đều đẹp, đôn hậu, đều là dân văn nghệ Chiến tranh chính trị. Tôi lên Saigon học, mỗi lần về, buổi tối trước ngày đi, thế nào dì cũng qua dúi cho một ít tiền. Đồng tiền hiếm hoi có được những năm tháng đó, tôi nhận nó, lòng luôn quặn thắt.
Mà tự nhiên đứt gãy.
Dì dời nhà xuống xóm dưới. Loanh quanh cũng chỉ cây số ngàn. Tôi mải miết chinh phục thế giới. Các bạn tôi, em tôi, con của dì cũng lên Saigon chinh phạt. Dì, chú đi đi về về. Hơn ba mươi năm có lẽ, tôi không gặp. Và trong cái data tầng lớp lưu cữu, ký ức đó bụi bám dày lên.
Trước tết, chú mất. Cái tin buồn đó là nguyên cớ để trí não tôi tự phủi đi lớp bụi đó. Tết này tôi về, xuống thăm dì.
Chao ôi thằng Thắng, thằng Thắng, thằng Thắng đây mà!
Dì ôm chặt. Nước mắt, dĩ nhiên. Cả tôi nữa. Tôi, 58 tuổi rồi, đang thấy lại mình của triệu năm xưa, trẻ dại, vô ưu. Và dì Tuyền của tôi, vẫn là dì của triệu năm trước, đẹp, hiền, đầy ắp tình thương!
***
29 tết, Lương Hoàng Nam, bạn tôi, đăng trên trang của mình một chữ: Mẹ!
Tôi hiểu, thím Thông đã ra đi! Chú Cúc mất lâu rồi. Chú là bạn vong niên của cha tôi. Tù cải tạo về sớm, bỏ xứ, là nơi có cái cầu ngói nổi tiếng ngoài Huế, vô đây. Khi cha tôi được phóng thích, dăm bữa chú lại ghé uống trà, làm thơ Đường, ngắm hoa.
Ôi. Hoa.
Hoa của năm tháng áo rách, bụng rỗng. Cuộc phong lưu của một thế hệ không vì cái áo, chén cơm, tù đày mà buông xuống. Cha tôi tìm được một cây Quỳnh. Những đêm hoa nở, nhà tôi thành một điểm thưởng hoa, có trà có thơ, có ký ức thương nhớ xa xưa của các bác, các chú một thời.
Mạ tôi, 93 tuổi, nói với tôi, hay là tự nói với mình, khi nghe tin thím Thông mất ngày 29 Tết: Chết hết rồi trời ơi!
Tôi như sống lại cái ngày ngồi ngay ngã tư có cây phượng vĩ gãy nhánh, cùng anh Minh chờ bà con võng xác bác Đoan về. Bác Đoan, phụ trách chương trình Tao đàn của Đài Phát thanh Quân lực Việt Nam Cộng hòa ở Huế, đi "phá rừng trồng mới", bị cây đè.
Thằng nhỏ lớp sáu lúc đó là tôi, chịu sức nặng cái câu nói của anh Minh từ ngày đó tới giờ: "Ba anh không chết mô Thắng hỉ!".
Ôi, cái thế hệ đầu tiên dựng nên hình hài của một vùng đất, những người ít nhiều đều "nợ máu dân tộc", trốn thật xa ánh sáng và sự săm soi của đồng bào, tìm thấy nhau mà chia sẻ đùm bọc trước sự ghẻ lạnh, hắt hủi, giờ, đã gần biến mất hết rồi!




