TÔ ĐĂNG KHOA - HUYẾT ÂM, TINH ÂM, HUYỀN ÂM VÀ “NỐT LẶNG TỊCH LIÊU” TRONG THI CA NGUYỄN LƯƠNG VỴ

20 Tháng Năm 20199:45 SA(Xem: 4411)
TÔ ĐĂNG KHOA - HUYẾT ÂM, TINH ÂM, HUYỀN ÂM VÀ “NỐT LẶNG TỊCH LIÊU” TRONG THI CA NGUYỄN LƯƠNG VỴ


  
Năm 1973 tập san Văn Chương của Joseph Huỳnh Văn đăng bài thơ Âm Nhạc của Nguyễn Lương Vỵ viết năm 1970 (lúc ông mới 18 tuổi). Bài thơ gây tiếng vang lớn vào thời đó và như là một tiên tri cho sự hòa nhập có một không hai giửa Nguyễn Lương Vỵ và Âm: “Âm nhập cốt”
 
ÂM NHẠC
 
Ghi trên nền nhạc giao hưởng số 5 của Ludwig Van Beethoven
 
Âm nhập cốt
Âm binh phiêu hốt tiếng tru
Ta tru một kiếp cho mù mắt
Mù lệ đề thơ để nhớ đời
À ơi! Rượu đỏ hoàng hôn tắt
Ta dắt hồn ta túy lúy chơi!
 
Âm nhập cốt
Âm vàng mấy gót hồ ly
Vạn kỷ cung thương còn réo rắt
Còn ru ta mãi quãng đời xanh
À ơi! Ai hát ngoài phuơng Bắc
Chờ nhau tinh đẩu sáng long lanh
 
Tiếng đá ngân nga chìm giếng lạnh
Sói đầu mây bạc áng thiên tinh
Ô hô! Quan tái đà xao xuyến
Giọt máu năm xưa bỗng tượng hình
 
Lâng lâng tinh khí xuất luân hồi
Nguyệt thở thơ bay rợp nắng đồi
Khuya khoắt ta nằm trong lá mới
Dìu nhau hoan lạc quỷ nương ơi
 
Quỷ nương cốt đá ta cốt mây
Ôm ấp ngàn thu sương chớp vây
Trống mái uớt dầm cung bậc chín
Reo suốt thinh không đợt sóng gầy
 
Thạch cầm vỡ
Ngàn năm thơ thẩn với âm vang
Ta ôm trời đất sầu vô hạn
Thương nhớ Thanh Xuân mộng úa tàn
À ơi! Dâu bể chưa khô cạn
Chưa dứt tâm tư vọng ngút ngàn… 
03.1970
 
Quả thật như vậy, nếu phải tìm một chữ để nói tới cõi Thi Ca của Nguyễn Lương Vỵ, thì có lẽ chữ đó phải là chữ “Âm”.  Xuyên suốt gần 50 năm, từ lúc “âm nhập cốt,” Nguyễn Lương Vỵ trước sau như một, “mần thinh mần thơ”, tận hiến của đời mình cho Tinh Âm, Huyền Âm của Thi Ca, mà theo ông, là để tri ân Thi Ca đã cứu rỗi cuộc đời ông.
 
Giữa những “ngất gió loạn bùng” của cuộc đời, Nguyễn Lương Vỵ vẫn “lỳ đòn chờ âm rung”.  Không biết có phải nhờ hai đức tính cao quý này, tức là “lỳ đòn” và “kiên khổ” trong “sự chờ đợi” đến “nát tan tri ngộ”, mà một “cú nhảy sau cùng” đã được thành tựu một cách viên mãn: Tâm hồn của Nguyễn Lương Vỵ đã trở về Tịch Mịch như Nguyên Thủy Nguyên Sơ của nó. Ví như âm nhạc được cảm nhận nhờ những nốt lặng, cũng vậy, những huyết âm, tinh âm, huyền âm trong thi ca của ông được tri ngộ nhờ chúng được cưu mang và phát tiết từ tâm hồn cô độc tịch mịch của chính tác giả.
 
câu thơ nay kiên khổ
lì đòn chờ âm rung
chờ nát tan tri ngộ
chờ ngất gió loạn bùng
một cú nhảy sau cùng…
 (Năm Chữ Năm Câu, bài số 38)
 
Đọc thơ của Nguyễn Lương Vỵ, tôi hay có cảm giác rùng mình ớn lạnh, đôi khi nổi gai óc; tôi bàng hoàng thảng thốt trước “sức thấy sức nghe” của Thi Sĩ Người-Ma. Cái thấy và cái nghe của Nguyễn Lương Vỵ rất lạ thường:
 
Mẹ băng huyết giữa đồng
Đứa em chưa kịp tượng
Trôi tuốt ngoài thinh không
Chập chờn con bướm lượn... 
(Chiều Câm)
 
Hay là:
 
thấy và nghe máu vỡ
mái đình nằm nghiến răng
điện thờ nhang nín khói
tổ tiên tơ nhện giăng
một nùi không dám hỏi…
 
thấy và nghe bóng rung
bóng sân bừng bóng ngọ
bông bụt đỏ bập bùng
bóng mẹ gầy như gió
gió thổi nhòe chân dung…
 
thấy và nghe bóng hiện
chèo bẻo hót nghiêng chiều
nghiêng vai đời lỗi hẹn
bông gòn bay quá nhiều
bóng in trên thềm rêu… 
(Năm Chữ Năm Câu, bài số 24-26)
 
Tôi cảm nhận được những huyết âm (âm thanh của nước mắt và máu), những tinh âm, và những huyền âm của vũ trụ này. Những tượng số trong ngôn ngữ được Nguyễn Lương Vỵ tận tình hòa âm với chính kinh nghiệm xương máu của cuộc đời ông, và được thi triển qua bút pháp rất mực tài hoa, nhưng lại vô cùng đơn giản và gần gũi với đời sống. Những con âm dàn ra bài thơ một cách tự nhiên, được phơi bày trên “nền của sự tịch mịch” tạo nên một tác động ma quái lạ thường.  Những hình ảnh “mái đình nằm nghiến răng”, “điện thờ nhang nín khói” rất lạ, và rờn rợn.
 
Đôi khi bài thơ chỉ là tiếng ré đau xé lòng, nhưng tác dụng của nó là sự thanh lọc, lau sạch để trở về Tịch Mịch.
 
Ta nuốt huyết tươi âm

Nguyên âm
Lau sạch
Vết thương tâm… 
(Huyết Âm # 8)
 
Sống ở đời, va chạm nhiều, không ai trong chúng ta không có những “vết thương tâm”. Nhưng cách thức mà Nguyễn Lương Vỵ chăm sóc “vết thương tâm” của chính mình thật độc đáo: Ông “nuốt huyết tươi âm, ré nguyên âm, lau sạch vết thương tâm”.  Bài thơ là một “Tinh Tâm” của con người, tức là tiếng ré của khổ đau nhân thế. Sau tiếng ré, vết thương tâm được lau sạch. Tiếng ré cũng rơi vào Tịch Mịch, tâm lại sạch làu không tỳ vết. Bài thơ ngắn, nhưng bài học để lại thật lớn và ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
 
Có lúc Thi Sĩ lại tự mình “Độc ẩm huyết âm”:
 
Độc ẩm huyết âm nghe tinh âm
Mắt nguyên âm bừng ánh lửa câm
Đó đây có ai vừa thở hắt
Vừa bay theo sông núi rì rầm
 
Độc ẩm huyết âm thấy tiếng hót
Tiếng ca hoàng yến rót vơi đầy
Vũ trụ thì xanh và… vắng ngắt
Còn ta rêu bám tiếng cười… ngây!!!
 
Độc ẩm huyết âm lưng thẳng đứng
Câu thơ hứng chí múa xanh xương
Cốt tủy hòa thanh bay tám hướng
Mười phương bướm gáy rách tinh sương
 
(Vết thương ta ủ trong tiền kiếp
Mỗi chữ oan khiên hóa núi ngồi
Giọt huyết bơ vơ lơ láo nhịp
Lầm bầm cho đỡ nhớ
Vậy thôi!!!) 
(Huyết Âm # 22)
 
Bài thơ Huyết Âm #22 là một ví dụ về mối liên hệ huyền nhiệm những những  huyết âm, tinh âm, huyền âm và “nốt lặng tịch mịch” trong thơ của Nguyễn Lương Vỵ.
 
Độc ẩm huyết âm nghe tinh âm
Mắt nguyên âm bừng ánh lửa câm
Đó đây có ai vừa thở hắt
Vừa bay theo sông núi rì rầm
 
Hình ảnh mọt người đang ngồi “Độc ẩm huyết âm nghe tinh âm”, ngồi ôn lại những kinh nghiệm đầy máu và nước mắt (huyết âm-âm thanh của máu và lệ), và nghe ra cái “tinh âm” (tinh âm, âm thanh tinh túy của kiếp người) của sự thống khổ của thân phận người. Chỉ một câu thơ Nguyễn Lương Vỵ đã cảm ứng được cái phần cốt lõi cũa sự hiện hữu con người trên cõi đời này từ cổ chí kim.
 
Nổi thống khổ “huyết âm” quá lớn, ngôn ngữ cũng đành bất lực: “Mắt nguyên âm bừng ánh lửa câm”. Lửa “huyết âm”, ánh lửa câm thiêu đốt tâm can, nhưng ngay lập tức, chỉ trong một hơi thở hắt, nỗi khỗ cũng tan biến theo sông núi rì rầm.
 
Thi Sĩ cười ngây, làm thơ theo phong cách “con chim đến từ xứ lạ, ngứa cổ hát chơi”(ý thơ của Xuân Diệu):
 
(Vết thương ta ủ trong tiền kiếp
Mỗi chữ oan khiên hóa núi ngồi
Giọt huyết bơ vơ lơ láo nhịp
Lầm bầm cho đỡ nhớ
Vậy thôi!!!)
 
Hơn ai hết, có lẽ Nguyễn Lương Vỵ là người nếm cái hương vị cô độc đến tận cùng. Ông đã tự mình đẩy cái cô độc đó tới tận bờ của “Tịch Mịch Uyên Nguyên” và an trú tâm hồn mình ở chốn đó. Chính sự lặng thinh đó là nền tảng cho Huyết Âm thăng hoa thành Tinh Âm và Phơi Bày trong cõi Thi Ca của Nguyễn Lương Vỵ như là những Huyền Âm.  Vì thế, muốn đi vào cõi thơ của Nguyễn Lương Vỵ, đọc giả cũng cần có một chút trãi nghiệm về âm thanh của máu và lệ, và quan trọng hơn hết là biết chú tâm vào nhửng “nốt lặng tịch mịch” trong thơ của ông.

Nốt lặng đó có thể đến từ một “bụi ớt ở quê nhà” trong ký ức lem nhem nào đó của chính chúng ta:
 
HỌC LẶNG THINH
 
Tưởng nhớ một bụi ớt ở quê nhà
 
I.
 
cuối đời cố gắng học lặng thinh
ngồi im nghe thơ lắng trong kinh
phương bối ngân dài xanh địa phủ
đài sen rung nhẹ trắng thiên tinh
hợp tấu chúng sanh bay rạng rỡ
hòa âm vũ trụ cháy lung linh
cảm động bóng chim chuyền bụi ớt
đỏ au tiếng hót bỗng rùng mình.
 
II.
 
bỗng rùng mình câu thơ gửi lại
vài âm lục trúc rụng trên đồng
chùm bông nắng lụa nồng hương tóc
búp lá mưa trăng ấm tấc lòng
trùng hiện từng giây bưng mặt hỏi
khắc ghi vạn thuở siết tay mong
mới hay rõ một trong tâm tưởng
thinh lặng trào lên giọt máu hồng.
 
III.
 
giọt máu hồng ngát hương máu tươi
thơ không đủ gọi đã lâu rồi
nhân gian vốn ảo hóa huyễn mộng
quán trọ vẫn rình rang tuồng đời
mồ côi mồ cút trời thương đất
không đến không đi ma nhớ người
chậc lưỡi làm chi cho rách việc
học lặng thinh và lặng thinh thôi... 
(10 Bài Thơ Đường Luật, Tác Phẩm Chưa In)
 
mới hay rõ một trong tâm tưởng
thinh lặng trào lên giọt máu hồng

giọt máu hồng ngát hương máu tươi
thơ không đủ gọi đã lâu rồi
 
Vậy đó, Huyền Âm tượng số của Thi Ca cũng không đủ gọi Huyết Âm, cũng không chứa nổi Tinh Âm.  Đành vậy, như Thi Sĩ vẫn cứ làm thơ:
 
Đầu cổ độ cố nhân lùa ẩn ngữ
Đuôi tân thanh rung trận gió sơ đầu
 
Hay là:
 
Tri ân thi nhân ngồi lau cổ độ
Chữ nén huyền âm Tượng Số ngân dài
 
Chính vì thơ không đủ gọi, không đủ sức chuyên chở Tinh Âm cho nên nó cần có “độ nén”.  Những bài thơ của NLV hầu hết đều có đầy đủ các yếu tố trong câu thơ trên:  Chúng có độ “nén” của một nội lực rất thâm hậu trong từng con chữ, có sự hiện hiện của những “huyền âm”, những “Tượng Số”, và quan trọng hơn cả là khi phối trí lại với nhau trong cái toàn thể của âm vận Thi Ca Việt thì chúng tạo nên độ “ngân dài” trong tâm thức của độc giả.  Chính “độ ngân dài” này là thước đo đích thực về giá trị các tác phẩm Thi Ca Tư Tưởng trước thử thách khắc nghiệt của thời gian và sự quên lãng.  
 
Hoàng hôn muôn thế kỷ sau
Dứt khoát
Thơ
Còn
Đỏ
Au…
 
(TUYỂN TẬP THƠ 4-HUYẾT ÂM)
 
Mỗi chữ mỗi kiếp cháy sáng rực
Thâm âm thâm u từ lâu nay
 
Những thâm âm thâm u, những Huyền Âm Tượng Số, những Tinh Âm, Huyết Âm Thống Khổ của nhân loại, về hội tụ trong cõi Thi Ca Nguyễn Lương Vỵ, trong bối cảnh của vũ trụ Tịnh Mịch Im Lạng. Sự phối trí đó luôn cho đọc giả như tôi những cái rùng mình toát lạnh mồ hôi khi đọc thơ của Nguyễn Lương Vỵ. Hình ảnh của bà mẹ, trong Huyết Âm Mẹ, một bài thơ hay và cảm động mà mỗi lần đọc tôi đều bị rùng mình ớn lạnh:
 
HUYẾT ÂM MẸ 

1.
 
con về bên mẹ nghe huyết âm
nghe tủy xương réo rắt mưa dầm 
vết hằn năm tháng bâng khuâng hỏi
bao nhiêu ly tán với ly tan
 
2.
 
nhớ không hết nấm mồ viễn xứ
chân đã run và lưng đã còng
nụ cười dúm dó lòng chưa nhẹ
mẹ vẫn ngồi khắc vợi thương mong
 
3.
 
mẹ vẫn ngồi lẩm bẩm một mình
chiều sẫy thai trời đất động kinh
lửa bầm hơ tạm cơn mê sảng
than cháy tê nhòa câu vãng sanh
 
4.
 
mẹ vẫn ngồi nhẫn nha chuyện cũ
hơn trăm lần chỉ một chuyện thôi
vườn hoang nhà trống đồng trơ rạ
lá khóc đưa ma quạ oán trời
 
5.
 
con về bên mẹ thấy da mồi
thấy vườn sương tưởng khói nhang trôi
nhện giăng cành ổi nao lòng giếng
chuồn chuồn lúng liếng giậu mồng tơi
 
6.
 
nhớ không hết gò tranh dốc sỏi
màu thu đông tội lắm đất cằn
sắc xuân hạ thương dùm nhau với
những sầu đau chia sớt cho chăng
 
7.
 
mẹ vẫn ngồi tươi rói nhìn con
tròn chín mươi tuổi hạc còn... son
nên con mãi dại khờ bên mẹ
ôm bàn tay nắng ấm ngập hồn
 
8.
 
mẹ vẫn ngồi chiều hôm chưa tắt
mà đèn khuya hiu hắt đâu đây
bão trong tim nhịp đời se thắt
câu hát bay lên nhạc rụng đầy
 
9.
 
con về bên mẹ nghe huyết âm
nghe tủy xương réo rắt mưa dầm
vết hằn năm tháng không còn hỏi
một đóa bông trời đỏ lặng câm 
Vu Lan, 08.2016
(Kỷ niệm chuyến về Việt Nam, mừng Mẹ đại thọ 90 tuổi).
 
(*) Trích trong tập thơ Huyết Âm của tác giả, ấn hành năm 2008.
 
Năm mươi năm mần thinh mần thơ, làm bạn với cô liêu, “ré” nguyên âm để lau sạch vết thương cho chính mình và cho cả nhân thế. Kể từ lúc “âm nhập cốt”, chấp nhận ném cuộc đời mình tận hiến cho Thi Ca, Người Ma, Nguyễn Lương Vỵ đã đem cái Huyết Âm (âm thanh của máu và lệ) chuyễn hóa chúng thành Tinh Âm và Huyền Âm của ngôn ngữ Thi Ca. Chính ông đã Hòa Âm Âm Âm Âm chúng lại với nhau để tự mình di về miền Tịch Mịch Câm Lặng:
 
HÒA ÂM ÂM ÂM ÂM...
 
A A A
U U U
Vô tận A
Vô tận U
 
Ảo âm chôn bóng đò mù
Tinh âm sấp ngửa sặc sừ
Hòa âm ấm lạnh A U
 
UUU
AAA
Gió bạt tai
Âm rền máu
 
Mẹ đẻ đỏ loe tiếng khóc
Càn khôn tìm về ngay chóc
Vũ trụ đùn ngay một bọc!
 
Âm âm âm
AAA
UUU
Câm câm câm
 
Chỉ biết tri âm là đây
Ngáp dài một cái tròn đầy
Xương tàn cốt lụi òa bay
 
A A A
U U U
Hú mù A
Hú mù U
 
Chỉ biết tri tình ấm lạnh
Hòa âm suốt kiếp chưa tạnh
Lù đù suốt kiếp chơi mạnh… 
12.2004
 
Thoạt kỳ thủy là Âm, sau đó là có (A) và không (U), và sau cùng là Câm!
 
Âm âm âm
AAA
UUU
Câm câm câm
 
Xin Cám ơn Thi Sĩ Nguyển Lương Vỵ. Xin cảm tạ Huyết Âm, Tinh Âm, và Huyền Âm, và sau hết xin cùng với Thi Sỹ Nguyễn Lương Vỵ cảm tạ Cô Liêu. Bởi không có Cô Liêu, sẽ không có Huyết Âm, Tinh Âm, và Huyền Âm gì cả.
 
CẢM TẠ CÔ LIÊU
 
I.
 
cuối đời xin cảm tạ cô liêu
mần thơ được nhiêu mừng bấy nhiêu
khuya khoắt đèn khêu thêm bóng lạ
sớm hôm nắng ướt đẫm hương yêu
máu xương xa lắc kêu thương mãi
thân xác già nua nhắc nhớ nhiều
quê nhà niên thiếu nằm nghe đất
dế gáy rân ứa mật chín chiều.
 
II.
 
ứa mật chín chiều rung chín mận
hôn hoàng mấy bận đỏ hoàng hôn
truông mây thao thức hồn lau sậy
cánh gió u hoài giọng nước non
ma hú chiên đàn lay bóng mộ
quỷ tru bích huyết lạnh oan hồn
quê nhà nay vẫn rền trong ngực
một chớp trùng sinh một chấm son.
 
III.
 
một chấm son một tuyệt mênh mông
mần thơ suốt kiếp với phiêu bồng
cuống rốn sinh ly mang tiếng khóc
hình hài tử biệt gửi hư không
cảm tạ cô liêu tiêu tán nợ
tri ân câm điếc thiết tha mong
quê nhà hay nẻo xanh u mộng
mím chi sao mắt bỗng lưng tròng...
 
 
Tô Đăng Khoa
Calif., 5.2019

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Mười Một 201212:00 SA(Xem: 11310)
Võ Phiến có hai bài tùy bút viết về người Bình Định./Bài thứ nhất tựa đề Anh Bình Định và bài thứ hai, Người Bình Định./Bài thứ nhất (không ghi ngày) viết về sự "hấp dẫn" của "người anh" Bình Định
23 Tháng Mười Một 201212:00 SA(Xem: 10004)
Đầu tháng sáu, tôi khởi đọc tập thơ của Cung Trầm Tưởng do Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản trong năm. Nhà thơ gửi tặng. Kèm theo là bài viết của ông về pho sách Nhân Văn Giai Phẩm
16 Tháng Mười Một 201212:00 SA(Xem: 10814)
Cuối cùng là Thanh Nam đã có hàng nghìn địa chỉ trong mỗi người thân, trong mỗi chúng ta. Như câu văn bất hủ của Sacha Guitry: Nấm mộ của người đã mất nằm trong trái tim những người còn sống.
11 Tháng Mười Một 201212:00 SA(Xem: 11662)
Lần đầu tiên đọc bài ký Tháng Tư tội lỗi của Phạm Chi Lan, tôi cứ băn khoăn không thôi về hai chữ “tội lỗi”. Cả bút ký không có một chi tiết nào nói về điều này. Chỉ là những hồi ức dài
07 Tháng Mười Một 201212:00 SA(Xem: 16266)
Là một kiến trúc sư nhưng Đinh Trường Giang lại được những người say mê origami khắp thế giới biết đến như bậc thầy về nghệ thuật này. Anh vừa là khách mời danh dự tại cuộc gặp gỡ quốc tế
29 Tháng Mười 201212:00 SA(Xem: 10321)
Nguyễn Nhược Pháp có những thú vui thật giản dị, không giống bất cứ một thiếu gia nào thời bấy giờ. Chăm chỉ học hành, yêu quý mọi người, và biết tự lập. Viết xong một bài thơ, một truyện ngắn, vở kịch…
24 Tháng Mười 201212:00 SA(Xem: 14102)
Đêm nay, một đên đầu xuân năm Canh Tý tôi chong đèn ngồi viết mấy trang ký ức bên cạnh mấy đứa cháu bé đang say ngủ, lòng bâng khuâng nhớ lại những đêm xuân quãng 20 năm..
19 Tháng Mười 201212:00 SA(Xem: 10784)
Vượt qua cây cầu Calmette soi bóng trên một con kinh tù đọng, con kinh chạy dọc theo vùng ngoại vi tràn lan náo nhiệt nhất của Sài Gòn
12 Tháng Mười 201212:00 SA(Xem: 12286)
Vậy là cuối cùng, giải Nobel Văn chương 2012 đã có chủ, đúng một giáp từ năm 2000 khi Cao Hành Kiện
08 Tháng Mười 201212:00 SA(Xem: 13977)
Mong anh khoẻ, tiếp tục vung bút sảng khoái như câu nói của Van Gogh mà anh thích:“Tôi dùng những màu xanh, màu đỏ để tả sự say mê kinh khiếp của con người.
Du Tử Lê Thơ Toàn Tập/ Trọn bộ 4 tập, trên 2000 trang
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-360-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 16809)
Ông là một nhà văn nổi tiếng của miền Nam.
(Xem: 12044)
Từ hồi nào giờ, giới sinh hoạt văn học, nghệ thuật thường tập trung tại thủ đô hay những thành phố lớn. Chọn lựa mặc nhiên này, cũng được ghi nhận tại Saigòn, thời điểm từ 1954 tới 1975.
(Xem: 18825)
Với cá nhân tôi, tác giả tập truyện “Thần Tháp Rùa, nhà văn Vũ Khắc Khoan là một trong những nhà văn lớn của 20 năm văn học miền Nam;
(Xem: 9021)
Để khuây khỏa nỗi buồn của cảnh đời tỵ nạn, nhạc sĩ Đan Thọ đã học cách hòa âm nhạc bằng máy computer.
(Xem: 8118)
Mới đây, có người hỏi tôi, nếu không có “mắt xanh” Mai Thảo, liệu hôm nay chúng ta có Dương Nghiễm Mậu?
(Xem: 446)
Nói một cách dễ hiểu hơn, thơ ông phù hợp với kích cỡ tôi, kích cỡ tâm hồn tôi, phù hợp với khả năng lãnh nhận, thu vào của tôi, và trong con mắt thẩm mỹ tôi,
(Xem: 816)
Chúng tôi quen anh vào cuối năm 1972.
(Xem: 1016)
Anh chưa đến hay anh không đến?!
(Xem: 22337)
Giờ đây tất cả mọi danh xưng: Nhà văn. Thi sĩ. Đại thi hào. Thi bá…với con, với mẹ, với gia đình nhỏ của mình đều vô nghĩa. 3 chữ DU-TỬ-LÊ chả có mảy may giá trị, nếu nó không đứng sau cụm từ “Người đã thoát bệnh ung thư”.
(Xem: 13896)
Nấu cơm là công việc duy nhất trong ngày có liên quan đến cộng đồng gia đình, mà, gần đây Bố đã được miễn, vì cả nhà cứ bị ăn cơm sống hoài.
(Xem: 19085)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 7779)
Nhưng, khi em về nhà ngày hôm nay, thì bố của em, đã không còn.
(Xem: 8692)
Thơ Du Tử Lê, nhạc: Trần Duy Đức
(Xem: 8389)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 10935)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 30586)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 20742)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 25362)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 22810)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 21611)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 19667)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 17960)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 19147)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 16822)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 16014)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 24369)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 31806)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 34840)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,