TRẦN LÊ VĂN - Đọc Ngôi sao thơ Xuân Diệu

27 Tháng Tư 201512:00 SA(Xem: 4883)
TRẦN LÊ VĂN - Đọc Ngôi sao thơ Xuân Diệu

 

Tập thơ “Ngôi sao” chia làm hai phần: phần thứ nhất gồm những bài sáng tác vào khoảng 1945-1949, phần thứ hai gồm những bài sáng tác vào khoảng 1951-1955. Tất cả những sự việc lớn của dân tộc từ Cách mạng tháng tám cho tới nay đều được Xuân Diệu lấy làm đề tài: lòng yêu nước, chí căm thù, thiếu nhi anh dũng, gương anh hùng bất khuất, tình hữu nghị, phát động quần chúng, yêu hòa bình đấu tranh cho thống nhất… Thật là đầy đủ. Chúng ta chờ đón những rung cảm nồng nàn mãnh liệt của một nhà thơ trước kia đã có một thời “yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ”.

Xuân Diệu quan niệm rất đúng về vai trò của thi sĩ là có

Nhiệm vụ vẻ vang
Vần thơ tiếng mẹ võ trang tinh thần
(tặng nhà thơ Pa-thét Lào)

 

Chúng ta chờ đợi những vần thơ mới của Xuân Diệu viết bằng tiếng mẹ đẻ, có tác dụng “võ trang tinh thần”, góp phần bồi dưỡng tình cảm cho hàng triệu quần chúng nhân dân trong công cuộc đấu tranh và xây dựng gian khổ nhưng vinh quang này.

Tác dụng của thơ là vấn đề cảm xúc và thể hiện cảm xúc. Muốn phục vụ quần chúng thật đắc lực, thi sĩ dùng ngôn ngữ văn tự của dân tộc sáng tạo những hình ảnh, âm thanh thể hiện cảm xúc của tâm tư mình, kết tinh cảm xúc của hàng triệu tâm tư quần chúng nhân dân. Cảm xúc sâu sắc và nồng nhiệt ấy làm cho người ta yêu ghét đúng hơn, mạnh hơn, đẩy xã hội tiến mau hơn. Với cách đặt vấn đề như vậy tôi hân hoan bước vào thế giới tình cảm của tập “Ngôi sao”.

Từng câu lại từng câu, từng bài lại từng bài… thế mà giấy trắng mực đen vì sao vẫn chưa làm vang dội âm hưởng gì trong lòng tôi chỉ chờ rung động? Thi sĩ đã nói với tôi bằng rất nhiều lý trí. Lý trí ấy được phô diễn bằng những tiếng, những lời, những hình ảnh mà quần chúng khó cảm thông, nhiều khi có tác dụng bất ngờ làm nẩy những nụ cười khôi hài không đúng lúc.

Trong nhiều bài, nhất là ở phần đầu, Xuân Diệu đã vận dụng trí tuệ tạo nên những hình ảnh không thật, có khi rất ngây ngô.

Còn gì tha thiết bằng tình yêu đất nước. Thế mà Xuân Diệu (trong bài “Việt muôn đời”), cho ta biết, trước cảnh núi sông tươi đẹp, anh thấy:

Răng thánh tha như hai lượt phím đàn.

Tình cảm ấy có thật hay không, hình ảnh ấy có đúng hay không, tôi thiết tưởng chúng ta dễ tìm thấy câu trả lời. Nói đến miền Nam yêu dấu, tác giả tìm thấy một hình ảnh khá… lạ lùng:

Dáng em Nam mềm mại chiếc chân giò

 

Giả sử ta yêu thật thắm thiết một người nào, khi tả người yêu đó, ta không thể làm cho người khác buồn cười. “Chiếc chân giò” gợi cho người đọc một ý nghĩ gì? một tình cảm gì? một hình ảnh gì? Hay chỉ để người đọc thấy miền Nam yêu quý của chúng ta là một cái chân giò?

Để nói nước trời hòa hợp với nhau, Xuân Diệu tả:

Nước bông bống họa với trời se sẻ

Và chú thích: bông bống là cá bống, se sẻ là chim sẻ.

 

Thật là bí hiểm thay! Tứ thơ ấy, lời thơ ấy, không phải ở một vài bài đặc biệt: Lượm lặt khắp tập thơ, chúng ta thấy khá nhiều những tình ý kiểu cách giả tạo như thế. Đây là tả cảnh chiến sĩ đổ máu để tô thắm mùa xuân vĩnh viễn của dân tộc:

Ngừng tay lại, thấy sắc xuân còn nhạt
Rót máu thêm, cho đến lúc toàn hồng

(Xuân Việt Nam)

 

Đây là ca ngợi thiếu nhi anh dũng:

Thân bé cũng đăng hàng cứu quốc,
Các em để thẹn lắm đàn ông!

(Đàn chim dân tộc)

Người Việt Nam muốn hiểu câu này - mới nói là hiểu, chưa nói rung cảm vội - có lẽ phải dịch qua một thứ ngoại ngữ (tiếng Pháp chẳng hạn) may ra mới hiểu được rằng: các em anh dũng lắm, người lớn cũng phải thẹn vì thua kém các em. Tôi hiểu thế chưa chắc đã đúng. Vì người lớn thì gồm cả đàn ông và đàn bà. Thơ làm ra là để ai đọc? Có phải chỉ để cho một số người Việt hiểu tiếng Pháp đọc đâu. Lối nói ấy cũng không phải biểu hiện tinh thần quốc tế. Tấm lòng yêu dân tộc gắn liền với tinh thần quốc tế. Tiếng nói của dân tộc là một phương tiện truyền cảm rất mầu nhiệm đối với quảng đại quần chúng. “Chỉ có bằng hình thức dân tộc mới có thể phát triển văn hóa xã hội chủ nghĩa. Đời sống tương lai là đời sống nẩy nở phồn thịnh các dân tộc, các ngôn ngữ và mọi nền văn hóa dân tộc” (thơ ca Liên Xô, báo cáo của Vuốc-gun ở Đại hội lần thứ II các nhà văn Liên Xô).

Tất nhiên ngôn ngữ của dân tộc không phải là một cái gì đời đời cố định.

Nhà thơ, nhà văn nói tiếng nói của dân tộc đồng thời làm cho ngôn ngữ dân tộc phong phú thêm lên nhưng không làm lệch lạc cái bản sắc của ngôn ngữ dân tộc. Những thi hào cổ điển của dân tộc đã cho chúng ta một kinh nghiệm. Nguyễn Du, Hồ xuân Hương học chữ Hán rất sâu mà đã viết những tác phẩm bằng tiếng mẹ đẻ - thật là tiếng mẹ đẻ - làm cho quần chúng ham thích hàng trăm năm nay. Tất nhiên người ta yêu, nhớ thơ Nguyễn Du, Hồ xuân Hương không phải chỉ vì vấn đề ngôn ngữ.

Còn chuyện hình ảnh tất nhiên là một phần quan trọng trong hình thức biểu hiện của nhà thơ. Mà hình thức gắn liền với nội dung, “gắn liền với nhân sinh quan của nghệ sĩ. Nếu ý tưởng không sáng sủa, hình thức không thể sáng sủa” (Vuốc-Gun - tài liệu trên). Nhà thơ luôn luôn sáng tạo, tìm tòi, không thể nào bằng lòng với một số hình ảnh công thức, nhưng chỉ có cảm xúc thật mới làm ra những hình ảnh rung động được lòng người. Người con gái thời xưa khi yêu đến cao độ thì:

Ước gì sông ngắn một gang
Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi

Người con gái thời nay không mặc yếm nữa, có thể tìm thấy một hình ảnh khác rất hay mà rất dân tộc, nếu người ấy thật sự yêu. Những hình ảnh lý thú còn có tác dụng giáo dục mỹ cảm cho mọi người. Nói tóm lại, ngôn ngữ, hình ảnh nghĩa là hình thức biểu hiện chỉ đạt khi nào nội dung đạt.

Thời gian qua, Xuân Diệu đã cố gắng rất nhiều. Phần thứ hai của tập thơ chứng tỏ rằng: trong thực tế công tác, anh đã gần gũi quần chúng nhiều, bỏ lối nói kiểu cách, học tập tiếng nói quần chúng, ý thức phục vụ thật rõ ràng.

Lập trường tư tưởng nếu thấm sâu vào con người thi sĩ, ắt phải biến thành tình cảm; khi phô diễn thành vần điệu, không giữ nguyên hình thức lý luận. Tình cảm đó sẽ đi sâu vào lòng người và có tác dụng mạnh mẽ biết bao!

Song le có một điều đáng tiếc là thơ của anh vẫn còn quá nặng về lý trí.

Ta thử đọc:

Hăm ba tuổi trẻ sáng trong
Chị Cúc
Người con gái quang vinh nước Việt”
Máu của chị chúng tôi mang bất diệt
Giết quân thù cho đến lúc thành công
(Chị Cúc)

 

Kháng chiến còn gian khổ
Nhưng mở đường thắng lợi bao la
(Ta chào Vôn-ga Đông)

Càng đấu tranh thảo luận
Tình thân mến càng sâu
Không hiểu sao lúc trước
Chúng mình thành kiến nhau

Ấy vì tư tưởng cũ
Đem hồn ta trát bùn
Chui mình trong vỏ cứng
Ta tự phụ rằng khôn
(Tặng đồng chí tâm giao)

Những mong Người hơn trăm tuổi dài lâu,
Bền như núi, lãnh đạo toàn thế giới
(Thương tiếc Sta-lin)

 

Máy bay đưa tận ngang trời
Đường xe lửa phóng liên hồi ngày đêm
(Đi tới Mạc-tư-Khoa)

 

Thông ngâm, sông cũng long lanh
Nước non rất đỗi an lành
Một buổi trưa của Mẹ
Hoa giam ríu rít trong mành thời gian.

 

Sương uống mãi chẳng bao giờ hết sáng
Của trời cao chói lói mỗi triều ngày
(Việt muôn đời)

 

Họ đứng lên giật lấy núi ngàn xuân
Sông vĩnh viễn, họ ùa vào cướp được

Xuân trời đất xây bằng hoa bằng lá
Người Việt-nam xây bằng súng bằng gươm
(Xuân Việt Nam)

 

Đây là Tiếng Nói Việt-nam…”
Sáng tinh sương đã dậy làm triêu dương

Đây là tiếng nói Việt-Nam…”
Nước non chưa đủ, còn tham biển trời
(Tiếng nói Việt-Nam)

Cụ Hồ, ấy Việt Nam sinh đẻ
Nên nghìn xưa còn lại vẻ nhà nho.

Còn nhiều nữa. Đọc thơ như vậy, tôi có cảm tưởng đọc xã luận diễn ca. Xuân Diệu khuyên ta, dạy ta, khái luận về cái này cái khác, bằng cách giảng thuyết khô khan bí hiểm. Không hiểu sao viết đến đây, tôi chợt nhớ tới những bài thơ của cụ trạng Nguyễn bỉnh Khiêm. Nhất là đọc hai câu sau đây trong bài “Chiếc gối”:

Kháng chiến có ai dùng đến gối
Miễn sao sinh hoạt gọn và nhanh

Thơ làm như vậy thì chắc cũng “gọn và nhanh” lắm.

Qua những câu thơ trích dẫn trên đây, ta thấy lề lối biểu hiện khi thì cầu kỳ kiểu cách, khi thì nhạt nhẽo khô khan. Hai trạng thái đó bề ngoài tuy có vẻ khác nhau nhưng chỉ là kết quả của một nguyên nhân chung: thiếu cảm xúc. Chỉ khi nào người thi sĩ yêu thương tha thiết mới có giọng nói tha thiết làm chúng ta rung cảm nhất. Tôi yêu mến xiết bao bài thơ: “Tặng làng Còng”

Hạt cơm ăn của bà con
Là tình, là nghĩa, là ơn thấm nhuần.
Tay anh tôi nắm, tôi cầm,
Khổ xưa gạn kể, đau ngầm phanh phơi;
Khóc chung nước mắt ngẹn lời,
Cười chung sung sướng với người nông dân
Thuộc đường, thuộc ngõ, quen chân
Ớt cay, mắm mặn là dân làng rồi.
Mẹ nhìn con bước xa xôi,
Con nhìn mẹ khuất trên đồi lá xanh.
Sớm nay xa cách lều tranh
Tưởng như khúc ruột còn quanh làng Còng.

Người nông dân nào đọc những câu đó chẳng cảm thấy thấm thía rằng Xuân Diệu yêu mình, chia sẻ nỗi vui buồn với mình. Đó mới thật là thơ của đại chúng và dân tộc. Nhưng tiếc rằng những bài như thế lại ít có trong tập Ngôi sao.

Thơ của cá nhân thi sĩ làm ra, khi đã ra đời là của chung của quần chúng, quần chúng có quyền phê phán, phê phán xây dựng để kiện toàn cái của báu của mình. Để kết luận bài nhận xét nhỏ này, tôi lại xin mượn lời của Vuốc-gun:

“Tác phẩm do thi nhân sản sinh ra, nhưng nó bắt đầu sống trong ký ức của nhân dân. Một tác phẩm không được nhân dân ưa chuộng không thể sống lâu. Thế mà các nhà thi sĩ của chúng ta thường quên cái sự thật lớn lao và cao quý đó.”

Hà-nội ngày 15-4-56

________

L.T.S. Giải thưởng văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-55 đã lựa chọn được nhiều tác phẩm có giá trị. Tuy nhiên một vài tác phẩm còn gây nên những thắc mắc nhất là tập thơ “Ngôi sao” của Xuân Diệu. Bản báo nhận được nhiều bài của bạn đọc gửi tới phê bình tập thơ đó. Trên đây là ý kiến của bạn Trần lê Văn. Chúng tôi đăng lên để phản ảnh một trong những ý kiến phê bình xây dựng của quần chúng đối với tập “Ngôi Sao”.
(Nguồn Nhị Linh)
 

Ý kiến bạn đọc
13 Tháng Giêng 201911:09 CH
Khách
Thơ hay Văn hay "gì gì" đi nữa, tối thiểu cũng phải chứa đựng "Đạo lý làm người"
Trong "muônvàn đạo lý làm người” có “Đao lý về tình yêu tra gái”.
Không có Đạo lý về tình yêu Trai Gái cho mọi thời đại, mà mỗi thời đại có “Mầu Đạo” riêng.
Xuân Diều đã không viết được về “Đạo Yêu” đó với bất ký “Model” nào đặc sắc.
Ngôn ngữ Thơ của Ông chẳng có gì “Độc đáo”, chỗ “Độc đáo” thì chẳng Đẹp tý nào.
Hãy khen ông vừa vừa thôi
Lê Sỹ Thiệp 14-1-2019
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
15 Tháng Bảy 20219:43 SA(Xem: 208)
Phụng là một người bạn trung hậu, trọng thâm tình và chữ tín. Anh nói ít, nghĩ nhiều, làm đầy đủ. Anh giao du với ai, cũng để lại mỹ cảm khi rời xa, không quá đậm đà nhưng bền bỉ.
09 Tháng Bảy 20219:42 SA(Xem: 157)
Mai Thảo vẫn hằng sống nếu chúng ta và các thế hệ mai sau vẫn còn rung động trước văn chương của ông, một con người cô đơn nhất cõi đời, chỉ ngửa mắt lên toan cưới sao trời làm vợ, dù ông đã nằm dưới nấm cỏ xanh.,.
29 Tháng Sáu 202110:17 SA(Xem: 212)
Vậy mà văn truyện Đỗ Vẫn Trọn, và chính điều này là điều tôi ngạc nhiên và muốn nói nhất với bài vào tập “Nỗi Niềm Mang Theo”, lại không có một dấu vết nào của văn chương đứt lìa, chữ nghĩa thất lạc.
24 Tháng Sáu 20212:48 CH(Xem: 165)
Người ta quý trọng ông như quý trọng một nhân sĩ trong làng văn, cái lòng rộng lớn cả cõi Nam Kỳ cũ.
19 Tháng Sáu 202112:24 CH(Xem: 187)
Nhiều hiện tượng văn học miền Nam trước 1975 thực ra đã đến với độc giả miền Bắc từ rất sớm, bằng những cách thức và con đường khác nhau…
30 Tháng Năm 20213:38 CH(Xem: 230)
Ông Nguyễn bảo (hai lần) là ngành kịch bế tắc, ông Vũ cho là kịch “đang đi lên và không hề bế tắc.” (1) Hai bên không biện giải; sự khác biệt không được giải quyết.
04 Tháng Năm 20214:40 CH(Xem: 464)
Tôi nhận được thư của một người bạn yêu thơ - vừa thương vừa giận tôi lắm
30 Tháng Tư 20213:35 CH(Xem: 438)
Các nhân vật được vẽ trong khung cảnh hay bộ dạng cường điệu, thể hiện tính cách hay những việc họ đang làm.
06 Tháng Tư 20214:44 CH(Xem: 457)
Tô Thùy Yên là thi sĩ Nam có giọng Bắc. Ông không giống ai, không giống người Bắc nào; ông bắt kịp cái điêu luyện của ngôn ngữ Bắc, thế thôi.
30 Tháng Ba 20212:32 CH(Xem: 591)
Có những người bề ngoài ra vẻ thầy, ông lắm, nhưng ta đừng vội xét họ, phải đợi họ nói ít lời mới biết được giá trị của họ.
Du Tử Lê Thơ Toàn Tập/ Trọn bộ 4 tập, trên 2000 trang
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 12887)
Có thể nhiều người quên rằng trước khi trở thành họa sĩ nổi tiếng, có tranh được trưng bày tại nhiều bảo tàng viện quốc tế, họ Lê vốn là một nhà thơ.
(Xem: 19465)
Một trong những cây bút nữ, khiến chúng ta phải nghiêng mình, trân trọng trước tài năng, đó là Bùi Bích Hà, truyện ngắn.
(Xem: 2855)
Nhạc phẩm đầu tiên ông sáng tác lúc mới 13 tuổi là bài ‘Mẹ Tôi’,
(Xem: 13059)
Ông là một nhà văn nổi tiếng của miền Nam. Tuy nhiên, những người biết ông qua chương trình phát thanh “Nhạc chủ đề” (trên đài Saigon, cùng với nhạc sĩ Vũ Thành An), lại nhiều hơn, những người biết ông qua văn chương. (Còn Tiếp)
(Xem: 16893)
Chúng ta cùng biết, Nhà thơ Lê Đạt là một trong những kiện tướng của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, giữa thập niên 50
(Xem: 12458)
Chúng tôi quen anh vào cuối năm 1972. Bạn tôi đem anh về
(Xem: 165)
Tôi chỉ gặp ông dăm ba lần, cũng như những cuộc gặp gỡ của các cá nhân nhà văn Việt Nam khác, nhưng câu chuyện về cuộc đời này và về thơ ca dài gấp ngàn lần thời gian những cuộc gặp gỡ của những cá nhân nhỏ bé trước vũ trụ vô tận này.
(Xem: 419)
Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Hà Nam, miền Bắc Việt Nam.
(Xem: 561)
Lắng nghe một đoạn, tôi nhận ra giai điệu quen thuộc. Đó là một sáng tác của Từ Công Phụng phổ từ thơ Du Tử Lê, Ca khúc "Trên Ngọn Tình Sầu."
(Xem: 548)
Khi anh chết/ Không đem anh ra biển/ Mà chôn anh vào/ Huyệt mạch của quê hương
(Xem: 13138)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 2879)
Nhưng, khi em về nhà ngày hôm nay, thì bố của em, đã không còn.
(Xem: 3464)
Thơ Du Tử Lê, nhạc: Trần Duy Đức
(Xem: 3997)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 3888)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 23829)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 18211)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 15880)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 19254)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 17045)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 15631)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 13331)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 12260)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 12417)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 11587)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 11233)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 18245)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 25220)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 30034)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 21496)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 23319)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 26381)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 25607)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 21677)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
2,829,610