NGUYỄN TRƯỜNG TRUNG HUY - Những ngón tay bắt được của trời (*)

21 Tháng Mười Một 201810:51 SA(Xem: 130)
NGUYỄN TRƯỜNG TRUNG HUY - Những ngón tay bắt được của trời (*)

VanBia

Tạp chí Văn (trước 1975), ngoài là bệ phóng / bệ nâng của nhiều tên tuổi văn chương Việt, còn là một gallery thu nhỏ, một gallery chỉnh chu và ấn tượng nơi nhiều bìa báo (và cả những phụ bản) là những tác phẩm nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao của dàn hoạ sĩ thời danh – những con người với phước phần khi được ban cho “những ngón tay bắt được của trời” (* từ của Mai Thảo gọi họa sĩ Duy Thanh trong một bài viết trên tạp chí Sáng Tạo).

DuyThanh
Họa sĩ Duy Thanh



Những vóc dáng “em gầy như liễu trong thơ cổ”, nhưng gương mặt đẹp-đau-thương, những đường nét khêu gợi trí tưởng, những mảng màu siêu thực… trên bìa của Văn, khiến tạp chí này - ngoài giá trị nội dung không thể phủ nhận - còn bật lên với những giá trị thẩm mỹ và có thể được xem là một trong số ít những tạp chí văn chương được chăm chút nhất về mặt “mỹ thuật” của làng báo chí “ngàn hoa đua nở” trước 1975.

Tính từ 1954 – 1975, có thể chia “thế giới” hội họa - tạo hình thành ba làn sóng, trong đó có thể kể đến đợt đầu tiên gồm lứa của Nguyễn Gia Trí, Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân, Tạ Tỵ... đợt thứ hai là lứa Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Duy Thanh... và Hội Họa Sĩ Trẻ có thể coi là đợt sóng thứ ba của hội họa Việt Nam.

dinhcuong-duythanh-thaituan-ngocdung_virginia-1997
Từ trái: Đinh Cường, Duy Thanh, Thái Tuấn, Ngọc Dũng (Hình Đinh Cường)



Những hoạ sĩ tài danh của ba đợt sóng này đều đã tung lên những triều cường về màu sắc, hình ảnh, bố cục… trên bìa của một tạp chí thuần văn chương như Văn.

Riêng về Hội Họa Sĩ Trẻ , những tên tuổi nổi trội trong Hội có thể kể đến: Ngy Cao Uyên, Hiếu Đệ, Cù Nguyễn, Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Nguyễn Phước, Nguyễn Lâm, Mai Chửng, Đinh Cường, Hồ Thành Đức, Trịnh Cung…

HoaSiTre
Từ trái: Đinh Cường, Nguyễn Phước, Nguyên Khai, Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Trịnh Cung

 

Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam – sở dĩ được thành lập, do “tham vọng” trước mắt là từ chính những cá nhân đứng ra thành lập hội, và từ những “nhận ra” - ví dụ như sự-nhận-ra được đề trên brochure ngày 10 tháng 11, 1973 cho cuộc triển lãm tại tại gallery La Dolce Vita thuộc khách sạn Continental.

"Nhận thấy nghệ thuật Việt Nam, nói riêng là hội họa và điêu khắc, trong hơn nửa thế kỷ nay, kể từ ngày có trường Mỹ Thuật Đông Dương do người Pháp thành lập tại Hà Nội, vẫn chưa đáp ứng được với thực trạng Việt Nam. Cảm hứng nghệ thuật có thể nói là quá nghèo nàn vì chủ nghĩa buông thả, vì chủ nghĩa cá nhân chật hẹp không tương xứng với hoàn cảnh Việt Nam với những vấn đề vô cùng lớn lao và phong phú.

Những kiểu cách sai lầm từ trước tới nay vẫn chưa được mổ xẻ; hoặc dùng những đặc tính gọi là Á Đông để làm căn bản nghệ thuật mà thật ra chỉ là những hình thức lệ thuộc Tàu, Nhật... hoặc nhờ cậy vào nghệ thuật Âu Châu, đặc biệt là trường phái Paris, lấy nó làm tiêu chuẩn để suy luận và làm việc, nhốt gọn nghệ thuật Việt Nam trong cái giỏ 'thuộc dịa' nên những công trình thực hiện chỉ là cái gì thứ yếu đối với nghệ thuật Tây Phương."

Hãy cùng nhìn lại từ điểm khởi đầu, từ chính lời tường thuật của một nhân chứng sống: Hoạ sĩ Trịnh Cung (trao đổi điện tín với nhà văn Phan Nhiên Hạo năm 2009)

TrinhCung-Soi
Họa sĩ Trịnh Cung (Hình: Soi)

 


“Có lẽ do sự xuất sắc của một số họa sĩ trẻ, tuổi từ 22 đến 30, từng đoạt những giải thưởng mỹ thuật quan trọng của quốc gia như Giải Hội Họa Mùa Xuân bắt đầu từ năm 1959, Giải Mỹ Thuật Quốc Tế Sài Gòn Lần Thứ Nhất vào năm 1962, và Giải Văn Học & Nghệ Thuật Tổng Thống vào năm 1966 (?) mà hai nhân vật, Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng (nay đang định cư ở Canada), và họa sĩ Ngy Cao Uyên (nay đang định cư ớ vùng Hoa Thịnh Đốn), đã khởi xướng việc qui tụ lại những tài năng trẻ và thành lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam.

Hai ông, Ngy Cao Uyên, sĩ quan Bộ Tư Lệnh Không Quân, và cũng là một họa sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ, cùng với ông Nguyễn Tấn Hồng, một trí thức yêu hội họa, bộ trưởng Bộ Thanh Niên, đóng vai mạnh thường quân của hội. Theo trí nhớ của họa sĩ Cù Nguyễn, cuộc họp ban đầu để bàn về việc lập hội gồm có Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng, các họa sĩ Ngy Cao Uyên, Vị Ý, Cù Nguyễn, Âu Như Thụy và nhạc sĩ Phạm Duy. Thế nhưng khi họp để chính thức thành lập hội tại nhà Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng trên đường Phan Thanh Giản, Quận 3, Sài Gòn, ngoài ông Nguyễn Tấn Hồng chỉ có chúng tôi, gồm các họa sĩ và điêu khắc gia Ngy Cao Uyên, Hiếu Đệ, Cù Nguyễn, Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Nguyễn Phước, Nguyễn Lâm, Mai Chửng, Đinh Cường, Hồ Thành Đức và tôi, Trịnh Cung. Lúc đó là tháng 11 năm 1966. Họa sĩ Ngy Cao Uyên được bầu làm chủ tịch lâm thời của hội, Nguyễn Trung và Mai Chửng giữ vai phó, tôi làm tổng thư ký, các anh còn lại là ủy viên ban chấp hành. Kể từ đó, tất cả chúng tôi đều là thành viên sáng lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, và những cuộc họp ban chấp hành thời kỳ chưa có trụ sở riêng đều diễn ra tại nhà Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng.

Nhớ lại những ngày đầu tiên ấy, trừ Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng và họa sĩ Ngy Cao Uyên, cả hai đều đã khá già dặn và có sự nghiệp, họa sĩ Hiếu Đệ là lớp đàn anh, chúng tôi còn lại đều rất trẻ, trên dưới 25 tuổi. Trừ Ngy Cao Uyên và Cù Nguyễn là hai họa sĩ tự học, còn lại đều là sản phẩm một nửa hoặc toàn phần của hai trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định và Huế. Phần đông chúng tôi đều thích sống tự do dù có bấp bênh, sớm có xu hướng nghệ thuật hiện đại và đã gặt hái hầu hết các giải thưởng hội họa quốc gia quan trọng, nên tạo được sự chú ý của dư luận văn nghệ…”

Riêng tôi, với những người họa sĩ chưa-bao-giờ-gặp-mặt nhưng đã tiếp xúc với các sáng tác của các ông… cũng mạo muôi xin chia sẻ một số ấn tượng riêng với một vài tên tuổi:

  • Ngy Cao Uyên – người góp mặt trong tập nhạc/ thơ/ họa trứ danh (ngay khi xuất hiện, cũng là một phát kiến mới trong làng xuất bản sách vở) cùng với Phạm Duy – Cung Trầm Tưởng: tập Tình Ca – nơi đúng nghĩa thi ca nhạc họa cùng thăng hoa, Ngy Cao Uyên đã mang những “người yêu xóm học”, những “người em mắt nâu / tóc vàng sợi nhỏ” hiển bày trước mắt công chúng, làm dâng thêm nỗi khát khao “vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau”…

  • Mai Chửng – nổi tiếng với bức ”Tượng đài Bông Lúa” - biểu tượng của nền văn minh nông nghiệp, là tác phẩm đồ sộ bằng đồng lá đã được dựng tại thị xã Long Xuyên (1970). Sau tượng đài Bông Lúa Con Gái (1970), không thể không nhắc tới một tác phẩm để đời khác của Mai Chửng, bức tượng Mầm (1973) cao 1.50m, làm bằng cả ngàn vỏ đạn súng trường được hàn lại, biểu tượng cho sự sống vẫn vươn lên giữa tàn phá của chiến tranh và được Mai Chửng cho triển lãm năm 1974 tại gallery La Dolce Vita trong khách sạn Continental trên đường Tự Do Sài Gòn.

  • Nguyễn Trung – cũng có khá nhiều tranh xuất hiện trên bìa tạp chí Văn… Lúc còn là sinh viên trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định đã đạt được những giải thưởng hội họa quan trọng: Huy chương bạc Triển Lãm Hội Họa Mùa Xuân 1961, huy chương vàng Triển Lãm Hội Họa Mùa Xuân 1963. Tranh của Nguyễn Trung ”với những đường nét, bố cục vững chãi, chặt chẽ, với một kỹ thuật chững chạc để nhào trộn màu sắc, đơn giản mà vẫn táo bạo, rất cổ điển mà đầy tinh thần sáng tạo và tìm kiếm mới mẻ, nghĩa là với một màu sắc đặc biệt, một bút pháp cá biệt, anh luôn luôn chế ngự được thế giới mình tạo ra” (Huỳnh Hữu Ủy nói về Nguyễn Trung trong tập Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại – 2008).

  • Nghiêu Đề - tôi ấn tượng với những bức tranh của ông dùng làm bìa của tạp chí Tình Thương (của Sinh viên Y Khoa), của các tác phẩm nhà văn Ngô Thế Vinh (trong tác phẩm Vòng Đai Xanh, Triết nhân vật chính - nguyên gốc họa sĩ sau trở thành phóng viên chiến trường có bóng dáng Nghiêu Đề trộn lẫn với cái tôi của tác giả), và ngay cả phong vị không lẫn vào đâu tranh sơn dầu được vẽ vào những năm 1960-1970, như những bức: Đêm, Tỏ Tình, Vùng Thanh Thoát, và điển hình là bức Chân Dung đoạt huy chương bạc Hội hoạ Mùa Xuân 1961. Ngoài ra, ông còn viết truyện ngắn – truyện của ông cũng thật nhiều đường nét, sắc màu… trong đó tôi thích nhất một truyện mang tên Vực Hồng. Ông cũng đã ra một tập sách mang tên Ngọn Tóc Trăm Năm (Sông Mã xuất bản 1965)

  • Trịnh Cung – tác giả của bài thơ phổ nhạc nổi tiếng Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu, tác giả của nhiều hình bìa sách. Cuộc triển lãm chính thức đầu tiên của Trịnh Cung khai mạc tại Sài Gòn năm 1962, cùng với hai họa sĩ Tôn Nữ Kim Phượng và Đinh Cường, tại Phòng Thông Tin Đô thành Sài Gòn. Tuy chỉ là một cuộc triển lãm chung nhưng đã mở màn cho nhiều cuộc triển lãm riêng và chung tại quốc nội lẫn hải ngoại: Paris (1963), Tunis (1964) Hoa Kỳ (1969). Trịnh Cung là hội viên sáng lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, từng giữ chức vụ Tổng Thư Ký cho hội này. Ông được huy chương đồng trong cuộc triển lãm Hội họa Mùa Xuân năm 1963 và huy chương bạc trong năm 1964. Họa phẩm Mùa Thu Tuổi Nhỏ của Trịnh Cung là tác phẩm đầu tiên được Việt Nam Cộng Hòa chọn gởi tham dự  triển lãm quốc tế, và được trao bằng danh dự. Và với tôi, tính đến thời điểm hiện tại, Trịnh Cung là một trong số ít những nhân chứng thuộc dòng “họa sĩ” trước 1975 còn chịu khó viết / kể / nhận định… để những lớp hậu bối sau này còn có thêm tư liệu và một điểm nhìn về tình hình sinh hoạt của giới họa sĩ – tạo hình miền Nam trước 1975 / những trào lưu ảnh hưởng / những định hình, định hướng… của các trường phái hội họa, tạo hình… tuôn chảy trong lòng xã hội những năm cũ ấy.

  • Đinh Cường: Nhắc đến Đinh Cường, người yêu nghệ thuật nghĩ ngay đến dòng tranh thiếu phụ đài các, ẩn hiện bên thành quách rêu phong; trong cảnh có người và trong người có cảnh, rất mỹ miều và sang trọng... Ông tốt nghiệp Trường cao đẳng mỹ thuật Huế năm 1963, đến năm 1964 thì tốt nghiệp khoa hội họa Trường cao đẳng mỹ thuật Gia Định. Ngoài ra, ngay từ khi còn ở trong nước, Đinh Cường cũng đã sáng tác rất nhiều thơ và cũng xuất hiện khá nhiều trên Văn - tôi tạm gọi đó là dòng thơ-văn-xuôi-Đinh-Cường, nơi thủ pháp thơ đã thành một định danh cho ông: “thi sĩ của hoài niệm”.

  • Hồ Thành Đức – tác phẩm của ông xuất hiện khá nhiều trên bìa các tập nhạc và cả bìa sách. “Những đường viền của tóc hay của môi trên chân dung người nữ trong tranh ông thường được chăm chút cẩn thận với một dụng ý khá rõ là nhằm tăng thêm nữ tính trong từng vết cắt của màu sắc. Ít khi Hồ Thành Đức để cho người nữ của mình im lặng hay bị buộc phải im lặng. Ông đưa hơi thở của nét, của màu, của ánh sáng vào nhân vật khiến người nữ trong tranh ông chừng như muốn bước ra, tung tăng với gió ngàn hay bước ra chỉ trong một khoảnh khắc để đối thoại với người đang đối diện với mình” (Mặc Lâm viết về tác phẩm Hồ Thành Đức)


Biết bao vật đổi sao dời, nhưng định (con đường) (chính) danh cho Hội – như trong lời khai từ, xem như là Tuyên Ngôn - viết ở mục Nhận Định trong cuốn sách ra mắt Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam (năm 1967), bây giờ, nhìn lại, và rõ ràng hơn là nhìn vào chính những sáng tác của các tác giả trong Hội, không ai có thể chối từ những giá trị còn để lại cho đất nước này hiện tại, đó là tinh thần “luôn luôn đổi mới để theo kịp đà tiến của những khuynh hướng đi đầu và nuôi tham vọng hình thành một hội họa tổng hợp đặc biệt giữa kỹ thuật Tây Phương và tinh thần Đông Phương” và cả “Theo đuổi khuynh hướng nghệ thuật tân kỳ nhất, ở gần chúng ta nhất: Khuynh hướng đã có sẵn ngay trong lòng chúng ta, ngay trong lòng quần chúng Việt Nam." (Tuyên ngôn lần thứ 2 – năm 1973)

Trong Vựng Tập của buổi triển lãm 1969 của Hội, Nguyễn Trung phát biểu một ý tưởng đơn giản, về cái nhìn của ông với nghệ thuật, nhưng giờ đây, nhìn lại, chúng ta cũng có thể xem như là một bộc bạch của những người làm-nghệ-thuật nói chung và những-họa-sĩ mang đến những cái đẹp cho đời nói riêng:


Dường như chỉ nghệ thuật mới có thể mang tình yêu và sự bình an trở về với tâm hồn ta. Dường như chỉ có nó mới có thể mang đến ta sự cứu rỗi ấy trong khi càng ngày chúng ta càng dấn thân vào cuộc sống văn minh thiếu nhân cách, địa ngục của giận dữ, thù hằn và bạo động đến nỗi chúng ta quên dần những lời xin lỗi và thứ tha, những cử chỉ yêu thương và thông cảm”

TTYen-content

Mong thay, sẽ có thêm những Hội Họa Sĩ, nhiều tâm hồn đẹp, thêm nhiều “ngón tay bắt được của trời” để cùng phất lên lá cờ sáng tạo, không chỉ riêng gì cho lãnh vực mỹ thuật – tạo hình của quê hương. Mặc dù biết rằng (như trong bài viết của Tô Thùy Yên Tô Thùy Yên viết trong brochure của Việt Art Gallery tại Houston): “Mọi thành tựu của người nghệ sĩ, cụ thể là một bức tranh hay một bài thơ, cùng lắm cũng chỉ là một thành tựu tạm bợ nhất thời để rồi vứt bỏ, quên đi, không luyến lưu, cũng như mọi trạm đến của người tu sĩ cũng chỉ là một chặng đường đang vượt qua, vượt qua nữa, không ngừng..." (***)

Nguyễn Trường Trung Huy

huyvespa@gmail.com

Sài Gòn, 21/11/2018

 

(***) Tô Thuỳ Yên viết trong brochure của Việt Art Gallery tại Houston tổ chức cuộc triển lãm tao phùng của bảy trong số những thành viên Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam – năm 2013 tại Hoa Kỳ, gồm Nguyễn Trung, Trịnh Cung, Nguyễn Lâm, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Phước, Nguyên Khai, Đinh Cường)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
12 Tháng Mười Hai 201810:34 SA(Xem: 37)
Doãn Quốc Sỹ vẫn là người tự do, khi đứng giữa sự độc ác mà vẫn giữ cho tâm mình được thơm lành, giữ cho lòng mình không oán hận, giữ cho tiếng nhạc thiều vang dậy trong tim…
10 Tháng Mười Hai 20189:52 SA(Xem: 57)
“Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng” là một câu thơ của Thầy Tuệ Sỹ mà tôi cứ đọc đi đọc lại mãi trên những chuyến phiêu bạt, giang hồ khắp đó đây.
04 Tháng Mười Hai 20181:25 CH(Xem: 77)
Tự nghìn xưa thi ca và âm nhạc đã thể hiện tiếng nói mang niềm rung cảm dạt dào, sâu đậm của con tim.
27 Tháng Mười Một 20189:31 SA(Xem: 115)
Đặng Thế Phong có hai mảnh đời khác nhau. Cuộc đời của ông khi bố ông còn sống, và cái thời kỳ sau khi bố ông mất độ năm 1935.
19 Tháng Mười Một 201810:28 SA(Xem: 121)
Trong thơ tình, tình yêu là kẻ chiến thắng sau cùng. Chứ không phải lý trí, đạo đức, chính trị hay lịch sử. Bao giờ và ở đâu cũng thế.
13 Tháng Mười Một 20189:20 SA(Xem: 92)
Trong số những tên tuổi ngời sáng đó, tôi chú ý đến Hoàng Lộc
05 Tháng Mười Một 20189:47 SA(Xem: 230)
Ngoài sự khiêm cung ra, tôi đoán ông cũng muốn bày tỏ lòng yêu mến ngôi trường mà ông đã sống trong đó gần 5 năm như một sinh viên bình thường.
03 Tháng Mười Một 20189:33 SA(Xem: 135)
Trần Doãn Nho, tôi không biết gì nhiều về anh, ngoại trừ những truyện ngắn trên Văn đọc được trước năm 75. Và chỉ biết mang máng anh đã từng là nhà giáo như chúng tôi.
22 Tháng Mười 201812:58 CH(Xem: 240)
Cá nhân, tôi muốn mượn câu thơ trên của cụ Nguyễn Du, để chỉ cõi-giới thi ca, một người tên: Thanh Thảo
16 Tháng Mười 20189:43 SA(Xem: 294)
Bây giờ còn có người mà kể lại (chuyện Tao Đàn); mai đây không biết còn kể lại với ai?
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 19581)
Ký sự văn nghệ dưới đây của nhà thơ Du Tử Lê, viết về thi sĩ Đinh Hùng, được trích từ tác phẩm “Năm Sắc Diện, Năm Định Mệnh” do nhà Tao Đàn Saigon, ấn hành tháng 6 năm 1965.
(Xem: 20348)
Nói đến những hoạt động của thi sĩ Đinh Hùng mà không nói tới ban Tao Đàn, theo tôi là một thiếu sót lớn.
(Xem: 19097)
Nếu tính từ năm Đinh Hùng in “Mê Hồn Ca” 1954, cho tới “Đường Vào Tình Sử” 1961 thì hai thi phẩm cách nhau gần 7 năm trời.
(Xem: 22206)
Năm 1954, thi sĩ Hồ Dzếnh, giám đốc nhà xuất bản “Tiếng Phương Đông,” sau đổi lại là “Bình Minh,” cho in thi phẩm “Mê Hồn Ca” của Đinh Hùng.
(Xem: 22172)
Thi sĩ Đinh Hùng sinh ngày 3-7-1920 tại làng Trung Phụng, ngoại ô thành Hà Nội. Ngôi làng này nằm ngay sau lưng khu phố Khâm Thiên.
(Xem: 360)
Tôi rất cảm phục cách Thi Sĩ đặt tựa đề cho bài thơ, “đêm, treo ngược tôi: dấu chấm than!”
(Xem: 5597)
Du Tử Lê nói ông chỉ muốn im lặng. Trong phần hỏi-đáp rất ngắn dưới đây, nhà thơ Du Tử Lê có giải thích về sự im lặng của ông, với nhiều ngụ ý.
(Xem: 827)
Đầu tháng 6-2018, tuyển thơ Khúc Thụy Du của nhà thơ Du Tử Lê ra mắt độc giả trong nước.
(Xem: 12143)
Đứng giữa gian hàng, trên một bục gỗ cao phủ khăn trắng nuốt, người thiếu nữ trông nổi bật hẳn lên với trang phục tuy rực rỡ sắc mầ
(Xem: 1639)
Theo thiển ý cá nhân tôi, thơ Du Tử Lê khá "hiền!"
(Xem: 524)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 600)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 20443)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 15244)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 12816)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 16077)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 14128)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 12578)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 10582)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 9769)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 9931)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 9105)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 8680)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 9991)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 15141)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 21582)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 27337)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 18817)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 19935)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 24140)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 21914)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 18300)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
1,998,038