Trước Sau Đều Của Riêng Mình

23 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 6650)
Trước Sau Đều Của Riêng Mình

 

Tuyển tập thơ TRƯỚC SAU của thi sĩ Võ Chân Cửu, được NXB Thư Ấn Quán ấn hành, tháng 9 năm 2011, bao gồm các tập thơ Tinh Sương (NXB Thi Ca, Sài Gòn, 1972,) Đại Mộng (NXB Nhị Khê, Sài Gòn, 1973,) Ngả Tư Vầng Trăng (NXB Trẻ, Sài Gòn, 1990,) và các bài thơ khác chưa in thành sách.

 

Thi sĩ Võ Chân Cửu tự bạch, anh mần thơ từ khi còn tuổi thiếu niên. Mần thơ từ rất sớm, nhưng sức thơ lại vượt xa cái tuổi của mình, mà thơ lại hay, thơ thứ thiệt nữa thì thật là hiếm và quý.

 

Võ Chân Cửu in tập thơ đầu tay, Tinh Sương, năm 1972, cách nay gần 40 năm, lúc ấy, thi sĩ cũng vừa tròn 20 tuổi. Gần 40 năm sau, ngồi đọc lại Tinh Sương, tôi vẫn còn niềm rung cảm, xúc động mạnh như thuở nào.

 

Tinh Sương, đúng như tên gọi, một giòng thơ lung linh, trong veo trong vắt, nhất khí từ bài đầu đến bài cuối. Âm vang có một chút gì đó hiu hắt, lành lạnh, trầm trầm. Sắc màu có một chút gì đó vừa ảo diệu , vừa mênh mông. Chữ trong mạch thơ của thi sĩ hình như cố ghìm lại những tiếng nấc thảng thốt của buổi đầu đời, khi bắt đầu cảm nhận được cái cô liêu, côi cút, bơ vơ của kiếp người. Tinh Sương, tuy với số lượng thơ chắt lọc, 25 bài (phần lớn là thơ bốn chữ [6 bài,] thơ năm chữ [12 bài;] còn lại là thơ sáu chữ [4 bài,] thơ bảy chữ [1 bài,] thơ song thất lục bát [1 bài] và một tiểu trường ca Quẩy Đá Qua Đồng, viết theo lối bài hành cổ phong với phần mở đầu và phần khép lại bằng thơ lục bát,) nhưng về phần thi pháp, Võ Chân Cửu đã chứng tỏ được một bản lĩnh vững vàng, tầm cỡ ngay từ thời tuổi trẻ.

 

Nàng đội nón cời

Đi về phương bắc

Thẳng đứng mặt trời

Soi không thấy mặt.

 

(Vô Tình)

 

Nhịp hai, bốn chữ, bốn câu. Hình ảnh, tứ thơ rất lạ. Nàng nào vậy? Nàng Thơ? Nón cời? Soi không thấy mặt. Bốn câu mở đầu của tập thơ, tỉnh rụi, lạnh lùng quá đỗi. Câu cuối hun hút bóng hình, buông xuống một âm trắc dứt điểm nghèn nghẹn, thảng thốt. Vô Tình ư? Không hẳn. Nàng Thơ thách thức thi sĩ đó thôi! Thi sĩ lập tức hồi đáp:

 

Trăm năm bá láp

Nghìn năm điêu tàn

Đi về Tịch Hạp

Soi bóng trăng ngàn.

 

(Soi Bóng)

 

Vỡ lẽ ra, Soi Bóng trong cõi Tịch Hạp thì sẽ thấy rõ mặt nhau. Bóng trăng ngàn chỉ là biểu tượng thôi. Tâm thức của thi sĩ tự soi lấy cái bóng “kép” của mình. Cõi Tịch Hạp là mái nhà xưa, cái chốn ban sơ của âm và sắc, cái chốn hỗn mang của thiên địa mịt mù. Khởi kỳ thủy là Lời hay là Âm? Hỡi Nàng Thơ huyền ảo kia! Vậy nên:

 

Sớm về phía mây tụ

Chiều tới nơi mây tan

 

Phải nơi nầy chốn cũ

Trên mặt đất còn hoang

 

Trời rộng đau gió hú

Ôi hư không tràn lan.

 

(Một Ngày Bộ Hành)

 

Thi sĩ cứ bước đi, bước đi. Nhịp một nhịp hai nhịp ba trùng trùng duyên khởi. Cái bóng của thiền sư Không Lộ ở đâu đây? Trường khiếu nhất thanh hàn Thái Hư – Hú dài một tiếng lạnh cả cõi Hư Không. Thi sĩ chắc là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Cái chốn cũ là cái chốn nào trong tiền kiếp phôi pha? Câu hỏi vu vơ hoang địa, tịch mịch vọng lời đáp. Đúng rồi:

 

Lên đồi theo gió rượt

Cao cao nghìn bóng mây

Mây chạy dài sau trước

Bóng hư linh thì lướt

Hồn vạn kiếp thì bay

Một chút bụi tà huy

Nằm trong lá lung lay

Ngoa ngoe như mới đẻ


Rung mình lên thật nhẹ

Mười lăm năm qua rồi

Sương trắng ngập qua đồi

Ngõ về như muốn ngợp

Muốn gọi, chưa ra lời

Bóng tà bay cái vụt.

 

(Tà Huy)

 

Tuổi mười tám đôi mươi đắm mình dạo chơi trong cõi tịch mịch của buổi tà huy, nhìn thấy và lắng nghe, không kịp gọi thì bóng tà bay cái vụt. Nhạy cảm trong từng cái thấy cái nghe, hạt bụi cũng có linh hồn, cũng có dáng dấp sinh linh ngoa ngoe quẫy đạp. Là ta đấy ư? Là em đấy ư? Lời chưa kịp gọi, cái vụt của chớp nháy không gian thời gian kia đã chia biệt rồi!

 

Theo mây đi một buổi

Trời đất nhẹ phiêu phiêu

Va đầu tưởng đụng núi

Chỉ đụng bóng sương chiều

Một mặt trời lầm lũi

Trên trần gian tiêu điều.

 

(Đường Vô Núi)

 

Tứ thơ thản nhiên, lạ lẫm, pha chút ngông cuồng của tuổi trẻ. Không hề gì! Cô liêu và cô độc quá thôi! Vô núi là vô cái cõi tịch mịch sấm rền. Thi sĩ chỉ biết:

 

Vô núi nghe núi rền

Tự hỏi rồi tự đáp

Về ù tai cả đêm

Canh tà chỉ buồn ngáp.

 

(Thâu Đêm)

 

Bài ngũ ngôn tứ tuyệt hình như có tiếng đồng vọng của Trúc Lâm Yên Tử? Trong sấm sét rền vang của tịch mịch, thi sĩ hốt nhiên vỡ lẽ ra, tự hỏi rồi tự đáp. Tự đáp rồi thì ù tai cả đêm. Buồn ngáp là để hóa giải cái ù tai hay là niêm hoa vi tiếu sau cái buồn ngáp ấy? Bài thơ hay là bài kệ? Chẳng biết nữa. Thi sĩ hay thiền sư? Lại càng chẳng biết luôn. Chỉ biết rằng: Thi sĩ đã sớm chạm vào cõi vô ngôn kỳ bí nhất của kiếp người. Vô ngôn đâu hẵn là không lời! Xin mời bạn đọc chậm rãi và tưởng tượng thêm tiếng mõ cầm canh hòa điệu theo:

 

Chùa cổ bên sông

Mưa lồng chính điện

Mưa dìu mái cong

Về thăm năm cũ

Rã chút hương tàn

Trên bia mộ hoang

Trên cành đa phế

Hồn đựng bình vôi

Và trong ngẫu tượng

Than đất than đá

Than cỏ than cây

Cùng con dế nhỏ

Gáy suốt đêm dài

Gáy suốt mười năm

Chết vùi dưới rễ

Còn mãi kêu em

Bên kia bờ sậy

Sông là nắng mai

Ủ lòng em nhạt

Gáy suốt mười năm

Nở hoa bát ngát

Em đeo trong tim

Em cài lên ngực

Một mai hết rồi

Em biết còn ai

Gọi vầng trăng đục

Chở tình lên mây

Mây tan mây hợp

Mây trắng đầy trời

Tan nát nửa đêm

Xoáy theo tiếng mõ

Vọng từ muôn xưa

Hiện con bướm nhỏ

Đậu bâu áo phai

Ru trong nắng tịnh

Nước mắt như mưa

Cuốn hai bờ mắt

Mắt khép một bờ

Em thấy trăm năm

Một tiếng chuông đồng

Em thấy nghìn năm

Một câu chiêu niệm

Em nhìn vạn kỷ

Một vùng như sương

Chùa cổ bên sông

Mưa mưa không cùng

Mưa mưa kỳ cựu

Những ngày nước dâng

Mưa êm nhập định

Từng mảnh rêu phong

Anh quên kinh kệ

Ra chảy với sông

Tìm em vạn ngả

Bạc áo nâu sồng

Kiệt trên đời cũ

Ơi em vô hình

Một đời bay vụt

Hỏi em bóng dáng

Sông nước chập chùng

Nước xô thiên địa

Chùa cổ bên sông.

 

(Chùa Cổ Bên Sông)

 

Theo tôi, đây là bài thơ xuất thần nhập thánh nhất trong Tinh Sương. Thi sĩ viết như nhập đồng, chảy trôi một mạch như khúc đồng dao, nhịp theo tiếng mõ thánh thót như những giọt sương trời, vang vang, lắng lắng. Chùa cổ, sông, là biểu tượng đầy ẩn dụ, động và tĩnh, xa và gần, mộng và thực, dìu dặt âm vang, quyện vào nhau trong tiết điệu lung linh, chập chùng, trùng điệp. Bài thơ có thể tụng với nhịp ngân nga trầm bổng, có thể hát lên một mình trong đêm thanh vắng. Tụng hay hát, nhả giọng khoan thai từng chữ, câu chuyện kể sẽ ánh lên một âm vang và sắc màu vừa thực vừa mộng. Tụng hay hát, sẽ bật lên tiếng ca xang bi mẫn giữa bóng đời dâu bể trầm luân. Em là ai? Là duyên nghiệp trùng trùng, là vết thương tâm bạc áo nâu sồng/kiệt trên đời cũ của kiếp người ảo hóa mong manh. Bài thơ thấm đẫm mùi Đạo mà ngan ngát hương Đời nên không có chỗ dừng. Càng tụng, càng hát, càng lung linh sắc màu Sông nước chập chùng/Nước xô thiên địa/Chùa cổ bên sông…

 

Tinh Sương còn có bài thơ 5 chữ, Quê Nhà, 148 câu, là bài thơ khá dài hơi, ý tứ hàm súc, nội lực thâm trầm. Tôi nghĩ, thi sĩ đã cảm ứng và phát tiết, khai mở và sáng tạo thêm mạch ngầm sâu thẳm mà 2 câu thơ của Huy Cận chưa nói hết: Một chiếc linh hồn nhỏ/Mang mang thiên cổ sầu. Phải chăng, đó cũng là thiện duyên đối với những tâm hồn đồng điệu. Đồng điệu, nhưng đường bay trong cõi văn chương, mỗi người mỗi ngả riêng tây. Quê nhà, một nơi chốn nào đó trên mặt đất đìu hiu, vòng quay sinh tử dập dìu, đến rồi đi, đi rồi đến, mong manh phận người bụi bặm, hẩm hiu trăng tàn nguyệt tận giọng nói lời chào, Mây bay từ thiên cổ/Cùng nhau trời đất tan/Ta một linh hồn nhỏ/Vơ vẩn miền Đại Hoang.

 

Khép lại Tinh Sương, bài thơ Quẩy Đá Qua Đồng, gồm 120 câu, là một tiểu trường ca độc đáo. Khổ đầu khai mở bằng 10 câu lục bát để vào chuyện. Tiếp theo, 102 câu phá thể theo kiểu một bài hành cổ phong. Cuối cùng, khép lại bằng 8 câu lục bát. Như một câu chuyện kể, một huyền thoại nơi một vùng địa linh nào đó (không biết có phải là nơi chôn nhau cắt rốn của thi sĩ, hư cấu thêm, muốn ký thác tâm sự chăng?) Trong bài thơ, đá là một vật linh, cất lên tiếng nói, tiếng ngâm ngợi, ca xang giữa thinh không. Giọng đá u trầm:

 

Soi cái hình ta, hề

Minh mông

Soi suốt thiên thu, hề

Thinh không

Trứng con thần ưng

Phơi trên non chóp

Ta nằm muôn năm

 Sao chưa thay lốt

Ta uống tinh sương hề bao nhiêu hớp

Thốt với bao la hề khuya hay trưa

Con thần ưng ơi con thần ưng

Con trăn tinh ơi con trăn tinh

Ngươi chơi cùng ta hề

Sao ta chưa bay lên cao hề

Trời xanh xưa hẹn ta hề

Trời xanh nay lừa ta hề

Đất trích chiêm bao

 Cho ta hát ngao hề

 

Đá tâm tình với thần ưng và trăn tinh. Đá hát cho thần ưng vỗ cánh. Đá múa cho trăn tinh phun ngọc. Rồi khi cao hứng, đá bèn:

 

Bày ra một cõi chưa từng có hề

Trời xanh ghen hề đất ghen hề

 

Thần ưng và trăn tinh đã bỏ đi. Đá tiếp tục độc thoại, tra vấn về bản thân, về mặt đất, trăng sao…Đá hát một mình, đá chơi một mình, đá nghe một mình, đá mộng một mình giữa bốn bề hư không lặng ngắt nhưng vẫn còn nặng lòng với nhân gian:

 

Trời xanh Nam Hải

Khói vi vu

Soi động hư vô

Mờ nhạt một bầu

Lặng ngắt mênh mông

Câu ca câu hát

Nghe ta xoay vòng

Thiên địa về đâu

 

Đá lắng tiếng ca, bài thơ khép lại:

 

Nằm nghe đá hát vô minh

Thơ thay con mắt ngó rình hóa công

Bóng ai quảy đá qua đồng

Sầu xưa uất nặng giữa lòng nhân gian.

 

Giọng nói, giọng hát u trầm của đá. Giọng của quỉ thi Lý Hạ đấy chăng? Tôi cũng chẳng biết nữa. Chỉ biết đây là một bài thơ kỳ dị, lạ lùng, ý thơ ảo diệu mùi vị Đạo học Đông phương huyền hoặc trong cái ý huyền chi hựu huyền. Thi sĩ ngơ ngác trước thềm sương của vũ trụ, rồi rùng mình hóa thân vào đá, đá hóa thân thành huyết lệ trùng trùng trong tiếng ca xang giữa bóng đời dâu bể. Bài thơ hóa thành mây trắng, bay đi về chốn tuyệt mù. Đọc bài thơ, nghe rờn rợn sống lưng, nghe óc tuôn trào nỗi nhớ không lời, không tên, không tuổi.

 

Tinh Sương, cũng là tinh huyết của thi sĩ.

 

Đại Mộng là tiếng ngân dài của Tinh Sương. Tiếp tục tra vấn, hồi tưởng bằng những ẩn dụ tượng trưng với những bài thất ngôn tứ tuyệt, lục bát bốn câu trầm tĩnh, đĩnh đạt hơn, sâu lắng hơn. Đặc biệt, một bài thơ khá dài, 58 câu, với 3 khổ điệp khúc dặt dìu trong một buổi Sáng Thinh Không:

 

Một con chó con, một vừng trăng sáng

Hai cõi trời im, một vùng biển cạn

Một con đường đèo sương đục lô nhô

Một chiếc hồn ma quẩn quanh vạn cổ

… 

Một con chó con, một vừng trăng sáng

Hai cõi trời im, một vùng biển cạn

Một chiếc hồn đơn mấy bè mây nổi

Hai con ngựa trắng một chiếc xe tang

Một con chó con, một vừng trăng sáng

Hai con ngựa trắng, một chiếc xe tang

Đất lành gió phủ mây trong mát

Vạn cổ nghe chăng, dưới gót nàng.

 

(Sáng Thinh Không)

 

“Nàng,” biểu tượng cho cái Đẹp hiu hắt của trần gian? Hay bóng ma thiên cổ thoáng ẩn thoáng hiện , mệnh hệ của kiếp người hư ảo mù tăm? Vết thương tâm đầu đời, vận vào hồn cốt chữ nghĩa, thấm vào mệnh của thi sĩ?

 

…Sáng thinh không, sáng dưới chân nàng

Trong lòng vạn đại đã tan hoang

U minh rờn rợn lên vai tóc

Bóng tà vạn thuở đã bay ngang

Sáng thinh không, sáng lặng ngát hương

Êm ả trần gian chợ phố phường

Một bàn tay vẫy trên non tuyết

Một tiếng cười vang cả bốn phương…

 

(Sáng Thinh Không)

 

Tôi đọc và nghe khí lạnh toát ra trong từng con chữ! Bài thơ đã vượt lên cái sự hay bình thường. Bài thơ đã đạt đến cái đỉnh lặng và lạnh của khắp cõi nhân gian. Thi ca đã chết trong thời đại cơ khí gầm gào? Tôi cũng chẳng biết nữa! Nhưng khi được đọc những giòng thơ như trên, tận đáy lòng tôi đang dậy lên một niềm bi mẫn khôn cùng. Cái Đẹp sẽ cứu chuộc thế giới. Ai đã nói như thế? Tôi quên mất. Nhưng tôi tin, tin lắm, cho dẫu là niềm tin hình như không có thật giữa thời buổi nhiễu nhương nầy.

 

Ngả Tư Vầng Trăng và những bài thơ khác trong tuyển tập, hương Đời nhiều hơn, thấm đẫm hơn, nhưng chẳng hiểu vì sao, tôi ít xúc động hơn so với Tinh SươngĐại Mộng, nhất là Tinh Sương.

 

Ta bước lên đường kêu gọi mãi/Nhớ người bạn cũ thuở anh niên… (Xuân Diệu.) Ôi cái thuở anh niên đẹp ngất. Ôi cái thuở anh niên một lần rồi thôi, không có chốn quay về. Góc biển xưa, khung trời cũ hanh hao. Qui Nhơn, Qui Nhơn ngập tràn nắng gió, mộng mị của một thời.

 

Trước Sau Đều Của Riêng Mình. Câu thơ duy nhất, thi sĩ ghi ở trang đầu tập thơ tuyển. Trước Sau như Một. Riêng mình. Riêng cái mối Nhất Dĩ Quán của một đời thơ. Thi sĩ, kẻ thọ mệnh điêu linh, mỗi người mỗi kiểu, cô liêu cô độc ngút ngàn. Có còn chăng là tiếng đồng vọng của cố nhân bên trời lận đận. Những trận gió bay đi mịt mờ tuổi dại, nhưng vẫn còn đây những giọt nắng của buổi sơ đầu hạnh ngộ. Quỷ ma đưa mãi lời thiên cổ/ Hiu hắt nghìn thu lạnh khí đồng…Tôi chẳng bao giờ dám quên. Vô cùng biết ơn thi sĩ.

 

Calif., cuối đông 2011.


NGUYỄN LƯƠNG VỴ

TRƯỚC SAU ĐỀU CỦA RIÊNG MÌNH…

 

Tuyển tập thơ TRƯỚC SAU của thi sĩ Võ Chân Cửu, được NXB Thư Ấn Quán ấn hành, tháng 9 năm 2011, bao gồm các tập thơ Tinh Sương (NXB Thi Ca, Sài Gòn, 1972,) Đại Mộng (NXB Nhị Khê, Sài Gòn, 1973,) Ngả Tư Vầng Trăng (NXB Trẻ, Sài Gòn, 1990,) và các bài thơ khác chưa in thành sách.

 

Thi sĩ Võ Chân Cửu tự bạch, anh mần thơ từ khi còn tuổi thiếu niên. Mần thơ từ rất sớm, nhưng sức thơ lại vượt xa cái tuổi của mình, mà thơ lại hay, thơ thứ thiệt nữa thì thật là hiếm và quý.

 

Võ Chân Cửu in tập thơ đầu tay, Tinh Sương, năm 1972, cách nay gần 40 năm, lúc ấy, thi sĩ cũng vừa tròn 20 tuổi. Gần 40 năm sau, ngồi đọc lại Tinh Sương, tôi vẫn còn niềm rung cảm, xúc động mạnh như thuở nào.

 

Tinh Sương, đúng như tên gọi, một giòng thơ lung linh, trong veo trong vắt, nhất khí từ bài đầu đến bài cuối. Âm vang có một chút gì đó hiu hắt, lành lạnh, trầm trầm. Sắc màu có một chút gì đó vừa ảo diệu , vừa mênh mông. Chữ trong mạch thơ của thi sĩ hình như cố ghìm lại những tiếng nấc thảng thốt của buổi đầu đời, khi bắt đầu cảm nhận được cái cô liêu, côi cút, bơ vơ của kiếp người. Tinh Sương, tuy với số lượng thơ chắt lọc, 25 bài (phần lớn là thơ bốn chữ [6 bài,] thơ năm chữ [12 bài;] còn lại là thơ sáu chữ [4 bài,] thơ bảy chữ [1 bài,] thơ song thất lục bát [1 bài] và một tiểu trường ca Quẩy Đá Qua Đồng, viết theo lối bài hành cổ phong với phần mở đầu và phần khép lại bằng thơ lục bát,) nhưng về phần thi pháp, Võ Chân Cửu đã chứng tỏ được một bản lĩnh vững vàng, tầm cỡ ngay từ thời tuổi trẻ.

 

Nàng đội nón cời

Đi về phương bắc

Thẳng đứng mặt trời

Soi không thấy mặt.

 

(Vô Tình)

 

Nhịp hai, bốn chữ, bốn câu. Hình ảnh, tứ thơ rất lạ. Nàng nào vậy? Nàng Thơ? Nón cời? Soi không thấy mặt. Bốn câu mở đầu của tập thơ, tỉnh rụi, lạnh lùng quá đỗi. Câu cuối hun hút bóng hình, buông xuống một âm trắc dứt điểm nghèn nghẹn, thảng thốt. Vô Tình ư? Không hẳn. Nàng Thơ thách thức thi sĩ đó thôi! Thi sĩ lập tức hồi đáp:

 

Trăm năm bá láp

Nghìn năm điêu tàn

Đi về Tịch Hạp

Soi bóng trăng ngàn.

 

(Soi Bóng)

 

Vỡ lẽ ra, Soi Bóng trong cõi Tịch Hạp thì sẽ thấy rõ mặt nhau. Bóng trăng ngàn chỉ là biểu tượng thôi. Tâm thức của thi sĩ tự soi lấy cái bóng “kép” của mình. Cõi Tịch Hạp là mái nhà xưa, cái chốn ban sơ của âm và sắc, cái chốn hỗn mang của thiên địa mịt mù. Khởi kỳ thủy là Lời hay là Âm? Hỡi Nàng Thơ huyền ảo kia! Vậy nên:

 

Sớm về phía mây tụ

Chiều tới nơi mây tan

 

Phải nơi nầy chốn cũ

Trên mặt đất còn hoang

 

Trời rộng đau gió hú

Ôi hư không tràn lan.

 

(Một Ngày Bộ Hành)

 

Thi sĩ cứ bước đi, bước đi. Nhịp một nhịp hai nhịp ba trùng trùng duyên khởi. Cái bóng của thiền sư Không Lộ ở đâu đây? Trường khiếu nhất thanh hàn Thái Hư – Hú dài một tiếng lạnh cả cõi Hư Không. Thi sĩ chắc là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Cái chốn cũ là cái chốn nào trong tiền kiếp phôi pha? Câu hỏi vu vơ hoang địa, tịch mịch vọng lời đáp. Đúng rồi:

 

Lên đồi theo gió rượt

Cao cao nghìn bóng mây

Mây chạy dài sau trước

Bóng hư linh thì lướt

Hồn vạn kiếp thì bay

Một chút bụi tà huy

Nằm trong lá lung lay

Ngoa ngoe như mới đẻ


Rung mình lên thật nhẹ

Mười lăm năm qua rồi

Sương trắng ngập qua đồi

Ngõ về như muốn ngợp

Muốn gọi, chưa ra lời

Bóng tà bay cái vụt.

 

(Tà Huy)

 

Tuổi mười tám đôi mươi đắm mình dạo chơi trong cõi tịch mịch của buổi tà huy, nhìn thấy và lắng nghe, không kịp gọi thì bóng tà bay cái vụt. Nhạy cảm trong từng cái thấy cái nghe, hạt bụi cũng có linh hồn, cũng có dáng dấp sinh linh ngoa ngoe quẫy đạp. Là ta đấy ư? Là em đấy ư? Lời chưa kịp gọi, cái vụt của chớp nháy không gian thời gian kia đã chia biệt rồi!

 

Theo mây đi một buổi

Trời đất nhẹ phiêu phiêu

Va đầu tưởng đụng núi

Chỉ đụng bóng sương chiều

Một mặt trời lầm lũi

Trên trần gian tiêu điều.

 

(Đường Vô Núi)

 

Tứ thơ thản nhiên, lạ lẫm, pha chút ngông cuồng của tuổi trẻ. Không hề gì! Cô liêu và cô độc quá thôi! Vô núi là vô cái cõi tịch mịch sấm rền. Thi sĩ chỉ biết:

 

Vô núi nghe núi rền

Tự hỏi rồi tự đáp

Về ù tai cả đêm

Canh tà chỉ buồn ngáp.

 

(Thâu Đêm)

 

Bài ngũ ngôn tứ tuyệt hình như có tiếng đồng vọng của Trúc Lâm Yên Tử? Trong sấm sét rền vang của tịch mịch, thi sĩ hốt nhiên vỡ lẽ ra, tự hỏi rồi tự đáp. Tự đáp rồi thì ù tai cả đêm. Buồn ngáp là để hóa giải cái ù tai hay là niêm hoa vi tiếu sau cái buồn ngáp ấy? Bài thơ hay là bài kệ? Chẳng biết nữa. Thi sĩ hay thiền sư? Lại càng chẳng biết luôn. Chỉ biết rằng: Thi sĩ đã sớm chạm vào cõi vô ngôn kỳ bí nhất của kiếp người. Vô ngôn đâu hẵn là không lời! Xin mời bạn đọc chậm rãi và tưởng tượng thêm tiếng mõ cầm canh hòa điệu theo:

 

Chùa cổ bên sông

Mưa lồng chính điện

Mưa dìu mái cong

Về thăm năm cũ

Rã chút hương tàn

Trên bia mộ hoang

Trên cành đa phế

Hồn đựng bình vôi

Và trong ngẫu tượng

Than đất than đá

Than cỏ than cây

Cùng con dế nhỏ

Gáy suốt đêm dài

Gáy suốt mười năm

Chết vùi dưới rễ

Còn mãi kêu em

Bên kia bờ sậy

Sông là nắng mai

Ủ lòng em nhạt

Gáy suốt mười năm

Nở hoa bát ngát

Em đeo trong tim

Em cài lên ngực

Một mai hết rồi

Em biết còn ai

Gọi vầng trăng đục

Chở tình lên mây

Mây tan mây hợp

Mây trắng đầy trời

Tan nát nửa đêm

Xoáy theo tiếng mõ

Vọng từ muôn xưa

Hiện con bướm nhỏ

Đậu bâu áo phai

Ru trong nắng tịnh

Nước mắt như mưa

Cuốn hai bờ mắt

Mắt khép một bờ

Em thấy trăm năm

Một tiếng chuông đồng

Em thấy nghìn năm

Một câu chiêu niệm

Em nhìn vạn kỷ

Một vùng như sương

Chùa cổ bên sông

Mưa mưa không cùng

Mưa mưa kỳ cựu

Những ngày nước dâng

Mưa êm nhập định

Từng mảnh rêu phong

Anh quên kinh kệ

Ra chảy với sông

Tìm em vạn ngả

Bạc áo nâu sồng

Kiệt trên đời cũ

Ơi em vô hình

Một đời bay vụt

Hỏi em bóng dáng

Sông nước chập chùng

Nước xô thiên địa

Chùa cổ bên sông.

 

(Chùa Cổ Bên Sông)

 

Theo tôi, đây là bài thơ xuất thần nhập thánh nhất trong Tinh Sương. Thi sĩ viết như nhập đồng, chảy trôi một mạch như khúc đồng dao, nhịp theo tiếng mõ thánh thót như những giọt sương trời, vang vang, lắng lắng. Chùa cổ, sông, là biểu tượng đầy ẩn dụ, động và tĩnh, xa và gần, mộng và thực, dìu dặt âm vang, quyện vào nhau trong tiết điệu lung linh, chập chùng, trùng điệp. Bài thơ có thể tụng với nhịp ngân nga trầm bổng, có thể hát lên một mình trong đêm thanh vắng. Tụng hay hát, nhả giọng khoan thai từng chữ, câu chuyện kể sẽ ánh lên một âm vang và sắc màu vừa thực vừa mộng. Tụng hay hát, sẽ bật lên tiếng ca xang bi mẫn giữa bóng đời dâu bể trầm luân. Em là ai? Là duyên nghiệp trùng trùng, là vết thương tâm bạc áo nâu sồng/kiệt trên đời cũ của kiếp người ảo hóa mong manh. Bài thơ thấm đẫm mùi Đạo mà ngan ngát hương Đời nên không có chỗ dừng. Càng tụng, càng hát, càng lung linh sắc màu Sông nước chập chùng/Nước xô thiên địa/Chùa cổ bên sông…

 

Tinh Sương còn có bài thơ 5 chữ, Quê Nhà, 148 câu, là bài thơ khá dài hơi, ý tứ hàm súc, nội lực thâm trầm. Tôi nghĩ, thi sĩ đã cảm ứng và phát tiết, khai mở và sáng tạo thêm mạch ngầm sâu thẳm mà 2 câu thơ của Huy Cận chưa nói hết: Một chiếc linh hồn nhỏ/Mang mang thiên cổ sầu. Phải chăng, đó cũng là thiện duyên đối với những tâm hồn đồng điệu. Đồng điệu, nhưng đường bay trong cõi văn chương, mỗi người mỗi ngả riêng tây. Quê nhà, một nơi chốn nào đó trên mặt đất đìu hiu, vòng quay sinh tử dập dìu, đến rồi đi, đi rồi đến, mong manh phận người bụi bặm, hẩm hiu trăng tàn nguyệt tận giọng nói lời chào, Mây bay từ thiên cổ/Cùng nhau trời đất tan/Ta một linh hồn nhỏ/Vơ vẩn miền Đại Hoang.

 

Khép lại Tinh Sương, bài thơ Quẩy Đá Qua Đồng, gồm 120 câu, là một tiểu trường ca độc đáo. Khổ đầu khai mở bằng 10 câu lục bát để vào chuyện. Tiếp theo, 102 câu phá thể theo kiểu một bài hành cổ phong. Cuối cùng, khép lại bằng 8 câu lục bát. Như một câu chuyện kể, một huyền thoại nơi một vùng địa linh nào đó (không biết có phải là nơi chôn nhau cắt rốn của thi sĩ, hư cấu thêm, muốn ký thác tâm sự chăng?) Trong bài thơ, đá là một vật linh, cất lên tiếng nói, tiếng ngâm ngợi, ca xang giữa thinh không. Giọng đá u trầm:

 

Soi cái hình ta, hề

Minh mông

Soi suốt thiên thu, hề

Thinh không

Trứng con thần ưng

Phơi trên non chóp

Ta nằm muôn năm

 Sao chưa thay lốt

Ta uống tinh sương hề bao nhiêu hớp

Thốt với bao la hề khuya hay trưa

Con thần ưng ơi con thần ưng

Con trăn tinh ơi con trăn tinh

Ngươi chơi cùng ta hề

Sao ta chưa bay lên cao hề

Trời xanh xưa hẹn ta hề

Trời xanh nay lừa ta hề

Đất trích chiêm bao

 Cho ta hát ngao hề

 

Đá tâm tình với thần ưng và trăn tinh. Đá hát cho thần ưng vỗ cánh. Đá múa cho trăn tinh phun ngọc. Rồi khi cao hứng, đá bèn:

 

Bày ra một cõi chưa từng có hề

Trời xanh ghen hề đất ghen hề

 

Thần ưng và trăn tinh đã bỏ đi. Đá tiếp tục độc thoại, tra vấn về bản thân, về mặt đất, trăng sao…Đá hát một mình, đá chơi một mình, đá nghe một mình, đá mộng một mình giữa bốn bề hư không lặng ngắt nhưng vẫn còn nặng lòng với nhân gian:

 

Trời xanh Nam Hải

Khói vi vu

Soi động hư vô

Mờ nhạt một bầu

Lặng ngắt mênh mông

Câu ca câu hát

Nghe ta xoay vòng

Thiên địa về đâu

 

Đá lắng tiếng ca, bài thơ khép lại:

 

Nằm nghe đá hát vô minh

Thơ thay con mắt ngó rình hóa công

Bóng ai quảy đá qua đồng

Sầu xưa uất nặng giữa lòng nhân gian.

 

Giọng nói, giọng hát u trầm của đá. Giọng của quỉ thi Lý Hạ đấy chăng? Tôi cũng chẳng biết nữa. Chỉ biết đây là một bài thơ kỳ dị, lạ lùng, ý thơ ảo diệu mùi vị Đạo học Đông phương huyền hoặc trong cái ý huyền chi hựu huyền. Thi sĩ ngơ ngác trước thềm sương của vũ trụ, rồi rùng mình hóa thân vào đá, đá hóa thân thành huyết lệ trùng trùng trong tiếng ca xang giữa bóng đời dâu bể. Bài thơ hóa thành mây trắng, bay đi về chốn tuyệt mù. Đọc bài thơ, nghe rờn rợn sống lưng, nghe óc tuôn trào nỗi nhớ không lời, không tên, không tuổi.

 

Tinh Sương, cũng là tinh huyết của thi sĩ.

 

Đại Mộng là tiếng ngân dài của Tinh Sương. Tiếp tục tra vấn, hồi tưởng bằng những ẩn dụ tượng trưng với những bài thất ngôn tứ tuyệt, lục bát bốn câu trầm tĩnh, đĩnh đạt hơn, sâu lắng hơn. Đặc biệt, một bài thơ khá dài, 58 câu, với 3 khổ điệp khúc dặt dìu trong một buổi Sáng Thinh Không:

 

Một con chó con, một vừng trăng sáng

Hai cõi trời im, một vùng biển cạn

Một con đường đèo sương đục lô nhô

Một chiếc hồn ma quẩn quanh vạn cổ

 

Một con chó con, một vừng trăng sáng

Hai cõi trời im, một vùng biển cạn

Một chiếc hồn đơn mấy bè mây nổi

Hai con ngựa trắng một chiếc xe tang

Một con chó con, một vừng trăng sáng

Hai con ngựa trắng, một chiếc xe tang

Đất lành gió phủ mây trong mát

Vạn cổ nghe chăng, dưới gót nàng.

 

(Sáng Thinh Không)

 

“Nàng,” biểu tượng cho cái Đẹp hiu hắt của trần gian? Hay bóng ma thiên cổ thoáng ẩn thoáng hiện , mệnh hệ của kiếp người hư ảo mù tăm? Vết thương tâm đầu đời, vận vào hồn cốt chữ nghĩa, thấm vào mệnh của thi sĩ?

 

…Sáng thinh không, sáng dưới chân nàng

Trong lòng vạn đại đã tan hoang

U minh rờn rợn lên vai tóc

Bóng tà vạn thuở đã bay ngang

Sáng thinh không, sáng lặng ngát hương

Êm ả trần gian chợ phố phường

Một bàn tay vẫy trên non tuyết

Một tiếng cười vang cả bốn phương…

 

(Sáng Thinh Không)

 

Tôi đọc và nghe khí lạnh toát ra trong từng con chữ! Bài thơ đã vượt lên cái sự hay bình thường. Bài thơ đã đạt đến cái đỉnh lặng và lạnh của khắp cõi nhân gian. Thi ca đã chết trong thời đại cơ khí gầm gào? Tôi cũng chẳng biết nữa! Nhưng khi được đọc những giòng thơ như trên, tận đáy lòng tôi đang dậy lên một niềm bi mẫn khôn cùng. Cái Đẹp sẽ cứu chuộc thế giới. Ai đã nói như thế? Tôi quên mất. Nhưng tôi tin, tin lắm, cho dẫu là niềm tin hình như không có thật giữa thời buổi nhiễu nhương nầy.

 

Ngả Tư Vầng Trăng và những bài thơ khác trong tuyển tập, hương Đời nhiều hơn, thấm đẫm hơn, nhưng chẳng hiểu vì sao, tôi ít xúc động hơn so với Tinh SươngĐại Mộng, nhất là Tinh Sương.

 

Ta bước lên đường kêu gọi mãi/Nhớ người bạn cũ thuở anh niên… (Xuân Diệu.) Ôi cái thuở anh niên đẹp ngất. Ôi cái thuở anh niên một lần rồi thôi, không có chốn quay về. Góc biển xưa, khung trời cũ hanh hao. Qui Nhơn, Qui Nhơn ngập tràn nắng gió, mộng mị của một thời.

 

Trước Sau Đều Của Riêng Mình. Câu thơ duy nhất, thi sĩ ghi ở trang đầu tập thơ tuyển. Trước Sau như Một. Riêng mình. Riêng cái mối Nhất Dĩ Quán của một đời thơ. Thi sĩ, kẻ thọ mệnh điêu linh, mỗi người mỗi kiểu, cô liêu cô độc ngút ngàn. Có còn chăng là tiếng đồng vọng của cố nhân bên trời lận đận. Những trận gió bay đi mịt mờ tuổi dại, nhưng vẫn còn đây những giọt nắng của buổi sơ đầu hạnh ngộ. Quỷ ma đưa mãi lời thiên cổ/ Hiu hắt nghìn thu lạnh khí đồng…Tôi chẳng bao giờ dám quên. Vô cùng biết ơn thi sĩ.

 

Calif., cuối đông 2011.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Mười Một 20186:31 SA(Xem: 249)
Tuyển tập “Thơ Trần Dạ Từ - 60 Năm” do Việt Báo Foundation Hoa Kỳ, xuất bản lần thứ nhất: Khổ lớn, bìa cứng, dầy trên 400 trang. Ấn phí 25 Mỹ Kim. Cần thêm chi tiết, xin gọi: (714) 894-2500.
05 Tháng Mười Một 20189:28 SA(Xem: 176)
trong chừng mực nào đó, tôi trộm nghĩ “Thi Tuyển Trần Hoàng Vy” có thể chịu được sự đọc lại.
22 Tháng Mười 201810:18 SA(Xem: 125)
Lang thang dạo facebook, tôi “gặp” “Quê Trong Phố” của nhà thơ Nguyễn Xuân Môn.
13 Tháng Mười 20189:11 SA(Xem: 373)
Khi cầm trên tay tập thơ "Sự tĩnh lặng của nước" của tác giả Trần Duy Trung,
24 Tháng Chín 201810:02 SA(Xem: 281)
Thơ Nguyễn An Bình không chỉ song hành với những đốm lửa đìu hiu phượng vĩ hay, nơi chốn, kỷ niệm… với phông nền tình yêu thao thiết, mà, còn nhiều, hơn thế nữa.
19 Tháng Chín 20189:25 SA(Xem: 271)
Phát Dương là một cây bút sinh năm 1995 tại Bạc Liêu - - Hiện đang theo học ngành Văn học tại trường Đại học Cần Thơ
29 Tháng Tám 201811:35 SA(Xem: 247)
Tìm mua trên Amazon.com Search Keywords: Hong dang tai amsterdam
21 Tháng Tám 20189:04 SA(Xem: 220)
Đọc chưa qua một "Đêm nguyệt bạch" tập truyện ngắn của Lê Trâm, sách đầy đặn hơn 220 trang in, gồm 16 truyện ngắn, do NXB Trẻ cấp phép
06 Tháng Tám 20189:12 SA(Xem: 227)
Muốn mua sách xin vào amazon.com gõ tên sách. Có thể liên lạc với tác giả: dpp653@yahoo.com
30 Tháng Bảy 20189:25 SA(Xem: 571)
Tiểu thuyết đã viết rất mực xuất sắc. Và cũng rất mực tuyệt vời đau đớn…
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 19581)
Ký sự văn nghệ dưới đây của nhà thơ Du Tử Lê, viết về thi sĩ Đinh Hùng, được trích từ tác phẩm “Năm Sắc Diện, Năm Định Mệnh” do nhà Tao Đàn Saigon, ấn hành tháng 6 năm 1965.
(Xem: 20348)
Nói đến những hoạt động của thi sĩ Đinh Hùng mà không nói tới ban Tao Đàn, theo tôi là một thiếu sót lớn.
(Xem: 19097)
Nếu tính từ năm Đinh Hùng in “Mê Hồn Ca” 1954, cho tới “Đường Vào Tình Sử” 1961 thì hai thi phẩm cách nhau gần 7 năm trời.
(Xem: 22206)
Năm 1954, thi sĩ Hồ Dzếnh, giám đốc nhà xuất bản “Tiếng Phương Đông,” sau đổi lại là “Bình Minh,” cho in thi phẩm “Mê Hồn Ca” của Đinh Hùng.
(Xem: 22172)
Thi sĩ Đinh Hùng sinh ngày 3-7-1920 tại làng Trung Phụng, ngoại ô thành Hà Nội. Ngôi làng này nằm ngay sau lưng khu phố Khâm Thiên.
(Xem: 360)
Tôi rất cảm phục cách Thi Sĩ đặt tựa đề cho bài thơ, “đêm, treo ngược tôi: dấu chấm than!”
(Xem: 5597)
Du Tử Lê nói ông chỉ muốn im lặng. Trong phần hỏi-đáp rất ngắn dưới đây, nhà thơ Du Tử Lê có giải thích về sự im lặng của ông, với nhiều ngụ ý.
(Xem: 827)
Đầu tháng 6-2018, tuyển thơ Khúc Thụy Du của nhà thơ Du Tử Lê ra mắt độc giả trong nước.
(Xem: 12143)
Đứng giữa gian hàng, trên một bục gỗ cao phủ khăn trắng nuốt, người thiếu nữ trông nổi bật hẳn lên với trang phục tuy rực rỡ sắc mầ
(Xem: 1639)
Theo thiển ý cá nhân tôi, thơ Du Tử Lê khá "hiền!"
(Xem: 524)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 600)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 20443)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 15244)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 12816)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 16077)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 14128)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 12578)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 10582)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 9769)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 9931)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 9105)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 8680)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 9991)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 15141)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 21582)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 27337)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 18817)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 19935)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 24140)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 21914)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 18300)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
1,998,038