Vũ Đức Tô Châu, thơ không biệt, lìa đời sống.

20 Tháng Sáu 20179:34 SA(Xem: 561)
Vũ Đức Tô Châu, thơ không biệt, lìa đời sống.


dutule.com (ngày 19 tháng 6 -2017): Một trong những tác giả không thường xuyên gửi thơ cho trang nhà dutule.com, là nhà thơ Vũ Đức Tô Châu.

Dõi theo hành trình chữ, nghĩa của họ Vũ, tôi thấy dường như mỗi một bài thơ gửi đi, là một nỗ lực làm mới - - Chí ít, cũng với chính những sáng tác của ông, trước đó.

Trong số rất ít, những bài thơ tôi có của Vũ Đức Tô Châu thì, trăng có vẻ chiếm giữ một tỷ lệ đáng kể. Thí dụ trong bài “Luân khúc cổ cầm”, mấy câu mở vào bài thơ dài, đã là:

“Đêm nguyệt vàng
Thu tàn trước ngõ
Trăng chờ ai mờ tỏ bên trời
Điệu cổ cầm thổn thức chơi vơi…”

Nhưng khi qua tới bài “Chờ Tình” viết theo thể lục bát, Vũ Đức Tô Châu lại cho trăng của ông cảm, nhập tính thiền:

“Ta còn say chén hoàng hôn
Vầng trăng đã tịnh trên cồn bãi xưa”

Và, đây, một vầng trăng khác nữa, cũng đi ra từ cõi-giới thi ca Vũ Đức Tô Châu, nhưng đó lại là “Trăng rơi đáy nước hồ không động” - - trong bài thơ nhan đề “Chớm Rụng” chỉ có 4 câu - - Vô tình (?) dung chấp cùng lúc 2 đặc tính liên-tưởng-nghịch và, liên-tưởng-xuôi:

“Trăng rơi đáy nước hồ không động
Trên bến lòng ta muôn sóng xô
Mắt đượm u hoài thu chớm rụng!
Sương khói gieo hồn rưng lá khô.”

Dường không chỉ với trăng, một hình ảnh quen thuộc tới nhàm chán, cạn kiệt “khí huyết” đã lâu, được họ Vũ cố gắng gắn cho nó một “hồn tính” khác mà, ngay cả với những hình ảnh cũng đã từng được thi ca tận tình khai thác là cây nến, cũng được ông cho nó tương quan lạ…Thay vì viết “lệ nến” hay “bấc nến”, “tim nến” thì Vũ Đức Tô Châu viết:

“Đêm mở ngỏ tàn canh vầy nến nát”
(Trích “Luân khúc cổ cầm”)

Tôi không nghĩ tôi hiểu rõ động từ “vầy” trong câu thơ “vầy nến nát” của họ Vũ. Nhưng hiển nhiên, đấy là một cụm từ ít thấy hoặc, chưa từng thấy trong thơ của chúng ta.

Tuy nhiên, dù họ Vũ có hý lộng chữ, nghĩa thi ca của ông qua những kênh, mạch lãng mạn như một đối-lực với thực cảnh xã hội hôm nay, thì, ông vẫn không che đậy, không sử dụng lượng ma-túy-tình-yêu-cao-độ để phủ dụ hoặc, để nguôi ngoai những vết thương thời sự lở loét tử sinh; trơ, bày nhục nhã. Tôi nhìn ra khía cạnh này trong thơ Vũ Đức Tô Châu qua những câu thơ như:

“... Mùa xuân ta ngắm biển
Núi sông buồn miên man
Biển ngoài kia bật khóc
Có ai sầu quan san…”
(Trích “Mùa Xuân Ta Ngắm Biển”)

Hoặc:

“… Bên hiên chiều xứ lạ
Trôi về đâu mây ơi?
Ta gửi hồn rưng lệ
Nhớ quê sầu chơi vơi!
Đôi khi nâng cốc rượu
Uống như thuyền ra khơi
Nghe sóng cuồng bão nổi
Thương cánh buồn… lẻ loi…”
(Trích Bên Hiên Chiều”)

Ở đây, tôi không nói tới câu thơ có thể nói là khá mới của Vũ Đức Tô Châu; câu “đôi khi nâng cốc rượu / uống như thuyền ra khơi” mà, tôi chỉ muốn nhấn mạnh, bi kịch tổ quốc đã được họ Vũ, ghi nhận bằng nỗi đau đớn và nhục nhã theo cách của ông. Ông không dùng những danh từ đao to, búa lớn. Ông cũng không ồn ào lên án, gào thét thê thiết trong thơ. Nhưng, theo tôi, chính tính chất lặn vào bên trong, lắng xuống những nỗi đau nhục giống nòi, tưởng như không thời sự mà, người đọc thấm thía, ngậm ngùi hơn!.!

Tôi không biết có phải bắt nguồn từ quan niệm thi ca tới một mức độ nào đó thì phải nhìn nhận (như họ Vũ), rằng: “Những tài hoa thi khách chạm tay đời”, trích từ bài thơ “Mộng đêm qua” của Vũ Đức Tô Châu:

“Ta thấy mình đi dạo
Bước quanh triền quỹ đạo Năm Châu
Gặp (Homer) và hội ngộ (Nguyễn Du)
Gặp (Du Tử…) phía bên trời ly xứ
Quần Tiên Tửu âm vang lừng thi tứ
Khói trầm hương thoảng ngát quyện đôi bờ
Bi tráng đời ai hát thành thơ
Dường bão tố! Biển muôn triều dậy sóng
Mấy nghìn năm (Sử Thi) đồng vọng
Tửu Đồ say trên chiếu rượu quên sầu!
Khóc ư?
Sông núi cũng đổi dời!
Cười ư?
Mơ (Odyssey) ngày trở lại
Ta mộng thấy một trời thơ rất lạ
Những tài hoa thi khách chạm tay đời.

“Nam việt 2017
“·Homer, Odyssey: Các vị Thần Hy Lạp cổ đại ở thế kỷ thứ X trước Công Nguyên.”
.
Tôi hiểu, tuy là một bộ môn văn chương quan yếu, nhưng thành kiến từ xưa, vẫn cho thi ca là một trò chơi trí tuệ phù phiếm. Vô bổ. Thậm chí còn được “định danh” là… “thơ thẩn”, là “khùng điên" nữa!.!

Nhưng Vũ Đức Tô Châu không nghĩ thế.

Cái nhìn về thi ca của họ Vũ, hoàn toàn ngược lại. Đó là khi “Những tài hoa thi khách chạm tay đời”…


Theo tôi, tùy trình độ, ý thức, vị trí… mà chúng ta có nhiều quan niệm đối nghịch nhau về sự có mặt của thi ca. Cùng lúc với sự xuất hiện của loài người, trước khi nhân loại có chữ viết thì chúng ta đã có thơ truyền khẩu… Sự kiện này cho thấy tính song hành giữa đời sống tinh thần của con người với thi ca.

Nên có thể không ít người đã lên án thơ Hồ Xuân Hương, là thơ của một người phụ nữ bị ẩn ức sinh lý… Nhưng ngược lại, thơ của bà lại được các nhà nghiên cứu văn học ghi nhận, đó là tiếng nói đòi hỏi sự bình đẳng nam / nữ sớm nhất trong lịch sử đấu tranh cho nữ quyền của Việt Nam. Nó không hề thuần túy là tiếng than trong đêm trường lạnh lẽo của một người đàn bà bị “bỏ quên” trong cuộc hôn nhân mà, người phụ nữ ấy, chỉ là một thứ vợ lẽ, “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung / Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng” (HXH)

Cũng thế, người ta có thể dễ dàng kết luận mấy bài thơ của T.T. Kh. chỉ là những bày tỏ thất vọng của một phụ nữ không được phép tham dự vào cuộc hôn nhân của mình, vì những ràng buộc khe khắt của xã hội thời phong kiến. (*) Nhưng cũng không thiếu những nhà phê bình văn học, nghiên cứu xã hội, lại cho rằng, thơ của nữ sĩ TTKh, cho thấy bà là nạn nhân của chế độ cưới gả theo tập quán “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”, vì “môn đăng hậu đối”, hứa hẹn trước đó của hai gia đình…. Và, thơ T.T.Kh. chính là tiếng nói (tình cảm nhưng mạnh mẽ) tố cáo tập tục này…
Tại sao những bài thơ của Hồ Xuân Hương, của T.T.Kh còn truyền tụng đến hôm nay, và sẽ mãi mãi?

Theo tôi, bởi vì giá trị tự thân của những bài thơ đó. Là những bài thơ của ““Những tài hoa thi khách chạm tay đời,” theo cách nói của Vũ Đức Tô Châu.


Du Tử Lê,
(Calif. June 2017)
_______
Chú thích:
(*) Vì hiện tượng T.T.Kh. gây chấn động lớn trong sinh hoạt VHNT, thời tiền chiến, nên đã có rất nhiều bài viết về hiện tượng này. Thậm chí, thời đó, có người còn nhận mình chính là người đàn ông trong mấy bài thơ của T.T.Kh. nữa.

Ở đây, chúng tôi chọn gửi tới bạn đọc, 2 tư liệu, tương đối chừng mực, khách quan, mặc dù cũng không chứng minh được tính xác thực của tư liệu. Đó là một bài của Phạm Thanh và, một bài của Hoài Thanh – Hoài Chân. Cả hai, đều có trên trang mạng Wikipedia-mở.

“Tác giả: Phạm Thanh

“T. T. Kh. là tên tắt của một nữ sĩ xuất hiện trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy xuất bản tại Hà Nội vào khoảng tháng 9 năm 1937, sau bài Hoa ti gôn chuyện ngắn của ký giả Thanh Châu.

“Nữ sĩ gởi đến cho nhà báo trên một bài thơ nhan đề là Bài thơ thứ nhất, kế một bài nữa là bài Hai sắc hoa ti gôn. Cả hai, đều ký bút hiệu là T. T. Kh.
“Lời thơ rất nhẹ nhàng, rất lâm ly cảm động, khiến có người đã không ngần ngại phê bình cho là những thi phẩm kiệt tác. Và cũng vì T. T. Kh. là ai, không có nhà thơ văn nào biết được, nên có người đã tự nhận là người yêu của mình, nhất là tác giả chuyện ngắn Hoa ti gôn.

“Thế rồi, từ đó trở đi, người ta không còn được đọc bài nào của T. T. Kh. Nữ sĩ chỉ có hai bài đã đăng trên báo, nhưng hai bài ấy cũng như tên tác giả, mỗi lần nhắc đến không mấy ai không biết.

“Nhưng thật T. T. Kh. chẳng phải là người yêu của ông nào trong Tiểu thuyết thứ bảy. Nữ sĩ chính là Trần Thị Khánh, một nữ sinh nhà ở phố Sinh Từ, Hà Nội, có tâm hồn thơ lắm. Nữ sĩ có yêu một thanh niên, hai người đã cùng đi lại, hứa sẽ thành hôn, nhưng nửa chừng vì sự ép buộc của gia đình, nữ sĩ đành phải hát khúc chia ly, về làm vợ một người khác tên Nghiêm, làm công cho một hãng buôn nọ.
“Nữ sĩ không phải chỉ có hai bài ấy thôi mà còn hai bài nữa là Bài thơ đan áo và Bài thơ cuối cùng, với một bài của người yêu trả lời chưa hề công bố mà tôi sẽ trích dưới đây.

“Một điều nữa, chúng ta cũng nên biết là sau khi đem hết tâm hồn và nước mắt trút cả vào mấy bài ấy để khóc mối tình ngang trái kia, T. T. Kh. không còn trở lại thi đàn nữa, và nay cũng như người đã thuộc về dĩ vãng.”
(Trích Thi nhân Việt Nam hiện đại - Quyển Thượng của Phạm Thanh)

Giả thuyết về T.T.Kh. (Thi nhân Việt Nam)

Tác giả: Hoài Thanh, Hoài Chân

“Hồi septembre 1937, Tiểu thuyết thứ bảy đăng một chuyện ngắn của ông Thanh Châu: Hoa ti gôn. Ít ngày sau tòa báo nhận được một bài thơ nhan đề Bài thơ thứ nhất, rồi lại nhận được bài nữa: Hai sắc hoa ti gôn. Hai bài đều ký T. T. Kh. và đều một nét chữ run run. Từ đấy tòa soạn Tiểu thuyết thứ bảy không nhận được bài nào nữa và cũng không biết T. T. Kh. ở đâu.

“Nhưng sau khi hai bài thơ kia đăng rồi, xóm nhà văn bỗng xôn xao. Có đến mấy người nhất quyết T. T. Kh. chính là người yêu của mình. Và người ta đã phê bình rất náo nhiệt. Có kẻ không ngần ngại cho hai bài ấy là những áng thơ kiệt tác.

“Nói thế đã đành quá lời, nhưng trong hai bài ấy cũng có những câu thơ xứng với vẻ lâm ly của câu chuyện. Cô bé T. T. Kh. yêu. Người yêu của cô có nét mặt rầu rầu và có lẽ đã đọc nhiều văn Từ Trẩm Á. Cô kể: những buổi chiều thu, đứng dưới dàn hoa ti gôn,

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài trong lúc thấy tôi vui;
Bảo rằng: "Hoa giống như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!"


“Cô bé ngây thơ không tin. Ai ngờ lời nói văn hoa kia bỗng thành sự thực. Chàng đi...

Ở lại vườn Thanh có một mình,
Tôi yêu gió lạnh lúc tàn canh,
Yêu trăng lạnh lẽo rơi trên áo,
Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành.

Và một ngày kia tôi phải yêu
Cả chồng tôi nữa, lúc đi theo
Những tà áo đỏ sang nhà khác!
- Gió hỡi, làm sao lạnh rất nhiều?”

“Ngày ấy buồn nhất trong đời nàng:
“Người xa xăm quá - Tôi buồn lắm
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường.”


“Từ đó mùa thu qua, rồi mùa thu qua, nàng vẫn luôn luôn tưởng nhớ, nhưng tin buồn chàng nào có hay; cho nên nàng tự hỏi:

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
Trời ơi! người ấy có buồn không?

“Một nỗi đau đớn trần truồng, không ẩn sau liễu Chương Đài như nỗi đau đớn của nàng Kiều ngày trước.
“Cho đến hôm nay, xem chuyện, tình cờ lại thấy cánh hoa xưa. Nàng không sao cầm lòng được:

Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Nhỏ xuống thành thơ, khóc chút duyên!


"Bốn năm đã qua từ ngày tờ báo vô tình hé mở cho ta một cõi lòng. Ai biết 'con người vườn Thanh' bây giờ ra thế nào? Liệu rồi đây người có thể lẳng lặng ôm nỗi buồn riêng cho đến khi về chín suối?

Novembre 1941
(Trích Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tư 201810:06 SA(Xem: 258)
Đinh Quang Anh Thái từ thuở nhỏ đã có máu giang hồ và tính dân thân.
24 Tháng Ba 201810:00 SA(Xem: 185)
Nhà thơ trẻ Nguyễn Văn Lương, bút danh Văn Nguyên Lương, người con của quê hương xứ Quảng vừa ra mắt bạn đọc tập thơ đầu tay “sóng chữ sông quê”
14 Tháng Hai 201811:19 SA(Xem: 851)
Cần liên lạc với Nguyễn Kế Khuyến, xin qua địa chỉ Email:nguyenkekhuyen@gmail.com
03 Tháng Hai 201810:15 SA(Xem: 369)
Cầm trên tay tập Thơ ngắn Đỗ Nghê, tôi chợt nghĩ đến tên gọi của tiểu thuyết. Bởi vì tác giả Đỗ Hồng Ngọc đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là Thơ ngắn. Thế nào là ngắn?
27 Tháng Giêng 20189:27 SA(Xem: 317)
Lê Thanh Phách sinh năm 1964. Lúc nhỏ, quê hương bị chiến tranh tàn phá, phải tản cư sống cách quê gần 20 cây số, theo học tại trường Cây Da ở Điện An.
24 Tháng Giêng 20189:19 SA(Xem: 322)
Cuộc phỏng vấn từ xa, với 2 người đàn bà thơ xa lạ, tôi chưa hề gặp, chưa hề trò chuyện ở ngoài đời thực mà bằng online.
22 Tháng Giêng 20189:22 SA(Xem: 213)
Nhà thơ Trúc Thanh Tâm tên thật là Dư Thanh Tâm sinh ngày 21.08.1949 tại Long Mỹ, Cần Thơ (quê gốc ở Cái Nước, Cà Mau), mất ngày 15.01.2018 tại Châu Đốc, An Giang.
03 Tháng Giêng 20189:18 SA(Xem: 380)
Nhà thơ thường là những kẻ khuyết tật về mặt tinh thần và thể xác, hoặc là những người bên lề của cuộc sống thường nhật.
29 Tháng Mười Hai 201711:02 SA(Xem: 257)
Sau một thời gian dài thai nghén, tác giả trẻ Trương Thị Bách Mỵ, người con của miền đất thi ca Đại Lộc (Quảng Nam) xuất bản tác phẩm mới “đêm chảy dài trên tóc” (NXB Hội nhà văn 2017).
27 Tháng Mười Hai 20179:35 SA(Xem: 659)
Song Tử thơ của Như Quỳnh de Prelle là một tập thơ khá lạ.
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 69)
Gấp lại tập “Ký” dầy 200 trang của họ Đinh, tôi cũng thấy tôi muốn ngỏ lời cảm ơn tác giả.
(Xem: 174)
Tôi nghĩ, thật hạnh phúc cho những độc giả của Đinh Quang Anh Thái qua tác phẩm “Ký”,
(Xem: 244)
Khi biến cố 30 tháng 4 -1975 xẩy ra, DHC không di tản vì thời gian này, vợ ông, bà Vương Thị Oanh, cựu nữ sinh Trưng Vương, mang thai đứa con thứ 6
(Xem: 255)
Được hỏi tại sao không trốn luôn? Trở lại trại giam làm gì? Thì tác giả “Lính Thành Phố” cho biết, ông sợ liên lụy cho vợ con.
(Xem: 269)
Người thân cận nhất với tác giả “Buồn Vui Phi Trường” ở giai đoạn này là nhà văn Trần Ngọc Tự, Thư Ký tòa soạn cuối cùng của nguyệt san Lý Tưởng,
(Xem: 11597)
Đứng giữa gian hàng, trên một bục gỗ cao phủ khăn trắng nuốt, người thiếu nữ trông nổi bật hẳn lên với trang phục tuy rực rỡ sắc mầ
(Xem: 796)
Theo thiển ý cá nhân tôi, thơ Du Tử Lê khá "hiền!"
(Xem: 5644)
“Ngay sau khi gặp ông, tôi đã bước sang “chặng đường ngỡ ngàng.” Không ngỡ ngàng sao được khi mà đứng bên ông
(Xem: 1162)
DU TỬ LÊ cũng là một nhân vật đặc biệt. Nhỏ hơn họ Trịnh vài tuổi. Gốc gác Phủ Lý, Hà Nam. Sống ở Hà Nội, trước khi theo gia đình di cư vào Nam.
(Xem: 9736)
nhà văn, nhà thơ Du Tử Lê là một trong những thi sỹ có khá nhiều bài thơ được phổ nhạc kể từ những năm trước 1975 đến nay
(Xem: 142)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 19899)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 14782)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 12271)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 15393)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 13575)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 12073)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 10112)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 9412)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 9472)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 8747)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 8383)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 9472)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 14740)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 20992)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 26869)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 18331)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 19477)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 23760)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 21421)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 17844)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
1,790,252