TRẦN QUANG THÀNH - Tuân Nguyễn. Thân phận một nhà thơ tài hoa, lận đận, đắng cay

13 Tháng Năm 20229:12 SA(Xem: 420)
TRẦN QUANG THÀNH - Tuân Nguyễn. Thân phận một nhà thơ tài hoa, lận đận, đắng cay
Tuân Nguyễn tên thật là Nguyễn Tuân sinh tháng 9 năm 1933 ở xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Lúc trưởng thành thấy tên mình trùng với nhà văn Nguyễn Tuân, tác giả của Vang bóng một thời, nên anh đảo ngược tên mình là Tuân Nguyễn. Theo một người bạn vong niên là nhà thơ Hà Nhật thì quê gốc của Tuân Nguyễn là ở Quảng Bình.

Chợt nhớ ông Tuân Nguyễn
Anh theo học trường dòng Pellerin ở Huế, tốt nghiệp Tú tài 2 toán, thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh, lại biết cả chữ Hán, có năng khiếu văn chương, nhưng Tuân Nguyễn lại là người mông mơ, lãng mạn, và vào cái tuổi 16 năm Kỷ Sửu 1949, trong lúc đất nước có loạn ly Tuân Nguyễn thoát ly gia đình tham gia Đoàn học sinh kháng chiến Huế, đến năm 1950 thì vào chiến khu tham gia Vệ quốc đoàn. Sức khoẻ yếu, cận thị nặng, thế mà Tuân Nguyễn đã vượt qua tất cả. Hoà bình lập lại Tuân Nguyễn là sinh viên khoa Văn khoá I, Đại học sư phạm Hà Nội. Năm 1957 ra trường làm giáo viên trường phồ thông cấp 3 học sinh miền Nam tại Hà Đông. Tôi là bạn đồng nghiệp với Tuân Nguyễn khi anh về công tác ỏ Đài Tiếng nói Việt Nam năm 1960. Tôi là phóng viên thời sự ở phòng Tuyên truyền trong nước, còn Tuân Nguyễn là biên tập viên chương trình Tiếng thơ phòng Văn nghệ.

Thế hệ độc giả Việt Nam tuổi 60 trở xuống ít người biết Tuân Nguyễn, vì thời trẻ anh chỉ có ít thơ đăng trên báo, phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, chưa có tác phẩm nào được xuất bản Bước vào tuổi 31, buổi chiều ngày 21 tháng 10 năm 1964, nhà báo, nhà thơ Tuân Nguyễn - một trí thức Huế - bị bắt tại Đài Tiếng nói Việt Nam, vì cuốn nhật ký của anh cất trong ngăn kéo bị Phan Trác Hiệu, một đồng nghiệp cùng phòng lấy trộm và báo cho tổ chức… Cả khu vực 58 Quán Sư – Hà Nội (trụ sở Đài Tiếng nói Việt Nam) chiều hôm áy xôn xao, bàn tán, ngỡ ngàng về trường hợp Tuân Nguyễn bị bắt giam.

Suốt 9 năm 7 tháng, Tuân Nguyễn bị lao tù không án, không tội danh ở trại giam Thanh Cầm vùng rừng sâu nước độc Thanh Hóa - Nghệ An Năm 1973, anh thoát khỏi cảnh ngục tù, sống lang thang ở Hà Nội một thời gian. Đến cuối năm 1975, anh vào Sài Gòn cùng vợ là nhà thơ Phương Thuý – con gái Hoài Chân (là đồng tác giả “THI NHÂN VIỆT NAM” với Hoài Thanh).

Giới trí thức Hà Nội những năm 60 của thế kỷ trước nhiều người biết “vụ” Tuân Nguyễn. Vì Tuân Nguyễn là nhà báo, nhà thơ thân thiết với làng văn nghệ, nên việc anh bị bắt làm rúng động giới trí thức lúc bấy giờ. Nhà thơ Phùng Quán người đồng hương, đồng đội, đồng nghiệp tri âm, tri kỷ có nhiều bài viết về Tuân Nguyễn. Trong đó có bài “Người bạn lính cùng tiểu đội” Bài viết đã phác thảo chân dung Tuân Nguyễn, một trí thức nhân hậu, trung thực, một tâm hồn thật đẹp, một nhân cách tuyệt vời. Sống gần 10 năm ngục tù không tội danh, không bản án, xơ xác thân mình vẫn đam mê văn chương thơ phú.

Những năm ở Đài Tiếng nói Việt Nam là những năm Tuân Nguyễn đọc rất nhiều sách và say sưa với thơ, viết cả trường ca, viết nhiều phóng sự về nông thôn, viết được hai chương gần 100 trang tiểu thuyết Người Mơ Mộng. Anh đọc sách trực tiếp bằng tiếng Pháp, tiếng Anh. Thời gian này anh cũng  đi rất nhiều nơi như đảo Cô Tô, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, sang Vân Nam (Trung Quốc), vào tận Vĩnh Linh, Quảng Bình... Đi nhiều, có đầu óc quan sát, suy nghĩ nên anh biết rõ cuộc sống thực của người dân và những sai lầm khuyết điểm trong xây dựng kinh tế và quản lý xã hội ở miền Bắc. Ở Hà Nội, anh chơi thân với nhiều bạn văn thơ như Băng Sơn, Nguyễn Xuân Thâm, Tạ Vũ, Nguyễn Thị Điều, Vân Long, Hà Nhật, Hoàng Tố Nguyên… Anh làm thơ nhớ Huế, nhớ miền Nam, “Nghe quan họ nhớ mái nhì.”
 
“Tôi viết bài thơ gửi Huế yêu
 Giữa trưa Hà Nội nắng vui reo…”,
 
“Tôi thường đợi vần thơ như đợi người yêu dấu /
 Lúc đi chơi không muốn đóng cửa phòng”      
                              (Bài thơ “Không đề 1”)
 
 “Khi tình yêu đi qua/ Một mảnh buồn ở lại
                               (Bài thơ“Không đề 2”)
 
… Anh có nhiều câu thơ găm vào trí nhớ bạn bè: như:
 
“Người ta lấy của anh nhiều thứ/
 Chỉ còn hai tay và cái mắt hay cười”

Và:

 “Phật nào lấp được bể trầm luân...”

 Bạn bè anh hay nhắc bài thơ “Nghe nhạc Johann Strauss” viết trong một đêm cùng bạn thơ đi chơi Hà Nội rồi về nhà Băng Sơn uống rượu:
 
Sông Hồng bỗng xanh màu Đa Nuýp
Nhạc bồng bềnh trôi tới các vì sao
Trời lung linh khẽ chao mình theo nhịp
Những con người nước lại phải lòng nhau/

Nghe bản nhạc “Sông Đa Nuýp xanh” của nhạc sĩ Áo vẳng lên trong đêm Hà Nội mà lẩy ra được ý thơ “Sông Hồng bỗng xanh màu Đa Nuýp” là rất nhạy cảm. Câu thơ “Những con người nước lạ phải lòng nhau” chứng tỏ một tấm lòng rộng mở, một tình cảm nhân loại bao la. Những năm ấy thơ Tuân Nguyễn được đăng nhiều ở báo Văn nghệ, báo Thống nhất, phát trong buổi “Tiếng thơ” Đài Tiếng nói Việt Nam. Anh được coi là một cây bút thơ chỉnh chu, lão luyện. Nhưng như trong bài thơ “Không đề I” anh viết năm 1963:
 
“Có những người
 Nếu thêm được mười năm
 Sẽ trở thành thi sĩ
 Nhưng cuộc sống không mỉm cười đến thế
 Đã chết sớm mười năm
 Để lại những tuần trăng chưa đến độ rằm”…
 
Nhữmg câu thơ như đã vận vào số phận của anh.
 
Tuân Nguyễn có một bài viết rất sâu nói về một công trường thuỷ lợi tại nông trường quốc doanh Rạng Đông, ở tỉnh Nam Định, tố cáo bọn có chức có quyền trong các phòng ban thông đồng với ban chỉ huy công trường nghiệm thu khống khối lượng đào đắp để ăn chặn công quỹ, chia nhau. “Bài viết bị trưởng phòng cho là ‘không có lập trường’, nói xấu cán bộ thuỷ lợi, bôi nhọ chế độ xã hội chủ nghĩa.” Thế là tên Tuân Nguyễn đã nằm trong “sổ đen” rồi. Trong bài “Một kỷ niệm buồn,” nhà văn Đoàn Minh Tuấn kể: “Những sinh hoạt hàng ngày trong gian khó, Tuân Nguyễn đều ghi vào nhật ký, kể cả lên giá một cốc siro một hào thành một hào mốt, cùng với những suy nghĩ về thời cuộc. Tuân Nguyễn bị Hiệu, người cùng Phòng Văn nghệ, lấy được cuốn nhật ký và nộp cho tổ chức. Tổ chức đọc và suy diễn cho rằng nói xấu chế độ, tư tưởng lệch lạc…” Về cuốn nhật ký của Tuân Nguyễn, nhà báo Xuân Đài kể rằng, Tuân Nguyễn đã báo cho bạn bè biết ai đó đã mở ngăn kéo bàn viết của anh, dù đã khoá rất kỹ, lấy mất cuốn nhật ký và một chỉ vàng. Tuân Nguyễn bảo nhật ký của mình ghi cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp, những chuyện riêng tư và một số nhận định của mình về thời cuộc của đất nước và thơ. Thằng đê tiện đã đánh lạc hướng bằng cách ăn cắp thêm chỉ vàng để Tuân Nguyễn nghĩ là kẻ gian lấy trộm. Người biết sự thật là hai nhà văn Phạm Tường Hạnh và Mai Văn Tạo, hai anh đều là đảng viên, đều làm việc ở Đài Tiếng Nói Việt Nam thời ấy cho biết, người nộp quyển nhật ký của Tuân Nguyễn cho chi bộ phòng Văn nghệ chuyển lên lãnh đạo là Hiệu, cùng phòng với Tuân Nguyễn. Trong cuốn nhật ký ấy còn có bài thơ rất cảm động nhưng “gay cấn”, là bài “Khóc thầy”. Thầy đây là ông Dương Bạch Mai, người bị quy tội  tham gia nhóm xét lại chống Đảng:
 
            
“Một tiếng nói chúng tôi chờ đã mất
Tiếng nói của lương tâm
Đau đớn này đau đớn nào hơn
Chân lý không muốn nằm dưới đất
Chúng tôi sống bây giờ
Mỗi trái tim đều có phần im lặng
Mỗi niềm tin đều mất chút ngây thơ…”
 
Và đây là hai câu kết:
 
Chúng con đi sau linh cữu của thày
Nhưng không phải đưa thày ra nghĩa địa.
 
Tuân Nguyễn mê truyện ngắn Paustovski, anh nhận xét ông ta viết truyện ngắn tuyệt hay, ông ta là một cây bút bậc thầy. Tuy nhiên, điều anh mê nhất nơi nhà văn này chính là lòng tốt của con người. Trong tác phẩm của ông chỉ có cái đẹp, những tình cảm đẹp và những con người tuyệt đẹp, những con người chỉ chắt chiu đi thu nhặt những hạt bụi vàng trong cuộc đời để đúc nên những bông hồng vàng đem dâng tặng người đời, từ văn hào Andersen của nhân loại, đến anh phu quét rác đêm trên đường phố Paris… Tuân Nguyễn yêu những mối tình hư ảo của Paustovski, bởi “chỉ trong tưởng tượng tình yêu mãi mãi là thơ, là mộng"

Có một lần Tuân Nguyễn chợt thốt lên thèm viết một cuốn sách mà anh từng ấp ủ. Mọi người hỏi anh bao giờ thì viết? Anh khiêm nhường trả lời: mình sẽ viết! Thế rồi anh nhỏ nhẹ đọc  bài thơ “Cánh cò”
                                    
Cánh cò cánh cò bay                                     
Trắng mờ ven rặng núi                                     
Sông Mã nặng nề trôi                                     
Em bay sao mà vội.
                                   
 Em bay về phía đó                                     
Sông chảy ngoặt nẻo này                                     
Riêng anh buồn đứng ngó                                     
Phủi bụi trên bàn tay.
                                    
Em bay em cứ bay                                     
In trên nền trời biếc                                     
Khi thoáng khi chìm ngay                                     
Như một điều tưởng tiếc.                                   

Giữa buổi chiều gợi nhớ                                    
Bóng lèn trùm hai vai                                    
Tên em thành quá khứ                                    
Cánh em thành tương lai.                                   

Em bay triền núi xa                                    
Sông xuôi đường thành phố                                    
Ôi niềm vui thỏang qua                                    
Đậm thêm ngày gian khổ                                   

Em bay em chẳng đỗ                                    
Như vỗ cánh lòng anh                                    
Đường ổ gà lỗ chỗ                                     
Điệp bài ca viễn hành.

Bài thơ “Cánh cò” này, Tuân Nguyễn viết lâu rồi. Đó là những ngày khốn khó nhất của cuộc đời anh ở nơi ngục tù đen tối. Trong hoàn cảnh buồn bã và thiếu giấy bút, hầu như anh phải viết bằng trí nhớ.

Hết làm thể thơ năm chữ, anh lại thể hiện tứ thơ ấy theo thể thơ Đường luật bảy chữ.
                                
Cánh cò bay lả ngược miền Tây                                
Đơn độc như ai lạc đàn bầy                               
Khi rõ khi mờ bờ vực đá                               
Lúc chìm lúc nổi cuối ngàn cây
                              
Có tìm hạnh phúc chân trời ấy                               
Hãy giã đau thương thung lũng này                               
Cơ khổ thân em còn lận đận                               
Giữa trời mưa nắng trắng đường bay.

Tôi không bàn luận bài nào hay hơn bài nào. Tôi muốn nói bài thơ nào cũng phản ánh đúng tâm trạng con người Tuân Nguyễn. Bồi hồi nhớ tới Tuân Nguyễn, tôi nhơ tới những kỷ niệm đẹp về anh tuy thời gian gắn bó với nhau rất ngắn ngủi chỉ có 4 năm ở Đài Tiếng nói Việt Nam - Tuân Nguyễn. Thân phận một nhà thơ tài hoa, lận đận, đắng cay. (Nguồn: Vietinfo)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20229:10 SA(Xem: 143)
Có lẽ giờ đây, bà đã gặp ông, tiếp tục cùng ông viết nốt đoạn cuối bài thơ “Ta Về.”
06 Tháng Tám 20229:44 SA(Xem: 195)
Quỳnh Giao, ngoài cung cách đẹp, cách sống đẹp, cư xử đẹp, cô còn là một ca sĩ đầy trí tuệ,
20 Tháng Bảy 20229:26 SA(Xem: 210)
Em không thể nghĩ ra cả năm nay chúng ta không gọi nhau, không nghe thấy tiếng nhau, không gửi tin nhắn cho nhau.
18 Tháng Sáu 20223:46 CH(Xem: 360)
Lần đầu tiên tôi đọc “Bài thơ của một người yêu nước mình” là khoảng cuối năm 1968, trên tờ Tạp chí Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam.
07 Tháng Sáu 20225:37 CH(Xem: 446)
Từ giã nhạc sĩ Cung Tiến, là một lần nghiêng mình trước một con nguời tài hoa, trầm lặng;
19 Tháng Năm 20224:06 CH(Xem: 503)
Quá nửa khuya, rạng sáng ngày 7/5/2020, cái tin nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển từ trần lan truyền nhanh trên mạng. Ai nấy đều bàng hoàng: bầu trời âm nhạc VN đã vừa vụt tắt một ngôi sao – Sao Biển!
23 Tháng Tư 20223:42 CH(Xem: 1722)
Chúng ta nói về ông lúc này là để nói với chính chúng ta, về sự dấn thân, về lương tâm và lòng quả cảm của một người cầm bút.
26 Tháng Ba 20223:52 CH(Xem: 630)
Giờ đây, anh đã vĩnh viễn ra đi theo một cách khác, đồng thời cũng là một cách ở lại như một nhà văn tự do, anh đã viết cho mình một kết thúc đẹp.
26 Tháng Hai 202212:50 CH(Xem: 666)
“Ga Cuối Đường Tàu” của Chú Huy Phương, chưa hẳn đã là ga cuối. Cái ga cuối vẫn mãi là nỗi khắc khoải bến Quê Nhà!
05 Tháng Giêng 20223:53 CH(Xem: 1418)
Nghiêu Đề, Ngọc Dũng, và rồi Đinh Cường. Những con Cá Vàng như lời ví von của một năm nào, rất cũ. Lần lượt đã theo dòng nước trôi, rồi biến mất tăm, và sẽ quên lãng hết, ngay cả trong lòng người.
Du Tử Lê Thơ Toàn Tập/ Trọn bộ 4 tập, trên 2000 trang
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-360-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 15102)
Năm 2007, nhờ công lao và sự hy sinh trời biển (theo tôi,) của nhà văn và, cũng là nhà thơ Trần Hoài Thư
(Xem: 14053)
Có thể nhiều người quên rằng trước khi trở thành họa sĩ nổi tiếng, có tranh được trưng bày tại nhiều bảo tàng viện quốc tế, họ Lê vốn là một nhà thơ.
(Xem: 12218)
Trong lịch sử tân nhạc Việt, dường như không có một nhạc sĩ nào nổi tiếng ngay với sáng tác đầu tay, ở tuổi niên thiếu, khi chỉ mới 14, 15 tuổi, như trường hợp Cung Tiến
(Xem: 30850)
Bài thơ đầu tiên (?) của Tô Thùy Yên được giới thiệu trên Sáng Tạo, gây tiếng vang lớn và, dư âm của nó, kéo dài nhiều năm sau, là “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu” viết tháng 4 năm 1956.
(Xem: 408)
Nhưng tôi vẫn yêu (yêu lắm,) việc làm của bạn. Bởi vì, với tôi, tự thân đời sống bạn tôi, đã là một trường khúc
(Xem: 134)
Ra hải ngoại ngay từ 1975, cho đến nay ông là tay bút cựu trào hiếm hoi vẫn còn viết, viết hay cho đến ngày tháng chót.
(Xem: 180)
Tôi cười. Đúng là dutule! Rõ ràng nhà thơ đã tự “chẩn đoán” ra cái bệnh của thơ mình.
(Xem: 14041)
Tôi là người lúc nào cũng ao ước rằng cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại của chúng ta mỗi ngày một trù phú trên mọi phương diện,
(Xem: 7414)
Đầu mùa Dã quỳ nở năm nay, Du Tử Lê lặng lẽ trở lại Pleiku, miền đất mà ông đã gửi gắm một thời thanh niên của mình ở đấy.
(Xem: 4900)
Nói như Orchid Lâm Quỳnh, không có cái gọi là “better place” cho bố, vì bố đã rất ấm áp, bình an trong ngôi nhà đó. Thiên đàng ở đâu thì kệ nó chớ!
(Xem: 14912)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 4354)
Nhưng, khi em về nhà ngày hôm nay, thì bố của em, đã không còn.
(Xem: 4713)
Thơ Du Tử Lê, nhạc: Trần Duy Đức
(Xem: 5261)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 5284)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 25604)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 19658)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 17181)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 20681)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 18439)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 17191)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 14657)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 13836)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 13960)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 12835)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 12456)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 19580)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 26811)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 31541)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 22920)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 24929)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 27740)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 27259)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 22903)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
839,467